Chúa nhật 10 Thường Niên A

Lời Chúa: Hs. 6, 3-6; Rm. 4, 18-25; Mt. 9, 9-13

MỤC LỤC

 

1. Những ứng viên

2. Lui tới những người không thể giao du?

3. Mầu nhiệm ơn gọi

4. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

5. Suy niệm của Noel Quesson

6. Mảnh tim vàng

7. Tình thương

8. Yêu thương kẻ tội lỗi

9. Đổi mới

10. Nhân nghĩa

11. Kêu gọi

12. Người bạn

13. Ơn gọi

14. Ta muốn

15. Tình thương đền đáp tình thương

16. Kêu gọi người có tội

 

1. Những ứng viên

Douglas Hyde là chủ bút tờ nhật báo Công nhân Cộng sản tại Anh, sau khi gặp được Đức Kitô, đã trở nên một tông đồ của Công giáo.

Piri Thomas là tay buôn lậu ma túy, trộm cắp và giết người, nhưng sau khi gặp được Đức Kitô, đã trở nên một tông đồ của Công giáo.

Jonh Newton là một tên trùm buôn nô lệ, sau khi gặp được Đức Kitô đã sáng tác những ca khúc tuyệt vời để chúc tụng tình thương của Chúa.

Rồi Phaolô, một thời đã lùng sục bắt bớ các tín hữu, nhưng sau khi gặp Chúa trên đường Damas đã trở thành vị tông đồ dân ngoại.

Bốn người trên đây đều là những ứng viên không ngờ được Chúa kêu gọi để nắm giữ một vai trò quan trọng trong việc mở rộng nước Chúa.

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, còn đưa ra một mẫu người khác đó là Matthêu, nhân viên thu thuế. Để hiểu được tại sao một nhân viên thu thuế lại là một ứng viên không ngờ đối với sứ mạng tông đồ, chúng ta cần hiểu biết đôi điều về loại người này.

Trước hết, họ là người Do Thái làm việc với đế quốc Rôma. Họ thường phải đút lót để mua lấy chức vụ này. Vì thế, một khi đã có được chức vụ, họ liền tìm cách kiếm chác lợi lộc để bù lại. Bởi đó, họ thường bóc lột đồng bào mình. Nối giáo cho giặc để làm nghèo đất nước. Những người lương thiện trọng nghề này thực là hiếm hoi.

Hơn thế nữa, dân Do Thái càng khinh bỉ họ bởi vì dân Do Thái tin rằng chỉ mình Thiên Chúa mới là vua. Nộp thuế cho hoàng đế Rôma, phải chăng là trao cho ông ta quyền hành, đúng ra chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa. Vì thế chúng ta hiểu được tại sao những kẻ thu thuế lại bị khai trừ khỏi hội đường, bị đồng hóa với phường tội lỗi và trộm cướp. Từ đó chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu đã kêu gọi Matthêu, một kẻ thu thuế, trở thành người cộng tác thân mật với Ngài.

Vậy ơn gọi của Matthêu tác động trên chúng ta như thế nào?

Trước hết nó cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã không luôn luôn chọn những người tốt nhất, giỏi nhất và xứng đáng nhất để cộng tác với Ngài. Trái lại, Người thường chọn những người xem ra khó có thể tưởng tượng nổi, ít nữa là dưới mắt chúng ta.

Tiếp đến, nó còn cho chúng ta hay Chúa Giêsu có thể nhìn vượt khỏi hiện trạng chúng ta để thấy được điều chúng ta có thể trở thành. Người không chú trọng đến quá khứ cho bằng đến tương lai của chúng ta. Người không chú trọng đến khả năng chúng ta đang làm được những gì, mà là khả năng chúng ta sẽ làm được những gì. Người không chú trọng đến tài năng của chúng ta cho bằng sự sẵn sàng của chúng ta.

Cuối cùng, nó còn cho chúng ta biết mỗi người chúng ta, không trừ một ai, cũng đều là những ứng viên được Chúa kêu gọi làm việc với Người trên cánh đồng truyền giáo. Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Người hay không?

 


 

2. Lui tới những người không thể giao du?

- Bạn đã thấy Thầy của bạn ngồi cùng bàn với ai chưa? Thật là gương mù gương xấu! Còn bạn, môn đệ của Ngài, bạn nghĩ gì về điều đó?

Bạn bối rối về điều gì? Nếu tôi từ chối lui tới với những người không thể giao du được, tôi có bình thường hay không?

Chúa Giêsu vừa mới gọi Matthêu, một trong những người thu thuế thường bị khinh bỉ và đối xử như là những kẻ tộâi lỗi công khai: họ hợp tác với những người Roma chiếm đóng (những kẻ ngoại đạo!) và nghề nghiệp làm cho họ cứng rắn và không phải lúc nào cũng liêm khiết. Và đây Chúa Giêsu không chỉ chọn một trong số những người đó làm môn đệ mà còn chấp nhận ăn cơm tại nhà ông cùng với những kẻ cùng hội cùng thuyền với ông nữa. “Đó là những kẻ tội lỗi!”, những người Pharisêu tức bực nói như thế. Những người thân cận với Chúa Giêsu thì im lặng. Trả lời như thế nào đây? Họ đã luôn luôn đi theo Thầy, nhưng sự giận dữ của những người Pharisêu làm họ ý thức rằng ăn uống với những kẻ “tội lỗi” này là hoả hiệp với sự ác. Vào thời kỳ đó bữa ăn có một ý nghĩa gắn bó và hiệp thông mạnh hơn đối với chúng ta nhiều.

Với cái nhìn xoáy tận tâm can, Chúa Giêsu nhìn xuyên qua các nhãn hiệu trong xã hội và các thanh danh. Ngài nhìn những người Pharisêu chắc chắn mình là những vị thánh này, những kẻ xét đoán không thể sai lầm được: “Đây là một người tốt, còn đây là một người xấu”.

Chúa Giêsu đã đến vì tất cả mọi người nhưng Ngài cảm thấy rằng thật khó mà truyền giáo cho những “người công chính” này. Bởi vì họ thật sự là những người công chính. Họ thực sự có ý muốn trở nên công chính. Họ biết các luật lệ và cố gắng tuân giữ. Nhưng họ bỏ qua điều cốt lõi: lời mời gọi yêu thương. Lòng kiêu ngạo cho mình là những tín đồ và sự ghê tởm đối với người tội lỗi biến họ thành những kẻ tự phụ và khô khan, không có khả năng nhìn những “bệnh nhân” với đôi chút thiện cảm.

Chúa giêsu âu yếm nhìn những “bệnh nhân” này, những người ăn uống cười đùa hơi thô lỗ và đáng ngờ, chẳng chút bận lòng về lề luật, nhưng bộc trực và nhanh chóng nắm bắt lấy tiếng gọi của Tin Mừng. Đây là bằng chứng: Matthêu đừng dậy ngay khi nghe: “Hãy theo Ta”. Chúa Giêsu cố gắng phá vỡ những trái tim chai đá của người Pharisêu:”Các ông hãy cố mà hiểu”. Và Ngài nói lên một chân lý sáng ngời mà chúng ta miệt mài làm cho mờ tối: “Không phải những người mạnh khoẻ cần đến thầy thuốc, mà là những người bệnh tật”.

Chúng ta chỉ thực sự hiểu được điều đó nếu chúng ta có một cái gì đó thánh thiêng: lòng nhân từ. Đây là sự cân bằng kỳ diệu giữa lòng tốt đối với kẻ tội lỗi và sự lên án rõ ràng tội lỗi. Nói thì dễ, và thậm chí gần với khẩu hiệu, nhưng thực hành mới là khó. Hoặc chúng ta là những người rất tốt và yếu đuối, gần như rộng lòng, hoặc là những quan toà không thương xót: “Tôi không lui tới với hạng người đó”.

Sự thường chúng ta hay quanh co, bất định: phải nhắm mắt làm ngơ hoặc lên án? Để đấu tranh chống lại sự lây lan, gìn giữ đạo đức, sống giữa những người trong sạch, đáng tin cậy.

Hơn bao giờ hết, Chúa Giêsu là Thầy của chúng ta, Ngài khẳng định rằng phải có lòng thương xót: “Hãy đi mà học cho biết câu này có nghĩa là gì: ta muốn lòng nhân chứ không muốn của lễ”. Nhưng Ngài cũng tỏ cho chúng ta biết lòng nhân từ là một lòng tốt không có sự đồng loã.

Nếu Ngài trà trộn với những người tội lỗi chính không phải là để tán thành họ mà là để giúp đỡ họ. Ngài không loại bỏ ai cả và dầu vậy Ngài không chiều theo bất cứ sự bó buộc nào. Nơi Ngài chúng ta có thể học cách trở nên tốt lành mà không hèn nhát, cứng rắn mà không loại trừ. Không gì có thể làm chúng ta đến gần Ngài hơn: khi chúng ta thương xót thì đã có Chúa ở trong ta rồi.

Nhưng chúng ta không phải là Thiên Chúa. Lòng nhân từ của Chúa Giêsu vô cùng trong sáng, còn lòng nhân từ của chúng ta luôn luôn hơi yếu hoặc, trầm trọng hơn, nhuốm màu tự phụ. Do đó phải dứt khoát loại bỏ ý tưởng cho mình là công chính, ở vào đúng vị trí của những người công chính. Chỗ thực sự của chúng ta là ở nơi tạp nham. Và mạc khải lớn lao (hơi khó chấp nhận) chính là ở trong nơi tạp nham có tất cả! đó là những ai tin rằng mình là công chính, những kẻ tội lỗi mà lòng thanh thản và những người đấu tranh chống lại tội lỗi một cách khiêm hạ. Nhưng tất cả chúng ta, không trừ ai, là những bệnh nhân cần đến thầy thuốc.

 
 

3. Mầu nhiệm ơn gọi

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 9, 9-13

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Suy nghĩ về các Tông đồ, ta không hiểu tại sao Chúa chọn Phêrô làm Giáo hoàng trong khi ông ít học, lại có nhiều khuyết điểm và nhất là đã phạm tội chối Chúa.

Cũng như hôm nay, việc Chúa gọi Matthêu khiến nhiều người ngỡ ngàng. Matthêu là người thu thuế. Thời ấy, đế quốc Rôma đô hộ nước Do thái. Người thu thuế bị coi là tiếp tay với đế quốc, và gian tham bóc lột người dân. Vì thế người thu thuế bị coi là người tội lỗi bị mọi người lên án, khai trừ. Thế mà Chúa gọi ông làm môn đệ Người. Chẳng ai có thể ngờ. Cả bản thân Matthêu có nằm mơ cũng chẳng dám nghĩ tới.

Ơn gọi quả thật là một mầu nhiệm. Đó là mầu nhiệm tình yêu. Chúa chọn một người không phải người đó xứng đáng. Chúa chọn con người vì lòng yêu thương của Người.

Tình yêu của Chúa là tình yêu quan tâm. Chúa quan tâm tới từng người, kể cả người tội lỗi. Qua các dụ ngôn “con chiên lạc”, “đồng bạc đánh mất”, ta thấy Chúa quan tâm tới cả những người bé nhỏ nghèo hèn, đi tìm một con chiên bé bỏng lạc mất, đốt đèn quét nhà vì một đồng tiền chẳng có bao nhiêu giá trị. Sự quan tâm khiến Chúa nhìn lên cây sung tìm kiếm ông Giakêu. Sự quan tâm khiến Chúa để mắt nhìn ông Matthêu, dù ông đang ngồi tại bàn thu thuế, nơi mà người Do thái không bao giờ thèm ghé mắt nhìn.

Tình yêu của Chúa là tình yêu tha thiết. Chúa biết rõ người ta yếu đuối hay sa ngã. Nhưng tình yêu Chúa mạnh hơn sự yếu đuối của con người. Ân sủng Chúa lớn lao hơn sự dữ của tội lỗi. Lòng thương xót Chúa lớn lao hơn trí tưởng tượng của con người. Nên Chúa có thể tha thứ tất cả. Cả những người bị đồng loại kết án vẫn nằm trong trái tim Thiên Chúa. Nên Chúa đã tha thứ cho Matthêu dù ông chưa bao giờ xin lỗi Chúa.

Tình yêu của Chúa là tình yêu tin tưởng. Vì yêu nên tin. Tin người yếu đuối có thể nên vững mạnh. Tin người lạc lối có thể trở lại đường ngay. Tin người lỡ lầm có thể làm lại cuộc đời. Vì tin nên mời gọi và trao nhiệm vụ. Tin tưởng mời gọi ta cộng tác vào công trình cứu độ. Tin tưởng trao vào tay ta cả kho tàng ơn thánh. Tin tưởng trao cho ta vận mệnh các linh hồn. Tôi là ai mà được Chúa tin tưởng đến thế?

Tình yêu của Chúa hướng về tương lai. Quên hết những lỗi lầm quá khứ. Không bao giờ nói đến quá khứ. Không bao giờ mất thời giờ trách móc những lỗi lầm đã qua. Tình yêu chúa mở cho ta một chân trời mới. Tình yêu Chúa đóng lại quá khứ, mở cửa tương lai. Tình yêu Chúa cho ta cơ hội mới để làm lại cuộc đời.

Tình yêu Chúa thật lớn lao nhưng cũng thật dịu dàng. Tình yêu Chúa trân trọng con người. Tình yêu Chúa đem lại tự do. Tình yêu Chúa đi những bước sáng tạo đầy bất ngờ. Ai đã cảm nhận được tình yêu của Chúa sẽ không thể chối từ lời Người mời gọi.

Matthêu đã cảm nhận được tình yêu đó qua ánh mắt nhân từ của Chúa. Ông đã cảm nhận được sự trân trọng qua lời nói dịu dàng của Chúa. Nên Ông đã lập tức đáp lại lời mời gọi của Chúa. Ông còn tổ chức tiệc mừng vì được theo chúa. Ông mừng vì dứt bỏ được quá khứ đen tối đè nặng tâm hồn. Ông mừng vì gặp được Đấng Cứu độ, đưa tâm hồn ông vào tình yêu, vào khung trời tự do. Ông mừng vì Chúa tin tưởng, trao vào tay ông cả một tương lai tươi đẹp với ơn gọi tông đồ, với trách nhiệm cứu nhân độ thế.

Hôm nay Chúa cũng đang quan tâm tới mỗi người. Chúa nhìn ta. Chúa tin tưởng ta. Chúa trao vào tay ta một tương lai mới. Chỉ cần ta đóng lại cánh cửa quá khứ và sống theo lời Người, ta sẽ bắt đầu đổi mới cuộc đời.

Lạy Chúa con tin Chúa yêu thương con. Xin cho con nhận biết tình yêu của Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Có khi nào bạn nghĩ rằng những người tu trì là bất xứng?

2) Thái độ của Chúa đối với Matthêu dạy ta phải đối xử với tha nhân thế nào, nhất là những người ta coi là tội lỗi?

3) Chúa quên hết quá khứ và tin tưởng vào bạn? Tâm đắc điều này, bạn sẽ sống thế nào?

 


 

4. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

GỌI MATTHÊU

CÂU HỎI GỢI Ý

1) Tại sao Matthêu chèn vào cặp câu chuyện này? Đâu là tầm mức và ý nghĩa của câu trích dẫn sách Hôsê?

2) Tại sao Chúa Giêsu ưu tiên lưu tâm đến hạng thu thuế và tội lỗi? Phải chăng vì Người thấy họ dễ mến? Vì khám phá nơi họ một sự tươi sáng bình dân hay một lòng khiêm tốn có chân giá trị?

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Tên ông là Matthêu": Đây chắc là cùng một nhân vật với Lêvi trong Mc 2,14 và Lc 5,27, dù từ thời Origène, người ta ‘thường hay phủ nhận’. Là nhân viên thu thuế ở Capharnaum, Matthêu không trực tiếp phục vụ người Rôma, nhưng phục vụ Hêrôđê Antipas; nhờ chức vụ này mà có lẽ ông có một đời sống khá giả khiến có thể mời Chúa Giêsu và môn đồ Người đến ăn; người ta cũng đã nhận xét là ngoài tiếng Aram, tức tiếng mẹ đẻ, ông còn biết tiếng Hy lạp, thứ ngôn ngữ hành chánh đương thời, đồng thời là người có trật tự và chính xác. Hết thảy những nhận xét này đã được đưa vào trong cuộc tranh luận về vấn đề tác giả của Tin Mừng thứ nhất, nơi người ta cũng tìm thấy các tính cách nói trên. Nhưng về cuộc đời ông, ta không biết một tí mảy may nào.

"Và ông đứng dậy đi theo Người": Như mọi lần, kẻ được gọi luôn lập tức đáp lời, nhưng không có gì trong con người này có được một giải thích thái độ đó. Chỉ có uy quyền của Chúa Giêsu mới cắt nghĩa được sự biến đổi cách nhanh chóng đời sống một người hư đốn như vậy thôi.

“Đến ngồi đồng bàn": Ở đây chẳng nói rõ ngày giờ bữa ăn, trong lúc ở Lc 5,29 nó như thể là bữa cơm tối giã từ (sở quan thuế) để khai mạc một đời sống mới. Các loài tiệc này chúng ta quá quen thuộc. Vì thế đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy tụ họp quanh cùng một bàn ăn các bạn bè cũ và mới của Matthêu. Chỉ có sự hiện diện của Chúa Giêsu, một rabbi, là không hợp mà thôi.

“Tại sao Thầy các ông lại ăn với quân thu thuế và tội lỗi”: Quy định vô số của các giáo sĩ về các bữa ăn (là những việc rốt cục cũng có ý nghĩa tôn giáo) cho ta lượng được cơn bất bình của Biệt phái khi thấy Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với kẻ tội lỗi là những người, theo định nghĩa, không tôn trọng các quy định trên. Thành thử câu nói của Biệt phái chẳng phải là một chất vấn nhưng là một lời buộc tội.

"Lương y": việc dùng hình ảnh vết thương để ám chỉ tội lỗi và lương y để nói lên ơn tha thứ là điều thường thấy trong Cựu ước (Đnl 32, 39; Is 1, 6; 19, 22; 30, 26; 57, 18 – 19; 33, 6; Hs 5, 13; 7, 7 v.v...).. Ngay cả ý tưởng cho rằng tình trạng của tội nhân được tha thứ sẽ trổi vượt hơn tình trạng họ đã nằm trong đó trước khi phạm tội, cũng là chủ đề cốt yếu của các sấm ngôn Thiên sai (Hs 14, 2- 9; Is 30, 26; 35; 40; 55; 60, 19; Ed 36, 23- 38). Thành ra tội nhân là đối tượng của một tình yêu vĩ đại hơn lúc ông ta hãy còn là người công chính chưa phạm tội.

"Ta chuộng nhân nghĩa chứ không phải là lễ tế": Dịch như vậy chưa phản ảnh đúng ý tưởng nguyên thủy của Hs 6,1. Chúa Giêsu không tìm lối biện minh thái độ của mình bằng cách nại đến lòng nhân từ của Thiên Chúa, là Đấng thích tội nhân ăn năn hoán cải hơn là cứng đầu chẳng chịu sám hối. Do đó Biệt phái không khiển trách Chúa Giêsu đã hoán cải tội nhân, cho bằng trách Người đã dùng các phương pháp xem ra coi thường các qui định về nghi lễ. Họ không chịu được cảnh Người hòa đồng với tội nhân đến độ đặt mình vào tình thế nhiễm lây sự ô uế chiếu luật của những hạng này. Vì vậy Chúa Giêsu mời họ đọc lại ngôn sứ Hôsê, kẻ từng khiển trách Israel là đã tỉ mỉ tuân giữ các quy định nghi lễ trong lúc lại phạm nhiều bất công xã hội tầy trời. Trước cảnh đó, Hôsê đã đặt vào miệng Giavê lời khẳng định này: "Ta muốn tình yêu chứ không muốn hy tế", nghĩa là muốn một tình yêu chân thành đối với tha nhân chứ không phải là các nghi lễ. (Khi dịch hạn từ Hy bá hésèd, "tình yêu, lòng trắc ẩn" ra eloas, nhân nghĩa, mật chỉ biết theo bản 70; khổ thay, hạn từ Hy lạp lại quá yếu so với hạn từ Hy bá): Thành thử qua lời trích dẫn Hôsê, Chúa Giêsu cho Biệt phái thấy rằng: khi lưu tâm đến kẻ tội lỗi, Người chỉ thực thi tình yêu mến tha nhân, là thứ tình yêu phải được đặt lên "trên mọi quy định về trong sạch chiếu luật - điều mà người biệt phái không làm. Lòng trung thành bên ngoài với Lề luật của họ đã dẫn họ đến chỗ khinh miệt tha nhân vậy.

"Ta không đến kêu gọi những người công chính mà là những kẻ tội lỗi": Theo truyền thống Biệt phái, chỉ có người công chính mới được Thiên Chúa yêu thương. Còn hạng tội lỗi chỉ kéo xuống trên bản thân cũng như trên tập thể cơn giận của người ta còn đi đến chỗ hồ nghi cả khả năng sám hối của họ nữa (Kn 12, 10). Do đó mấy tiếng này của Chúa Giêsu đã hoàn toàn đảo lộn vũ trụ quan của Biệt phái. Đây không chỉ là đặt lại vấn đề một tín điều đơn lẻ, nhưng còn nhắm đến chính bản chất của lòng đạo đức theo Lề luật và do đó đụng đến cảm thức sâu xa nhất về giá trị của tôn giáo cổ truyền. Điều tệ hại nhất là Chúa Giêsu đã dựa trên một nền tảng tôn giáo khách quan (câu trích dẫn Hôsê) để đảo lộn các giá trị đó. Thành ra không phải chỉ mình Người, mà còn chính Thiên Chúa phán xét như vậy.

Tuy nhiên cần lưu ý là không khi nào Chúa Giêsu phong thánh cho tội nhân và tội lỗi cả. Người chấp nhận với nhóm Biệt phái rằng hạng thu thuế-trộm cắp kiểu Matthêu là tội lỗi. Người cũng chẳng bảo là tội nhân giá trị hơn chính nhân đâu. Người không phân biệt đức công chính thực sự, chẳng hạn như của Abel, kẻ duy nhất được ‘người gọi là công chính’, x. Ml 23, 35 - với đức công chính giả hiệu của nhóm Biệt phái; nếu phân biệt, có lẽ Người sẽ đặt Biệt phái ngang hàng với hạng thu thuế hay còn thấp hơn nữa! ở đây Người chỉ muốn lấy lại thuật ngữ của Biệt phái mà chẳng phê bình, để họ hiểu được điều Người muốn nói.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đến cứu vớt tất cả mọi người. Ai cũng có chỗ trong con tim Người và có chỗ trong Nước Thiên Chúa. Vấn đề là họ đừng tự đắc cho mình là công chính, có quyền đòi hỏi Thiên Chúa cứu rỗi, song là chân thành thân hối, từ giã quá khứ tội lỗi để bước đi theo Chúa Giêsu. Như thế, dầu xưa kia họ đã thuộc hạng xấu xa nào, họ vẫn có thể trở thành môn đồ thân tín của Người được.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thiên Chúa thường có những cách chọn lựa khiến tâm trí ta phải chưng hửng, ngạc nhiên. Ngài có những đường lối canh tân đời sống Giáo Hội một cách bất ngờ, qua trung gian những con người mà ta có khuynh hướng khinh rẻ, gạt sang một bên. Đường lối phong phú của Ngài, của Thánh Thần, vượt quá mọi phê phán, dự định của ta vậy.

2. Nếu chúng ta muốn theo Chúa Kitô, chúng ta cần phải đón nghe tiếng gọi của người và chấp nhận nhiều dứt bỏ. Vì theo Chúa Kitô không phải chỉ là trở nên như môn đồ của một ông thầy nào đó, chấp nhận giáo huấn, học thuyết của ông, là gắn bó vào con người của Người, giá trị tuyệt đối hơn.

3. Chúng ta phải biết cho những người đang cần Chúa những dấu hiệu thích hợp của tình huynh đệ, những dấu hiệu làm họ cảm nhận được tính cách cao cả và dịu dàng của việc giải với Thiên Chúa trong Chúa Kitô.

 4. Chúng ta thường có khuynh hướng phân chia thế giới làm hai phe: Phe thiện (trong đó có chúng ta) và phe ác. Quả thật, thiện và ác chống đối nhau một cách trường kỳ, song là ở trung chính tâm hồn ta kia. Chúa Giêsu cũng thấy có hai phe như vậy. Nhưng Người không thấy có kẻ lành kẻ dữ, vì tất cả đều là tội nhân. Có kẻ tự coi mình là công chính, kẻ khác tự nhận mình là tội nhân. Chúa Giêsu đến kêu gọi những kẻ tội lỗi va Người bất lực trước những ai tự xem mình công chính.

5. Người ta thường bảo: Kitô hữu không tốt hơn những kẻ khác. Thực ra, cái đặc trưng Kitô hữu không phải là ở chỗ tốt hay xấu hơn. Người Kitô hữu là người chấp nhận đón nghe một tiếng gọi lớn hơn trái tim của mình theo nghĩa này, Kitô hữu có thể vượt lên, không phải trên những người khác, mà là chính mình, vì họ thừa nhận một tiếng gọi mà họ muốn đón nhận như ân sủng). Đồng thời, họ tự coi mình là kẻ tội lỗi, vì tiếng gọi đó cũng là lời phán xét họ.

6. Nhưng lời "phán xét" này chẳng những mặc khải tội lỗi của chúng ta. Nó đồng thời mặc khải tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng kêu mời chúng ta hãy sống và phát triển cái tốt nơi mình. Hơn nữa, Ngài còn đặt trong chúng ta một niềm hy vọng lớn lao mà chúng ta không hề tưởng đến: Ngài đổ Thánh Thần trong ta.

 


 

5. Suy niệm của Noel Quesson

Ra khỏi thành Caphácnaum, Đức Giêsu...

Thành Caphácnaum ngày nay chỉ còn lại những cảnh đổ nát nhưng vào thời Đức Giêsu là một đô thị sầm uất. Nằm ở ngã tư các con đường Bắc-nam và Đông-tây, thành ấy là một nơi trung chuyển, ở lối vào các lãnh địa của Hêrôđê, là nơi đến của các đoàn thương nhân từ Phương Đông. Người ta còn biết rằng đó là một thành phố có đủ loại nhân viên thuế quan và người thu thuế tô.

…thấy một người tên là Mátthêu.

Trong hai cảnh, được trình bày song song của các sách Tin Mừng nhất lãm, có sự khác nhau về tên người: Người ấy tên là Lê vi, con ông An phê trong Máccô (2,14) và Lê vi trong Luca (5,27). Từ thời cổ đại, những nghi vấn đã nổi lên và sự đồng nhất giữa Matthêu và Lêvi... và về tác giả của Tin Mừng thứ nhất với ông Matthêu này. Tuy nhiên truyền thống từ thời cổ đại đã cho rằng chính Matthêu là người đã viết bản văn mà chúng ta đọc hôm nay. Từ đó, chi tiết này phải chăng là một sự bảo đảm?

…đang ngồi ở trạm thu thuế.

Đối với chúng ta ngày nay, nghề thu thuế không có gì là nhục nhã Nhưng phải đưa về tâm thức của thời đại Đức Giêsu Những người "thu thuế” bị mọi người bêu riếu sự bất lương thật sự hoặc giả định của họ: Họ phải trả cho chính quyền sử dụng họ một khoản tiền nào đó … và họ được tự do giữ lại mọi thứ họ muốn của những người bị trị! Trong thực tế, họ "bóc lột" dân nghèo. Hơn thế nữa, họ thường xuyên tiếp xúc với những người La Mã, với những người ngoại giáo, họ sống trong tình trạng thường xuyên bị ô uế theo Luật. Và với danh nghĩa ấy, họ bị loại khỏi mọi cuộc hội họp để cầu nguyện: đó là những kẻ tội lỗi công khai.

Người bảo ông: "Anh hãy theo tôi!”. Ông đứng dậy đi theo Người .

Khi chọn một người thu thuế bị mọi người ghét bỏ, Đức Giêsu đã làm một hành động khiêu khích, có hại đến thanh danh, có thể làm cho mọi tín hữu tình cờ của cộng đoàn mới mẻ mà Người định thành lập bỏ đi. Phải có nhiều can đảm và nhân cách, Đức Giêsu mới có thể đi ngược chiều với mọi dư luận của thời đại mình. Đức Giêsu là một con người tự do! Hành động cách mạng này phải có một tầm quan trọng cao cả để Người dám thực hiện khi vượt lên trên mọi quy ước của tôn giáo và xã hội. Chốc nữa, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa và Đức Giêsu đem lại cho hành động điên rồ đó. Còn giờ đây, chúng ta thử nhận định sự táo bạo của cử chỉ ấy: Đức Giêsu đã đưa vào trong "cộng đoàn các Tông Đồ" một con người tai tiếng, một viên chức tội lỗi và bị ghét bỏ … để làm cho người ấy thành một trong mười hai trụ cột của Giáo Hội cùng với Phêrô, Anrê, Gioan và những người khác Đức Giêsu là một con người có tầm nhìn cao cả? Còn chúng ta? Chúng ta có khả năng thoát khỏi cái “người ta sẽ nói gì đây" để khẳng định một số xác tín quan trọng? Chúng ta có phải là những người xếp loại và đóng khung một số người dưới những nhãn hiệu đáng khinh? Chúng ta có thể vượt qua những rào chắn của xã hội đến mức độ nào, những rào chắn làm chúng ta tách lìa những con người nam cũng như nữ có lẽ đang cần đến chúng ta?

Đức Giêsu đang dùng bữa trong nhà, thì kìa, nhiều người thu thuế và người tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ.

Matthêu đã ăn mừng ơn gọi của mình bằng việc tổ chức một bữa ăn (Lc 5,29). Dĩ nhiên có những đồng nghiệp của ông, cả một đám người "người' thu thuế" bẩn thỉu và những "'con người đáng ghét". Và người ta ăn, uống, ca hát."Thật là một cớ gây vấp ngã? Luca sẽ kể cho chúng ta một câu chuyện giống như thế với một đồng nghiệp thu thuế khác có tên là Dakêu: Đức Giêsu đã phải bắt đầu lại những “cú” như thế nhiều lần (Luca 19,1-10). Và người ta không thể quên điều đó.

Thấy vậy những người Pharisêu nói với các môn đệ Người rằng: "Sao Thầy các anh lại ăn uống với .. bọn thu thuế, và quân tôi lỗi như vậy?”

Phải, Đức Giêsu không bằng lòng với việc "kêu gọi" một kẻ tội lỗi trở thành tông đồ... Người còn dám "ngồi cùng bàn, ăn cùng mâm" với người ấy. Vậy mà Người còn “tái phạm" thường xuyên đến nỗi Người mang tiếng gây vấp ngã đối với những người suy nghĩ đàng hoàng chín chắn: "Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi" (Mt 11,19). Để hiểu ý nghĩa sâu xa thái độ này của Đức Giêsu, phải biết những tập tục của người Do Thái. Mời một người đến ăn chung hoặc đến ăn chung với một người nào không phải là một thái độ- không quan trọng. Đó là chấp nhận sự thân mật với người đó “Bữa ăn" hoàn toàn là một biểu tượng. Người ta không ăn bất cứ món gì nhưng chỉ ăn những món ăn theo nghi thức. Người ta không ăn với bất cứ ai, nhưng chỉ với những người mà người ta có thể trở thành bạn bè và những người “thanh khiết" theo nghi thức. Vậy, một cách chính đáng, những người Pharisêu đã đặt ra cho Đức Giêsu một câu hỏi hoàn toàn bình thường. Chúng ta không có quyền: lên án họ. Dẫu sao họ chỉ muốn trung thành với đức tin và các tập tục tôn giáo. Và điều đó luôn luôn đáng được khâm phục. Nhưng thế thì Đức Giêsu phải giãi bày thôi. Thái độ của Người có ý nghĩa gì?

Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói: "Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần".

Đức Giêsu không hay đến những nơi mang tiếng xấu chỉ để tạo ra xúc động khó chịu, hoặc bởi môït thái độ hàm hồ, nhưng để "giúp đỡ"... như một người thầy thuốc dám đụng vào những vết thương có mủ nhưng tránh không để bị lây nhiễm ngõ hầu chữa lành người bệnh.

Chúng ta phải chiêm niệm điều mà câu nói ấy mạc khải cho chúng ta ngôi vị, tấm lòng, và sứ vụ của Đức Giêsu không những tội lỗi không làm Đức Giêsu chán nản, nhưng Người còn cảm thấy những nỗi thống khổ của chúng ta lôi kéo Người đến gần, cũng như người thầy thuốc đến gần bệnh nhân. Trong Kinh Thánh từ ngữ "thầy thuốc" này thường được áp dụng cho Thiên Chúa, chỉ Thiên Chúa mới có thể cứu chữa dân Người, băng bó vết thương và đem lại cho dân sức khỏe (Is 30,26; Xh 15,26). Chúng ta còn nhận thấy tính chất rất hiện đại trong cách đối xử người tội lỗi như một "người bệnh". Có những thời kỳ người ta đã phán xét rất nhiều, và quy kết tính chất tội lỗi cho... những người làm điều xấu. Ngày nay, hầu như người ta có xu hướng ngược lại khi giả định rằng mọi kẻ tội lỗi đều không có trách nhiệm. Tư tưởng của Đức Gìêsu quân bình 'hơn’ điều xấu vẫn là một điều xấu... nhưng phải tấn công để chữa trị nó. Đức Giêsu không để cho tội lỗi gây ra bất cứ sự tổn hại nào: Người không nói rằng những thu thuế bóc lột người nghèo là đúng. Nhưng thay vì kết tội họ từ bên ngoài, người cho họ cơ hội để được chữa lành.

Có cả ngàn cách để ‘lên án’ những người khác. Có cả ngàn cách để trở thành Pharisêu. "Tôi như các ông biết đấy tôi không phải là người hành đạo, nhưng tôi còn "ngon lành hơn ông này, bà kia siêng năng đi lễ …". Hoặc ngược lại: “tôi, như các ông biết đấy, tôi không bao giờ bỏ lễ". Trong cả hai trường hợp trên, người ta tự coi mình như một người tốt lành! Người môn đệ chân chính của Đức Giêsu, là một người "tự biết mình là người tội lỗi" và thường đến gần Đức Giêsu Thầy Thuốc - để được chữa lành. Những Kitô hữu chân chính không phải là những người tốt hơn những người khác, đó là những người -dù nam hay nữ- biết mình là "những người bệnh": căn bệnh thật sự, chính là tội lỗi … và chúng ta đều là những kẻ tội lỗi. Mọi thánh lễ đều đầy ắp những lời cầu xin tha thứ.

Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế".

Khi đụng chạm những ‘người tu hành nhất’ của thời đại Người, Đức Giêsu không vi phạm một cách độc đáo đạo đức thông thường mà người ta vẫn nghĩ rằng được dựa trên chính Luật mà Thiên Chúa ban cho Môsê. Người hành động như thế không do sự thúc đẩy bởùi một quan điểm cá nhân ít nhiều có sự khoan dung, mà bởi lòng trung tín với Thiên Chúa, Người lui tới với những người tội lỗi. Chính vì thế, Người đã thuật lại cho họ một Lời của Thiên Chúa rút ra từ Kinh Thánh, cuốn sách mà họ tự hào tuân theo một cách tỉ mỉ. Đối với Đức Giêsu, câu ấy trong sách ngôn sứ Hôsê (6,6) phải có một tầm quan trọng cao cả. Nó được nhắc lại hai lần trong Tin Mừng (Mt 9,13-12,7).

Đức Giêsu khẳng định sự ưu tiên của tình yêu trên phụng tự, và của lòng nhân hậu trên lễ tế. Khi nói như thế Người tự đồng hóa với Thiên Chúa chữa lành và tha thứ

Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.

Nghe những lời ấy đối với chúng ta tốt lành biết bao, chúng ta vốn là những người tội lỗi! Đức Giêsu không bao giờ tuyệt vọng vì một người tội lỗi. Đức Giêsu tiếp tục hy vọng rằng con người dù tồi tệ nhất có thể thay đổi đời sống. Vậy bản thân chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa nhìn chúng ta với tình yêu thương hoặc dù chúng ta chán nản, thất vọng, vì chính sự ghê tởm tội lỗi của mình xâm chiếm tâm hồn chúng ta. Nhưng đối với những ngườikhác cũng thế, chúng ta phải giữ niềm hy vọng họ sẽ biến đổi: dù họ là người bạn đồng nghiệp, thành viên trong gia đình chúng ta, đứa con trai, đứa con gái, người phối ngẫu.

Tôi không đến để kêu gọi người công chính, người đạo đức" Mỗi lần chúng ta khinh bỉ những ‘người tội lỗi’, chúng ta phản bội chính Đức Giêsu Kitô. Giáo Hội của Đức Giêsu không có quyền trở thành một Giáo Hội của những siêu Kitô hữu mà là Giáo Hội của những người tội lỗi.

 
 

 

6. Mảnh tim vàng

Đọc lại Phúc Âm, chúng ta thấy Matthêu không phải là một con người đạo đức. Ông làm nghề thu thuế. Và dưới mắt người Do Thái, những kẻ làm nghể thu thuế bị đồng hóa với phường tội lỗi, bởi vì họ cộng tác với đế quốc La Mã, với quân xâm lược mà bóc lột đồng bào của mình.

Thế nhưng, như một câu danh ngôn đã bảo:

- Dù là một tên tướng cướp, thì trong lồng ngực của hắn cũng chất chứa một mảnh tim vàng.

Và mảnh tim vàng của Matthêu, đó là ông luôn băn khoăn, trăn trở để ra khỏi tình trạng tội lỗi của mình. Ông muốn tìm lấy cho tâm hồn mình một sự bình an thư thái.

Ông đã từng nghe biết Chúa Giêsu có quyền tha tội. Ông mong ước được gặp Ngài. Và rồi hôm nay, niềm mong ước này đã trở thành sự thật. Chúa Giêsu đi ngang qua bàn thu thuế, nơi ông làm việc. Ngài nhìn ông và lên tiếng gọi:

- Hãy theo Ta.

Không cần suy nghĩ cũng như không chần chừ đắn đo, ông đã từ bỏ tất cả, đứng lên và bước theo Chúa.

Từ câu chuyện trên, chúng ta rút ra được một kết luận, đó là hãy thận trọng trong việc phê phán người khác.

Chúa là Đấng thấu suốt tận tâm can, nên Ngài sẽ đánh giá mỗi người theo những tình cảm và thiện chí tự bên trong. Còn chúng ta thì khác, chúng ta thường đánh giá theo những ghi nhận từ bên ngoài. Vì thế, sự đánh giá của chúng ta vốn thường phiến diện và sai lạc.

Thực vậy, làm sao chúng ta biết được người phạm tội đã từng chống trả mãnh liệt trước khi sa ngã. Làm sao chúng ta biết được người phạm tội đã sai lỗi chỉ vì người khác đã quyến dũ và lôi cuốn. Nếu ở trong hoàn cảnh ấy, liệu chúng ta có còn trung thành với Chúa hay là đã vấp phạm còn nặng nề hơn thế nữa. Làm sao chúng ta biết được người vấp phạm đã bị thúc đảy bởi những đam mê mù quáng xuất phát từ di truyền. Làm sao chúng ta biết được những giọt nước mắt sám hối đã từng chảy xuống trên gò má.

Bở đó, phải thận trọng trong việc xét đoán người khác và nhất là hãy có thái độ khoan dung đối với tội nhân, bởi vì chính nhờ thái độ khoan dung ấy, Chúa Giêsu đã cảm hóa được Mađalêna, từ một cô gái tội lỗi trở nên một vị thánh, cũng như đã cảm hóa được Matthêu, từ một kẻ thu thuế đầy gian tham trở nên một vị tông đồ đầy nhiệt thành.

Điều cần phải nghiêm khác, đó là hãy nghiêm khắc đối với chính bản thân mình, bởi vì bản thân chúng ta cũng đã chất chứa nhiều sai lỗi, nhiều khuyết điểm. Chúng ta nên đấm ngực mình mà rằng:

- Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.

Tiếp tục đoạn Tin mừng hôm nay: để đánh dấu ngày trọng đại, ngày dứt bỏ nếp sống cũ để bắt đầu nếp sống mới, ngày lột xác và đổi đời, Matthêu đã làm một bữa tiệc mừng. Thấy Chúa Giêsu và các môn đệ ngồi ăn uống với phường thu thuế, bọn biệt phái đã lên tiếng trách cứ với các môn đệ:

- Tại sao Thầy các ông lại ngồi cùng bàn với những kẻ tội lỗi?

Và Chúa Giêsu đã trả lời:

- Không phải những người khỏe mạnh mà là những kẻ đau yếu mới cần đến thầy thuốc. Các ngươi hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: Ta muốn tình yêu chứ không muốn lễ vật. Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng đến để kêu gọi kẻ tội lỗi.

Nhiều lúc chúng ta cũng đã đối xử với người khác một cách nghiêm khắc và bất công như bọn biệt phái.

Vì thế, hãy hồi tâm xét mình, kiểm điểm lại cuộc sống. Hãy nhìn thẳng vào lương tâm của mình và chúng ta sẽ thấy mình cũng đã từng sai lỗi và vấp phạm nặng nề.

Bởi đó, phải biết khiêm nhường trước mặt Chúa. Tất cả chúng ta đều là những người đang rất cần đến thầy thuốc. Hãy sám hối ăn nay chạy đến nơi tòa cáo giải và chúng ta sẽ được chữa lành.

Một khi đã được Chúa tha thứ, thì bây giờ đến lượt mình, chúng ta cũng phải biết đối xử khoan dung và tha thứ cho những người anh em của chúng ta.

  


 

7. Tình thương

Bài Tin Mừng hôm nay thánh Matthêu vắn tắt ghi lại ơn gọi của mình. Chúa Giêsu thấy ông ngồi tại bàn thu thuế và Chúa nói: “Anh hãy theo tôi”, lập tức ông đứng lên, đáp lại lời kêu gọi của Chúa. Trước khi từ bỏ tài sản, gia đình để lên đường theo Chúa, ông đã khoản đãi một bữa tiệc mời Chúa, các môn đệ và bạn bè tới dự, họ là những người thu thuế, đồng nghiệp với ông và nhiều kẻ tội lỗi khác. Trước sự kiện đó, những người Pharisêu có phản ứng ngay: họ khó chịu vì Chúa cùng ăn uống với những người thu thuế và những người tội lỗi. Chính qua thái độ khó chịu và phiền trách của những người Pharisêu mà Chúa đã để lại một câu nói bất hủ, một câu nói làm cho chúng ta thấy rõ sứ mạng và tâm tư của Chúa: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần. Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính mà là kêu gọi người tội lỗi”.

Tại sao những người Pharisêu lại khó chịu khi thấy Chúa Giêsu cùng dự tiệc với những người thu thuế và tội lỗi? Theo phong tục Do Thái thời Chúa Giêsu, khi cùng ăn uống với ai, đó là dấu hiệu một sự hiệp thông, một sự chia sẻ tư tưởng, tình cảm và là một cữ chỉ thân thiết và quan tâm của mình đối với người ấy, vì trong bữa tiệc, người ta dễ dàng cởi mở, tự nhiên, dễ dàng bộc lộ tình cảm với nhau hơn, và trong phép xã giao ngày nay cũng vậy, khi cùng ngồi ăn uống với nhau, thì không những tình nghĩa có thể trở nên thắm thiết hơn mà cả những hiềm khích, hiểu lầm cũng có thể được giải tỏa và thông cảm nhau. Như thế ngồi cùng bàn với nhau để chung vui trong một bữa tiệc là một điều tốt, không có gì đáng chê trách cả.

Tuy nhiên, những người Pharisêu cho rằng: đối với những người tội lỗi, nhất là những người thu thuế, thì không được cùng ngồi ăn uống với họ, mặc dù luật Mosê không cấm, nhưng các kinh sư đã cấm, vì sự chung đụng như thế có nhiều nguy hiểm, và việc cấm đã được coi như một thông lệ. Từ quan niệm đó, một người Do Thái ngoan đạo hết sức ý tứ, không giao du với những người mà họ coi là tội lỗi, nhất là không bao giờ ăn uống cùng bàn với họ để khỏi bị lây nhiễm hoặc bị ô uế. Vì thế, họ khó chịu và phiền trách Chúa, vì họ không biết Chúa là Thiên Chúa, không biết sứ mệnh của Chúa, và nhất là họ khó chịu vì Chúa đi ngược lại với những lời giảng dạy và nếp sống giả hình của họ.

Tuy nhiên, Chúa đã nhiều lần tuyên bố: “Tôi đến trần gian không phải vì người công chính nhưng vì người tội lổi”, Tôi đến không phải để kết án nhưng để bênh đỡ”, “Tôi đến không phải để trói buộc nhưng để cởi mở”, “Tôi đến để kiếm tìm chứ không phải để lẩn trốn chạy thoát”, “Tôi đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã lạc mất”. Những lời tuyên bố đó có nghĩa là: chính vì những người tội lỗi mà Chúa nhập thể, bỏ trời xuống thế, chính vì họ mà Chúa được sai đến trần gian. Vậy muốn giải thoát thế gian khỏi tội lỗi và muốn cứu những người tội lỗi thì phải đến và tiếp xúc với họ, cũng như không có thầy thuốc hay bác sĩ nào có thể chữa bệnh nếu bệnh nhân không đến với ông ta hoặc ông ta không đến và tiếp xúc với bệnh nhân, hoặc như người mất chiên, mất tiền, nếu không đi tìm thì làm sao thấy lại được.

Do đó, chúng ta thấy thật là có ý nghĩa khi Chúa tự so sánh mình với thầy thuốc: Thầy thuốc là người có sứ mạng gìn giữ người ta khỏi mang bệnh bằng cách ngăn ngừa bệnh hoặc chữa bệnh. Chúa Giêsu là thầy thuốc đầy tình thương của Thiên Chúa. Ngài đến để tiêu diệt tội lỗi, là nguyên nhân của đau khổ, và tận cùng của đau khổ là sự chết.

Bệnh và chết phần xác là những dịp để thầy thuốc đến chăm sóc, cố gắng làm giảm bớt đau đớn và cầm cự cho sự chết không tới sớm. Bệnh và chết thiêng liêng cũng là những dịp để thầy thuốc thiêng liêng đến cứu chữa, Ngài đem ơn cứu độ cho họ, nghĩa là đem Tin Mừng và chỉ cho họ con đường đi tới sự sống muôn đời. Tóm lại, những người đau yếu, bệnh tật mới cần đến thầy thuốc, thì những người xấu, những người tội lỗi mới cần đến Chúa, nên Chúa tiếp xúc và dự tiệc với những người thu thuế và tội lỗi để đem Tin Mừng cho họ, giải thoát họ khỏi tội lỗi và đưa họ về với Chúa.

Đối với chúng ta hôm nay, nếu chúng ta tự cảm thấy mình yếu đuối, dễ bị ảnh hưởng, thì xa lánh người xấu, người tội lỗi, trước hết đó là một sự khôn ngoan thông thường cần thiết để đề phòng. Thứ hai là một sự khiêm tốn, vì tự cảm thấy mình yếu đuối, dễ bị sự xấu làm ô nhiễm, dễ bị sa ngã, nên phải xa lánh, đó là điều tốt và có thể chấp nhận được. Nhưng trái lại, xa lánh vì khinh dể thì không thể chấp nhận được, vì là thái độ kiêu căng và thiếu bác ái. Tuy nhiên, việc xa lánh chỉ là thái độ tiêu cực trong việc sống đạo, chúng ta cần phải noi gương Chúa Giêsu sống tích cực hơn, vẫn đi lại, tiếp xúc với những người tội lỗi, nhưng không chấp nhận tội lỗi và không đồng lõa để phạm tội, mà phải làm gương sáng và sống xứng đáng người Kitô hữu. Bởi vì chính việc tiếp xúc với những người tội lỗi không phải là xấu và tự nó cũng không làm cho chúng ta ra xấu, điều xấu là do lương tâm chúng ta mà ra.

 


 

8. Yêu thương kẻ tội lỗi

Nhiều người trong chúng ta, mỗi khi bất ngờ gặp phải những tai ương hoạn nạn, chẳng hạn như sấm sét, bão táp… thường kêu lên:

- Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi.

Thế nhưng, khi tai ương hoạn nạn qua đi, thì những ý nghĩ tốt lành và đạo đức ấy cũng chấp cánh bay cao. Họ chẳng còn nhớ gì đến Chúa, cũng như chẳng còn lo lắng gì tới những tội lỗi của mình nữa.

Có một cô bé bảy tuổi đã làm cho mọi người phải ngạc nhiên. Số là tối hôm đó, sấm chớp bỗng nổi lên đùng đùng. Đang lúc mọi người lo lắng sợ hãi, thì em lại vui mừng. Người ta hỏi em tại sao lại vui mừng, em đã đơn sơ trả lời:

- Sở dĩ cháu vui mừng, bởi vì ít nữa trong giây phút này, những kẻ tội lỗi không còn phỉ báng Chúa nữa.

Người ta cũng nhận thấy: trong thời chiến, một số những người lính may mắn được ở lại hậu phương, lại chỉ biết ăn chơi phè phỡn, lộng ngôn phạm thượng. Thế nhưng, khi bị đưa ra vùng hỏa tuyến, đối diện với những nguy hiểm từng ngày, họ bỗng trở nên dè dặt và khôn ngoan hơn.

Với chúng ta cũng vậy, trong đêm đen chúng ta mới nhìn thấy những ánh sao lấp lánh, mà bình thường dưới ánh nắng mặt trời chúng ta không thể nhìn thấy. Nhiều người đã được ơn ăn năn sám hối trở về cùng Chúa khi những tai nạn và khổ đau đổ xuống trên bản thân và cuộc đời họ.

Trong Kinh Thánh, người Do Thái đến với Chúa và kêu xin Chúa điều nọ điều kia, nhưng họ lại chẳng hề sám hối ăn năn. Tình yêu của họ thật nông cạn và hời hợt, giống như một giải sương mù chóng tan và chóng hết.

Bởi đó, nhiều lúc Chúa đã phải đánh đập, đã phải cắt tỉa để ngăn chặn không cho tội ác tràn lan. Qua môi miệng các tiên tri, Chúa đã xác nhận:

- Điều làm cho Chúa hài lòng, đó là tình yêu chứ không phải là lễ vật… Chúa chẳng bao giờ chê bỏ những tấm lòng tan nát khiêm cung.

Chúa luôn nhắc đi nhắc lại cho họ sự thật ấy, để họ tránh đi thói bôi bác giả hình, sính những nghi lễ bên ngoài, mà cõi lòng thì lại băng giá, chai đá. Chúa thấu suốt tâm can chúng ta. Ngài đánh giá dựa vào những tâm tình bên trong, trong khi chúng ta chỉ nhìn thấy những dáng vẻ bên ngoài. Chính tâm hồn, chính cõi lòng, chính trái tim mới là điều Ngài tìm kiếm.

Quan niệm trên đây, một lần nữa được thể hiện qua đoạn Tin Mừng hôm nay. Thực vậy, thoạt nhìn thấy Matthêu đang ngồi ở bàn thu thuế, Chúa đã lên tiếng gọi:

- Hãy theo Ta.

Cách thức hành động của Chúa hoàn toàn khác biết với cách thức hành động của chúng ta. Thực vậy, Ngài đã chọn một kẻ thu thuế làm môn đệ của mình. Và như chúng ta cũng đã biết: kẻ hành nghề thu thuế, dưới mắt những người Do thái, chỉ là kẻ tội lỗi, nối giáo cho giặc, cộng tác với ngoại bang để bóc lột đồng bào của mình.

Chúa Giêsu không phải chỉ kêu gọi Matthêu, mà hơn thế nữa, ngay ngày hôm ấy, Ngài lại còn đến dùng bữa tại nhà ông cùng với những kẻ tội lỗi và thu thuế khác nữa.

Đối với bọn biệt phái, thì đây là một thách thức, một sự việc không thể nào chấp nhận được. Thay vì trực tiếp chỉ trích Chúa, họ quay ra phê bình các môn đệ. Và như vậy, cũng là gián tiếp chỉ trích Chúa. Chúa Giêsu biết thế và Ngài đã trả lời cho họ về thái độ của mình.

Lý do thứ nhất: như một ông bác sĩ cố gắng hết khả năng để chạy chữa cho người bệnh, Chúa Giêsu cũng vậy, Ngài là vị bác sĩ của tâm hồn, Ngài đến với những kẻ tội lỗi để giúp họ biết chổi dậy, quay trở về với đường ngay nẻo chính.

Lý do thứ hai: Ngài đã mượn lời tiên tri Ôsê để xác quyết với họ rằng: Ngài cần tình yêu hơn lễ vật.

Bởi đó, phải chu toàn thánh ý Chúa, tuân giữ những điều Ngài truyền dạy hơn là những nghi thức, những lễ lạt bên ngoài.

Lý do thứ ba: sứ mạng của Ngài ở trần gian là gì, nếu không phải là để cứu độ kẻ tội lỗi. Ngài cứu rỗi họ không phải bằng cách chạy trốn họ, cũng không phải bằng cách khinh bỉ họ, nhưng bằng cách đi đến với họ, gặp gỡ họ, như người mục tử nhân lành, bỏ 99 cho chiên lại một chỗ, để lên đường tìm kiếm một con chiên lạc.

Từ đó, chúng ta hãy tin tưởng vào lòng nhân từ và lượng khoan dung của Chúa, để rồi ăn năn sám hối quay trở về với Ngài. Dù tội lỗi chúng ta có năng nề tới đâu chăng nữa, chắc chắn Chúa cũng sẽ tha thứ cho chúng ta, như lời Ngài đã phán:

- Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi để họ biết đường sám hối ăn năn.

  


 

9. Đổi mới

Nhà điêu khắc Donatello, một hôm từ chối không sử dụng khối đá cẩm thạch vì nó rạn nứt. Người ta mang khối đá này đến cho điêu khắc gia nổi tiếng Michel-Ange.

Xem xét khối đá, Michel-Ange cũng thấy những vết rạn nứt đó. Nhưng ông lại coi đó là một thách thức cho tay nghề của mình. Ông nhận khối đá và ra công đẽo gọt. Nhờ đó mà thế giới mới có được bức tượng vua Đavid, một công trình nghệ thuật sáng giá nhất từ trước tới nay.

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chọn gọi Matthêu làm môn đệ, một kẻ thu thuế, bị liệt vào hàng tội lỗi. Matthêu cũng giống như khối đá cẩm thạch rạn nứt, ông có rất nhiều tì vết: nào là bóc lột dân nghèo, tiếp xúc với người La Mã ngoại giáo, nên thường xuyên bị ô uế, phải loại ra khỏi hội đường. Tóm lại, ông là kẻ tội lỗi công khai. Đức Giêsu đã không nhìn ông với cái nhìn ấy, Người đã không khước từ, không phán đoán, không chê bỏ. Trái lại, Người chấp nhận ông với tất cả tội lỗi và tai tiếng nơi ông. Người không một chút do dự cho ông gia nhập vào Tông đồ đoàn, để huấn luyện ông trở thành môn đệ của Người, để ông nên một trong mười hai trụ cột của Giáo Hội như Phêrô, Giacôbê và Gioan…

Thiên Chúa luôn chấp nhận chúng ta với đầy tì vết và khiếm khuyết, đầy tội lỗi và bất toàn, miễn là chúng ta mau mắn đứng dậy đi theo Người. Theo Người không chỉ trong đôi ba ngày, nhưng theo Người suốt cả cuộc đời. Theo Người không chỉ trong lúc thuận buồm xuôi gió, nhưng cả trong cơn bão táp phong ba. Theo Người không chỉ trong cuộc sống công chính, nhưng còn cả trong lúc sa ngã phạm tội. Vì chính Người đã nói: ”Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, chỉ người đau ốm mới cần”.

Vâng, chính Người là vị thầy thuốc, không chỉ chữa bệnh phần xác, mà nhất là điều trị bệnh tâm hồn. Người không ngại ngồi đồng bàn với kẻ tội lỗi. Người không sợ phải chạm vào vết thương lỡ loét. Người mau mắn tìm đến những tội nhân. Người thâu nạp những con người hèn mọn. Vì chính Người đã tuyên bố: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”. Thật là an ủi biết bao cho chúng ta khi được nghe những lời ấy, vì chúng ta vốn đã là những tội nhân.

Vâng, người môn đệ chân chính của Đức Giêsu là người cần được chữa lành. Căn bệnh thật sự của họ chính là tội lỗi. Mục đích của Người khi xuống trần gian cũng là để cứu chuộc con người lỗi lầm. Tuyệt đỉnh nơi cái chết cao đẹp của Người trên thập giá, chính là lời xin tha cho những kẻ hành hạ Người. Vì thế mọi thánh lễ trần gian đầy dẫy những lời xin tha thứ. Kinh Lạy Cha sẽ trở nên vô nghĩa khi người đọc không thật lòng tha thứ cho anh em. Bởi vì: ”Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế”.

Vâng, người môn đệ chân chính của Đức Giêsu là người cần được tha thứ. Không tội lỗi nào mà Người chẳng thứ tha. Người không bao giờ tuyệt vọng trước các tội nhân, nhưng luôn tin tưởng và hy vọng. Giáo Hội không phải là một cộng đoàn thánh thiện, nhưng là tập thể những tội nhân được hoán cải mỗi ngày.

Nếu có bình minh là có đổi mới. Đã bước đi theo Người là có thay đổi. Từ Lêvi thu thuế trở thành Matthêu tông đồ, từ Saolê bắt đạo trở nên Phaolô tông đồ dân ngoại, từ Simon chối Thầy biến thành Phêrô đá tảng Giáo Hội. Cuộc đời tưởng chừng như đã khép lại với các ngài, nhưng nay đang rộng mở thênh thang. Điều kiện để được đổi mới chính là trung thành bước theo Đức Kitô và ngoan ngoãn thực thi giáo huấn của Người. Theo Đức Kitô thì bước chân nào cũng mang dấu vết của thân thiện và nở hoa yêu thương. Thực thi giáo huấn của Người như thấy cỏ cây xanh tươi hơn, nắng chan hòa ấm cúng, con tim reo vui hạnh phúc.

  


 

10. Nhân nghĩa

Thiền sư Muju kể lại rằng:

Một buổi chiều kia khi thiền sư Shichiri Kojun đang tụng kinh thì một tên cướp cầm gươm bước vào và bảo Shichiri đưa tiền cho hắn, nếu không hắn sẽ giết chết.

Thiền sư Shichiri nói với hắn:

- Đừng có làm phiền ta. Tiền trong ngăn kéo kia, anh có thể lấy đi.

Rồi Shichiri tiếp tục tụng kinh. Một lát sau Shichiri bảo tên cướp:

- Đừng có lấy hết nghe. Ta cần một ít để mai đóng thuế.

Tên cướp nhặt gần hết số tiền và chuồn đi. Shichiri nói với theo:

- Hãy cám ơn người ta khi anh nhận quà chứ.

Tên cướp cám ơn ông rồi ra đi.

Ít ngày sau tên cướp bị bắt. Giữa đám đông hắn khai đã ăn cướp của Shichiri. Khi Shichiri được mời đến ông nói:

- Người này không phải ăn cướp, ít nhất là của tôi. Tôi đã cho anh ta tiền và anh ta đã cảm ơn tôi.

Sau khi mãn tù, tên cướp đến thăm Shichiri và trở thành một đệ tử của ông.

Lòng nhân từ của vị thiền sư đã cứu vớt được một con người khỏi vòng lao tù và nhất là đã cứu cho cuộc đời anh khỏi hư mất. Phải chăng vị thiền sư đã phản ảnh được phần nào nhân cách của Chúa Giêsu?

Thật vậy, Chúa Giêsu không chỉ xử nhân từ với một người mà với tất cả mọi người. Người không chỉ xử nhân từ một vài lần nhưng là mãi mãi. Chính nhờ lòng nhân từ của Người mà biết bao nhiêu người đã được cứu thoát. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng. Chúa Giêsu không bao che cho những tội lỗi của ông Lêvi. Trái lại, Người xác nhận ông là kẻ tội lỗi. Người không bao giờ phong thánh cho ông vì những tội lỗi của ông. Nhưng chính vì tội lỗi của ông mà Người đã tìm đến với ông và kêu gọi ông:”Tôi không đến để kêu gọi người công chính mà là để kêu gọi người tội lỗi”.

Trái với thái độ nhân từ của Chúa Giêsu là thái độ nghiêm khắc của những người biệt phái. Họ nghiêm khắc với ông Lêvi, một người bị liệt vào hàng tội lỗi. Đối với họ, những kẻ tội lỗi không đáng được Thiên Chúa yêu thương. Hơn thế nữa, những kẻ tội lỗi chính là thủ phạm đã kéo cơn giận của Thiên Chúa xuống. Những người biệt phái cũng không tin vào khả năng hoán cải của những kẻ tội lỗi. Đối với họ, sẽ không có con đường nào khác mở ra cho những con người này. Kẻ tội lỗi sẽ phải chết trong tội lỗi của mình. Không chỉ nghiêm khắc với những người tội lỗi, người biệt phái còn nghiêm khắc cả với Chúa Giêsu nữa. Họ không chấp nhận việc Chúa Giêsu hòa đồng với bọn tội lỗi đến độ liều lĩnh đặt mình vào nguy cơ lây nhiễm sự ô uế của bọn tội lỗi ấy.

Khi chọn một người thu thuế làm môn đệ của mình, Chúa Giêsu đã làm đảo lộn tất cả những quan niệm của người đương thời về tội lỗi và về sự thánh thiện. Người có cách chọn lựa của riêng Người. Đối với Người, kẻ thánh thiện không phải là kẻ chỉ biết tuân giữ một cách máy móc những lề luật của Thiên Chúa. Còn cần phải có lòng nhân từ để cảm thông, để tha thứ những lỗi lầm của người khác nữa. Đồng thời cũng cần phải tin vào khả năng sám hối của những con người tội lỗi và tạo điều kiện để họ có thể ăn năn trở về.

Chúng ta thường phân chia thế giới, phân chia cộng đoàn của mình thành hai phe. Phe thiện và phe ác. Và chúng ta thường liệt mình vào phe thiện để rồi kết án những người mà ta cho là thuộc phe ác. Trước nhan Thiên Chúa mọi người đều là tội nhân. Người Kitô hữu chân chính không phải là người tốt hơn những người khác, nhưng là người ý thức mình tội lỗi và muốn đến gần Chúa Giêsu để được chữa lành. Chúa Giêsu đến trong thế gian để kêu gọi và chữa lành tất cả mọi người trong đó có chúng ta. Do đó, chúng ta đừng ảo tưởng về sự thánh thiện cũng như đừng thất vọng về tội lỗi của mình. Cả hai điều ấy sẽ ngăn cản chúng ta đón nhận ơn tha thứ và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Hơn nữa, nếu như Thiên Chúa không chấp tội, không đóng đinh bất cứ ai trong những lỗi lầm mà họ đã vấp phải, trái lại, Người tin vào khả năng đổi đời của tất cả mọi người thì chúng ta không có lý do gì để khóa chặt cuộc đời người khác trong tội lỗi của họ và cho rằng họ là đồ bỏ đi, là đồ hết xài.

Sự đối xử nhân từ với tha nhân chính là chìa khóa mở cửa Nước Trời cho chúng ta.

  


 

11. Kêu gọi

Có một vị ẩn sĩ kia sống tịnh niệm và chay tịnh đến độ suốt ngày không động đến thức ăn và nước uống. Từ trên đỉnh núi cao, ai ai cũng thấy có một ngôi sao xuất hiện giữa ban ngày, đó là dấu hiệu trời cao chấp thuận của lễ hi sinh của ông. Một hôm, vị ẩn sĩ quyết định leo lên núi cao. Ông muốn vươn lên cao hơn trong sự khổ chế. Vừa lúc ông đang leo núi, thì một cô bé trong làng chạy tới xin đi theo. Không thể từ chối được, vị ẩn sĩ đành để cho cô bé đi theo. Họ ra đi khi mặt trời vừa lên. Nhưng không mấy chốc, ánh nắng mỗi lúc một chói chang, cả vị ẩn sĩ lẫn cô bé đều cảm thấy khát nước. Vị ẩn sĩ vẫn cố gắng khắc phục cơn khát của mình, nhưng ông lại giục cô bé hãy uống nước. Cuối cùng, không ai chạm đến nước. Vị ẩn sĩ không uống nước vì lời thề của mình, còn cô bé không nỡ uống một mình.

Họ càng đi, cơn khát càng dằn vặt. Đến một lúc, vị ẩn sĩ không nỡ nhẫn tâm nhìn thấy cô bé phải quằn quại trong cơn khát. Cuối cùng, ông đành lỗi lời thề. Ông cầm lấy bình nước đưa lên miệng uống và lúc bấy giờ cô bé cũng mỉm cười uống nước với ông. Sau khi đã uống nước, vị ẩn sĩ không dám nhìn lên trời cao nữa. Ông cứ đinh ninh rằng vì sao hiện ra mỗi ngày như một chứng giám cho sự khổ chế của ông, giờ đây có lẽ đã biến mất. Thế nhưng, trước sự ngạc nhiên vỡ lở của ông, khi ông ngước mắt nhìn lên đỉnh núi, ông thấy có hai vì sao lấp lánh như mỉm cười với ông.

Để mạc khải cho chúng ta bộ mặt thông cảm, nhân từ, yêu thương của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã không ngần ngại đến ngồi đồng bàn với những người thu thuế, những kẻ tội lỗi. Bài tin mừng hôm nay đã ghi lại rằng: khi đi qua dãy bàn thu thuế, Ngài đã nhìn thấy Matthêu. Ngài đã kêu gọi ông và cho ông nhập vào số các tông đồ của Ngài. Là một người thu thuế, mặc nhiên Matthêu là kẻ thù của những người Do thái thời đó. Trước hết là vì những người thu thuế thường lạm dụng nghề nghiệp để làm giàu cho chính mình. Và thứ hai là cộng tác với quân ngoại xâm để bóc lột chính đồng bào, đồng chủng của mình.

Đối với Chúa Giêsu, khi nhìn thấy Matthêu, Ngài đã có một cái nhìn khác. Ngài đã khám phá ra những điểm tích cực nơi ông chứ không vơ đũa cả nắm để nghi kị xa lánh ông. Hơn nữa, Ngài còn quăng cho ông một cái phao để cứu ông khỏi vũng bùn nhơ. Ngài đã kêu gọi ông. Và đúng như sự tin tưởng của Chúa, Matthêu đã can đảm đứng lên dứt khoát đi theo Chúa.

Rồi trong bữa tiệc do Matthêu khoản đãi, những người bạn thu thuế của ông ngồi đồng bàn với Chúa Giêsu. Thấy thế, những người Pharisêu đã tỏ ra khó chịu. Chúa Giêsu đã nói với họ: ”Không phải những người khỏe mạnh cần đến thầy thuốc, mà chính là những người đau yếu. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”.

Với một cái nhìn thiết thực, với một câu nói tích cực, Chúa Giêsu đã biến kẻ thù thành bạn, biến kẻ gian dối thành môn đệ, biến kẻ chỉ biết dùng đôi tay để đếm tiền, dùng khối óc để tìm mánh khéo làm điều bất chính thành người dùng đôi tay mình, dùng khối óc mình để viết Tin Mừng. Ngoài ra, không những Chúa Giêsu đã có cái nhìn tích cực với từng cá nhân mà Ngài còn có cái nhìn tích cực với một lớp người, với một đoàn thể. Vì thế, Ngài đã tiếp xúc, ngồi ăn uống với những người bị xã hội thời đó, nhất là những người Pharisêu, khinh thường và bị lên án là những kẻ tội lỗi. Ngài đã biện minh cho hành động của Ngài: Ngài là một y sĩ, trước hết phải tìm đến với bệnh nhân. Nhưng điều kiện để đến gần mọi người, tiếp xúc với mọi người là phải có cái nhìn tích cực về họ, vì tin tưởng rằng mọi người đều có những khía cạnh tốt, những đức tính hay; mọi người đều có thể hoàn thiện và hoán cải cuộc sống; mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương và có thể yêu thương.

Như vậy, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta thấy rằng cốt lõi của Tin Mừng, cốt lõi của đạo chính là tình thương. Thực thi bác ái là việc ăn chay có giá trị nhất, là của lễ cao đẹp nhất mà con người có thể dâng lên Thiên Chúa. Nếu chỉ có một vì sao mọc lên để chứng giám cho một hành động khổ chế, thì sẽ có hai vì sao hiện ra để xác nhận cho họ một hành động bác ái. Thật ra, bác ái đích thực cũng là một hành động khổ chế, bởi vì nó đòi hỏi con người phải chết cho bản thân, phải ra khỏi chính mình để đến với người khác.

Chúng ta đọc kinh, dâng lễ, ngắm đàng thánh giá, lần hạt Mân côi, ăn chay… tốt lắm, nhưng nếu không có lòng bác ái yêu thương thì vẫn chưa đủ, vẫn thiếu sót, nhất là thể hiện tình yêu thương đối với những người yếu đuối, lầm lỡ, tội lỗi. Chúa Giêsu luôn có cái nhìn tích cực về mọi người, hơn nữa, Chúa đã hòa mình với mọi người để đưa mọi người về với Chúa. Chúng ta hãy noi gương Chúa. Xin Chúa cho chúng ta luôn có cái nhìn tích cực về mọi người để khám phá những điểm hay, điểm đẹp, điểm tốt nơi họ; và cũng xin Chúa cho chúng ta biết đối xử với nhau bằng tình yêu thương trong mọi hoàn cảnh.

  


 

12. Người bạn

Những người Pharisêu khinh miệt tội nhân, nhưng Đức Giêsu đối xử tốt với tội nhân. Vấn đề không phải chỉ là một ít lời nói tử tế, một vài cử chỉ của Người. Người liên kết với tội nhân, ăn uống với họ. Người không chỉ khoan dung với họ. Người còn tiếp đón họ. Trong sự hiện diện của Người, họ cảm thấy được chấp nhận và yêu thương như chính họ là thế. Vì vậy, không nên ngạc nhiên nếu nhiều người trong số họ quan tâm đến sứ điệp của Người và thay đổi đời sống của họ. Matthêu là một ví dụ.

Thái độ của Đức Giêsu đối với tội nhân là một thái độ nhân ái và thuyết phục hơn là lên án và tố giác. Người không chờ tội nhân hối cải trước khi trở thành bạn của họ. Không, Người đối xử tốt với họ khi họ còn trong tình trạng có tội. Đó là điều gây phẫn nộ cho các nhà cầm quyền tôn giáo: họ thấy Người kết giao với tội nhân và vui vẻ với họ trong khi họ vẫn còn là những tội nhân. Cho đến hôm nay một số người cho rằng thương xót tội phạm là sự phản bội nạn nhân. Vì thế những người Pharisêu nhìn thấy Đức Giêsu thương xót tội nhân là một người phản bội nhân đức.

Sự biện hộ của Đức Giêsu rất thẳng thắn: Người nói Người đến nơi nào cần Người nhiều nhất. Khi kết giao với những người tội lỗi, người không tha thứ hoàn cảnh của họ. Đúng hơn, Người cố gắng chỉ ra cho họ một đời sống mới. Nhưng Người không thể làm điều ấy nếu không kết giao với họ và thông cảm với họ. Bạn không thể cải thiện con người bằng cách xa lánh họ. Khi gần gũi họ, Đức Giêsu biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.

Đức Giêsu đã không thiếu các nguyên tắc đạo đức khi ngồi chung bàn và hòa hợp với các tội nhân. Đúng ra nhân tính của Người phong phú và sâu xa đủ để Người tiếp xúc với cốt lõi của lòng tốt mà người ta tìm thấy trong mọi tâm hồn và trên đó, một tương lai phải được xây dựng. Người đặt họ tiếp xúc với cốt lõi ấy trong chính họ. Lòng tốt của Người gợi lên lòng tốt trong họ.

Hẳn sẽ dễ dàng hơn, an toàn hơn và đại chúng hơn nếu Người đi chung với những người tốt. Nhưng Người không nghĩ về mình. Người nghĩ về người khác và về sứ mạng mà Chúa Cha đã giao cho Người. Người không đến để kêu gọi những người đạo đức mà kêu gọi những người tội lỗi phải hối cải.

Có một người sống trên cùng một con đường với một ông bác sĩ. Chừng nào sức khỏe ông ta còn tốt, ông không có lý do gì đến nhà ông bác sĩ. Vì thế, ông không biết tí gì về ông bác sĩ. Ông bác sĩ dường như là một người tử tế, ông ấy nghe một người đã được bác sĩ giải phẫu cho nói rằng ông bác sĩ là một người nhân từ và tốt bụng.

Thế rồi ông ấy bị bệnh và lập tức ông ấy đến gặp bác sĩ. Bác sĩ tiếp đón ông, nói với ông một cách lịch sự và khám bệnh cho ông với sự nhẫn nại và tỉ mỉ.. Bác sĩ định bệnh và viết toa thuốc cho ông. Trong vòng một tuần lễ ông khỏe trở lại.

Giờ đây, ông trực tiếp biết bác sĩ là hạng người nào. Trước đây, ông chỉ biết bác sĩ qua lời người khác nói. Giờ đây ông đã có kinh nghiệm về lòng nhân lành của ông bác sĩ và điều đó chỉ xảy ra khi ông bị bệnh. Sau này, ông nói với một người láng giềng: ”Không ai muốn bị bệnh. Nhưng nếu bị bệnh thì thật là thú vị khi biết rằng có một ông bác sĩ như ông ấy ở gần mình”.

Nếu chúng ta là những người có tội và ai trong chúng ta không phạm tội? – Đức Kitô không vì thế mà yêu thương chúng ta ít hơn. Được yêu thương vì hoàn hảo không làm cho chúng ta tốt nhiều hơn. Chúng ta cần được chấp nhận và yêu thương chính xác vì chúng ta là những tội nhân.

Chúng ta cảm nghiệm lòng nhân từ và thương xót của Đức Kitô trong và qua tội lỗi của chúng ta. Nếu chúng ta không bao giờ phạm tội, chúng ta không bao giờ biết được ơn tha thứ của Người. Đó không phải là một lời bào chữa cho việc phạm tội. Nhưng thật thú vị khi biết rằng đó là cách mà Đức Giêsu đón nhận những người tội lỗi.

Các thánh là những chứng nhân của Thiên Chúa – điều đó thì hiển nhiên. Nhưng những tội nhân hối cải cũng là chứng nhân của Thiên Chúa. Đó là một loại chứng tá khác hẳn, nhưng rất chân thực và luôn luôn cần thiết. Các thánh làm chứng về ân sủng và lòng trung tín của Thiên Chúa. Còn các tội nhân làm chứng về tình yêu và lòng thương xót của Người. Hơn thế nữa, Đức Giêsu chấp nhận những tội nhân hối cải được phục vụ như: Maria Mađalêna, Phêrô, Tôma, Matthêu.

  


 

13. Ơn gọi

Ngày hôm nay, Jean Vanier được biết đến trên khắp địa cầu. Trong giai đoạn đầu của đời ông, ông có được một công việc tốt ổn định, trả lương cao, ông làm giảng viên đại học. Nhưng rồi ông bỏ tất cả và quyết định cống hiến đời mình cho người mắc bệnh tâm thần. Tại sao? Vì công việc giảng dạy không làm ông thỏa mãn. Đời ông như thiếu một cái gì. Ông nói “Điều tôi muốn không phải là một việc làm mà là một việc gì đem lại cho tôi cảm giác say mê. Tôi thích giúp đỡ mọi người, đặc biệt là những người bệnh tâm thần”.

Khi Đức Giêsu đi ngang qua chỗ thu thuế, Người thấy có một người thu thuế tên là Matthêu ngồi đó. Người dừng lại và nói chuyện với ông. Người không đe dọa cũng không khen thưởng. Người nói một cách đơn giản “Anh hãy theo tôi!” Và Matthêu lập tức đứng dậy đi theo Người. Chúng ta giải thích điều đó như thế nào? Vì Tin Mừng không cho chúng ta lời giải thích nào về quyết định của Matthêu đi theo Đức Giêsu, nên chúng ta chỉ có thể đoán. Điều xảy ra cho Jean Vanier rất xác thực.

Vào thời đó, những người thu thuế bị dân chúng ghét bỏ. Có thể Mátthêu không thỏa mãn với công việc. Có thể công việc đem lại cho ông ta mọi thứ và ông tìm kiếm một thách đố mới. Có thể có một sự trống rỗng trong đời sống của ông. Có thể ông đã đi đến chỗ phải suy nghĩ về mình trong đời “Đời sống phải có cái gì hơn thế này chứ”.

Vả lại, có lẽ ông đã theo một nghề làm hư hỏng linh hồn. Vì thế khi Đức Giêsu cho ông cơ hội để làm một điều gì đó tốt hơn cho cuộc đời mình, ông đã nắm lấy ngay với cả hai tay. Xem ra ông đau khổ và khát vọng điều thiện hảo không được thỏa mãn. Lời kêu gọi của Đức Giêsu có thể làm ông nhớ lại giấc mơ mà có lần ông mơ thấy là làm một điều gì đáng giá với cuộc đời mình.

Dù sự đáp lại của ông xuất phát từ lý do nào thì việc ấy không dễ dàng với ông. Nghề thu thuế là một công việc ổn định và có nhiều lợi lộc. Tuy nhiên, ông nhận được nhiều hơn ông từ bỏ. Trước khi gặp gỡ Đức Giêsu, ông có một nghề nghiệp. Sau cuộc gặp gỡ đó, ông có một ơn gọi.

Một nghề nghiệp và một ơn gọi khác nhau dù không loại trừ nhau. Chúng ta có thể thực hiện ơn gọi qua một nghề chuyên môn – thầy cô giáo, y tá, bác sĩ… Nhưng một ơn gọi có thể không bao giờ bị giản lược vào những hoạt động ấy. Ơn gọi là một điều sâu xa hơn. Nó bao hàm một quan điểm, một động lực, một sự hiến dâng. Một nghề nghiệp thường có nghĩa là thăng tiến chính mình. Ngưng một ơn gọi có nghĩa là phục vụ những người khác.

Bữa tiệc theo sau sự trở lại của Mátthêu là bữa tiệc của những người tội lỗi và dành cho những người tội lỗi. Nhưng sự hiện diện của Đức Giêsu đã biến đổi bữa tiệc thành một cơ hội của niềm vui và một dịp cử hành lễ tế.

Mỗi ngày Chúa nhật, chúng ta cử hành bữa tiệc Thánh Thể. Đức Giêsu là chủ nhà, chúng ta những người có tội là khách. Trong bữa tiệc đó, chúng ta được nuôi dưỡng bằng lời Chúa và bánh Sự Sống. Và giống như Mátthêu, chúng ta được kêu gọi đến một điều gì tốt hơn – không nhất thiết là một nghề mới, nhưng là một cách sống mới.

Nếu có ai hay có việc gì làm chúng ta nhận thức sự trống rỗng của đời sống chúng ta, chúng ta không nên tuyệt vọng, đúng hơn, chúng ta phải vui mừng. Có thể đó là tiếng Thiên Chúa gọi chúng ta đến với một điều tốt hơn. Con người ổn định, thỏa mãn thiếu sự phát triển xa hơn. Vì thế, hãy chú ý đến điều gì bạn cảm thấy mơ hồ trong thâm tâm cho dù bạn không muốn cảm thấy nó.

Khi kêu gọi một người như Matthêu. Đức Giêsu chứng tỏ Người không chỉ nhìn một con người đang là gì nhưng cũng nhìn đến con người mà người ấy có thể trở thành.

  


 

14. Ta muốn

Thật đáng buồn khi nhìn thấy những người có đạo thiếu mất một thuộc tính nhân bản đứng đầu là lòng thương xót người khác. Đó là khuyết điểm chính của người Pharisêu. Tàn nhẫn và đứng đắn, họ nghiêm khắc thực hành nhân đức trong lúc lại lên án những người khác không đánh giá theo những tiêu chuẩn của họ.

Ngày xưa, có một tu viện trưởng rất thánh thiện tên là Anastasius. Thực vậy, ông được các bạn ẩn tu coi ông như một vị thánh. Một ngày kia, khi một tu sĩ có tên là James phạm tội và phải rời khỏi cộng đoàn. Anastasius đến cùng James và nói: “Tôi cũng là một người tội lỗi”. Tuy nhiên, James không hoán cải mà còn sa ngã nhiều hơn. Nhiều năm sau, James đến thăm Anastasius khi ông này đang đọc kinh chiều.

“Xin lỗi Cha vì đã làm gián đoạn sự cầu nguyện của cha và làm cha lỗi luật”: James nói

“Không sao đâu” Anastasius đáp lại “Luật của tôi là tiếp đón anh với lòng hiếu khách”.

Và ông đã cho James lương thực và chỗ ở qua đêm. Bấy giờ Anastasius có một bản chép lại Kinh thánh đã cũ và chỉ đáng giá một ít tiền. Khi thấy cuốn sách ấy James lấy trộm và đem theo mình sáng hôm sau khi rời tu viện. Khi Anastasius biết cuốn sách đã bị lấy trộm, ông không đi theo James vì sợ rằng ông sẽ làm cho James mắc thêm tội thề dối ngoài tội trộm cắp. Phần James, ông này đem cuốn sách đến một thương gia gần đó để bán và đòi giá cao.

“Hãy để tôi giữ cuốn sách trong một thời gian ngắn để xem nó có giá cao như thế không?” Người thương gia trả lời.

Rồi người thương gia đem cuốn sách đến Anastasius. Ông này ngắm nghía cuốn sách rồi nói: ”Phải, đây là một cuốn sách tuyệt vời, thật ra nó đáng giá nhiều hơn”. Người bán hàng quay về và nói với kẻ trộm những điều Anastasius đã nói:

James hỏi: “Ông ấy chỉ nói có thế phải không? Ông ấy không có nhận xét gì khác chứ?”

“Không” người bán hàng nói “Ông ta không nói thêm điều gì khác”.

Khi nghe những lời đó, James xúc động sâu xa và nói: ”Tôi đã đổi ý rồi, tôi không muốn bán cuốn sách này nữa”. Rồi ông ta vội vàng chạy đến Anastasius xin tha thứ và trả lại cuốn sách đã lấy cắp. Anastasius tiếp đón James với tất cả lòng tốt như trước đây.

Ông nói một cách đơn sơ. “Tôi tha thứ cho anh. Hãy giữ lấy cuốn sách. Mỗi ngày hãy đọc một ít để cầu xin Đức Kitô, Đấng đã tiếp nhận những người tội lỗi như chúng ta và đưa họ về với tình yêu của Thiên Chúa và sự thân ái của Người. Giờ đây anh hãy ra đi bình an”.

Những người bạn tu sĩ của ông ngạc nhiên khi thấy ông lãng phí thời gian vì một con người như James. Nhưng ông nói: ”Hãy nói tôi nghe, nếu chiếc áo chùng của anh em bị rách, anh em có vất nó đi không?”. Họ đáp “Không, chúng tôi sẽ vá lại và mặc lại nó”. Vậy ông nói: ”Nếu anh em còn chăm sóc cho chiếc áo như thế, Thiên Chúa há không thương xót một người mang hình ảnh của Người sao?”

Và sự nhân từ của Anastasius đã được đền bù. James đã thay đổi đời sống mình. Ông trở lại đời sống tu trì và sau này ông trở thành một người tốt lành thánh thiện.

Anastasius đã đặt lòng nhân từ, hiếu khách và thương xót đối với anh em đồng loại bên trên sự thực hành sám hối và tuân giữ luật. Ông làm theo gương mẫu của Đức Giêsu. Đức Giêsu ngồi ăn với những kẻ phạm tội, điều này có nghĩa là Người trở thành bạn họ.

Khi một người kết hợp tôn giáo chân thật với lòng nhân ái, bạn sẽ có được một sự kết hợp mạnh mẽ. Nó giống như gỗ cẩm lai được đánh bóng. Ở đây bạn có được sự thánh thiện chân thật. Những người như thế là những Đức Kitô khác.

Dâng của lễ cho Thiên Chúa là một điều cao cả. Nhưng bày tỏ lòng thương xót đối với người anh em đồng loại là một việc còn cao cả hơn và khó khăn hơn. Sau khi dâng của lễ chúng ta cảm thấy tốt lành, chúng ta đã làm một điều gì, ghi được công trạng nào đó. Bày tỏ lòng thương xót không dễ, nhất là khi người liên quan đáng bị trừng phạt, và khi chúng ta có quyền để trừng phạt người ấy. Có một điều nâng đỡ chúng ta là niềm xác tín chính chúng ta ở trong lòng thương xót của Thiên Chúa mỗi ngày. Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

  


 

15. Tình thương đền đáp tình thương

“Ta muốn tình yêu…”

Chúa nhật hôm nay dạy chúng ta suy niệm về lòng nhân từ hay thương xót của Chúa. Tiên tri Ôsê, trong bài đọc thứ nhất, là người đầu tiên đã ví tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại như mối tình giữa hai vợ chồng. Một mối tình như đám mây ban sáng, như sương phủ ban chiều. Nhà tiên tri mô tả tình yêu của Thiên Chúa dựa trên mối tình phu phụ mà ông đang sống để tìm hiểu mối tình sâu xa và cao cả của Thiên Chúa đối với chúng ta. Điều mà Chúa muốn là một sự hiến dâng hồn xác chứ không phải là những nghi lễ bên ngoài: “Ta muốn tình yêu chứ không muốn hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu”. Đối với Ôsê, các tội lớn lao hơn cả là tội ngoại tình, phụ bạc đối với Thiên Chúa như sự phản bội của hai người phối ngẫu.

Tình thương phải được đần đáp bằng tình thương. Thánh Phaolô kêu gọi sự đền đáp bằng một đức tin mạnh mẽ, cao thượng, phó thác như tổ phụ Abraham đã có. Ông tin tưởng vào Chúa. Ông trông cậy vào quyền năng thi hành điều Người đã hứa. Abraham là gương mẫu cho chúng ta trong niềm tin cậy vào Thiên Chúa. Ông nhìn thầy miêu duệ mà Chúa đã ban, mặc dầu tuổi già tàn tạ. Điều mà Abraham đã nhìn thấy thực hiện thì chúng ta càng có lý do để tin cậy và phó thác: đó là Chúa Giêsu đã chịu chết và cứu chuộc chúng ta, và Ngài đã từ trong cõi chết Phục sinh sống lại để chúng ta được rỗi, “được công chính hóa”.

Bài Phúc Âm, về ơn gọi Chúa dành cho ông Lêvi - Matthêu, là để nêu lên một gương sáng cho chúng ta phải đáp lại tình thương của Chúa như thế nào.

Matthêu đang ngồi bên két bạc, Chúa đi qua và phán: “Hãy theo Ta”. Ông đứng dậy đi theo Ngài. Lời của Chúa có một sức mạnh nhiệm mầu hoán cải trong nháy mắt tâm hồn của một người. khi tiếng Chúa vọng lên thì mọi mưu toan phàm tục lắng xuống: “Người ấy đứng dậy đi theo Ngài”. Và không phải theo một thời gian, năm ba tháng, mà theo suốt đời.

Phúc Âm lại cho biết tình trạng của người được gọi. Đó là một người “publicanô”, một người làm việc cho người ngoại bang, một người thu thuế, một người mà dân chúng vẫn coi là phường tội lỗi. Thế mà Chúa Giêsu không màng đến dư luận, còn kết nạp vào tập đoàn Tông đồ.

Nhân một bữa tiệc Matthêu khoản đãi Chúa và bạn hữu trước khi “bỏ mọi sự” để theo Thầy, Chúa Giêsu càng tỏ cho thấy lòng khoan nhân độ lượng của ngài đến mức độ nào! Người Biệt phái tự coi là những cảnh sát viên của lề luật, đến nói với các môn đệ: “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế?” Chúa trả lời thay cho họ: “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu!…Ta không đến để kêu gọi những người công chính, chưng kêu gọi những người tội lỗi”.

Chúa là một thầy thuốc đến để chữa lành bệnh tật thân xác và nhất là của linh hồn. Người Do thái tự cho mình là lành mạnh, vì họ nghĩ rằng sốt sắng giữ lề luật thì Thiên Chúa phải ban cho họ sức mạnh. Ngờ đâu: “Chúa muốn lòng nhân lành chứ không phải hy lễ”. Lời tiên tri Ôsê đã được thực hiện nơi Ngài: “Ta chỉ muốn tình yêu”.

Khi tỏ trái tim cho Thánh Nữ Margarita, Chúa phán: “Đây là trái tim thương loài người quá bội và loài người đã vô tình và tệ bạc”.

Lạy Chúa, xin cho con biết nhanh chóng đáp lại tình yêu của Chúa như Matthêu.

 


 

16. Kêu gọi người có tội

Không có ứng viên nào khó vào chức tông đồ cho bằng Matthêu. Matthêu là một người thu thuế, ông là công chức của ngành thuế vụ, thu tiền bạc của dân chúng vào công quĩ.

Chính quyền La mã lúc bấy giờ đặt ra hệ thống thu thuế hiệu quả và đỡ tốn kém nhất: họ cho đấu thầu thu thuế ở các khu vực. Một người mua được quyền thu thuế ở một địa phận nào phải chịu tránh nhiệm với chính quyền La mã về một số tiền thỏa thuận. Nếu người đó thu thuế cao hơn thì có quyền giữ, xem như tiền hoa hồng. Rõ ràng hệ thống này sinh ra những lạm dụng nghiêm trọng. Vào thời ấy, chưa có báo chí, chưa có máy truyền thanh, chưa có phương tiện truyền thông rộng rãi, người ta không biết sự thật mình phải đóng bao nhiêu mà cũng chẳng có quyền khiếu nại người thu thuế. Kết quả là nhiều người thu thuế trở nên giàu có do sự cưỡng thu bất hợp pháp. Hệ thống này đưa đến sự lạm dụng đến nỗi phải hủy bỏ tại xứ Palestine trước thời Chúa Giêsu . Tuy nhiên thuế vẫn cứ phải đóng và tất nhiên vẫn còn nhiều lạm dụng.

Những người thu thuế đều bị dân chúng ghét vì họ phục vụ những kẻ xâm chiếm xứ sở và thâu góp của cải làm giàu trên sự bất hạnh của đất nước. Dùng ngôn ngữ hiện đại thì họ là đồ "phản quốc". Họ là những người gian trá, chẳng những họ bóc lột đồng bào mình mà còn dùng đủ mọi cách lừa gạt chính phủ, họ có lợi tức rất lớn bằng cách nhận hối lộ của những người giàu có muốn trốn thuế. Ở đâu cũng ghét bọn thu thuế, nhưng với người Do thái sự khinh ghét tăng gấp bội. Người Do thái là người quốc gia cuồng tín, điều thôi thúc dân Do thái hơn cả là niềm tin tôn giáo rằng chỉ Thiên Chúa là Vua, và nộp thuế cho nhà cầm quyền là vi phạm quyền lợi của Thiên Chúa và làm sỉ nhục cho sự oai nghiêm của Ngài. Theo luật Do thái, người thu thuế bị cấm không được vào nhà hội, người ấy bị coi là vật vô tri, là thứ không tinh sạch. Họ bị cấm không được làm nhân chứng cho bất cứ trường hợp nào, "các kẻ trộm cướp, sát nhân, người thu thuế" đều bị xếp chung một loại (Lev 20,5).

Khi Chúa Giêsu gọi Matthêu thì Người đã kêu gọi một người mà ai cũng ghét. Đây là một trong những việc lớn nhất trong Tân Ước về quyền năng của Chúa Giêsu . Ngài không chỉ biết một người đang như thế nào mà còn thấy được họ sẽ trở nên như thế nào. Chưa từng ai dám tin về khả năng thay đổi con người cho bằng Chúa Giêsu .

Không biết Matthêu đã từng gặp Chúa Giêsu chưa nhưng chắc đã từng nghe nói người Galilê này đã đến với một sứ điệp hoàn toàn mới lạ và phán dạy với một uy quyền chưa ai từng thấy, Người đã kết bạn với những kẻ bị người chính thống ghê tởm lánh xa. Chắc chắn Matthêu đã nghe đám đông bàn tán và thấy lòng mình rung động. Có lẽ ông tự nhủ: nếu bây giờ lên đường tìm kiếm một thế giới mới, lìa bỏ cuộc sống cũ, những hổ nhục cũ và làm lại cuộc đời chắc chắn cũng chưa muộn. Ông thấy Chúa Giêsu đứng trước mặt mình, ông nghe Ngài thách thức và Matthêu chấp nhận lời thách thức đó, đứng dậy bỏ mọi sự mà theo Ngài.

Chúng ta phải để ý đến điều Matthêu đã mất và điều ông đã tìm được. Ông đã mất công ăn việc làm thuận lợi nhưng đã được cuộc đời. Ông đã mất lợi tức nhưng tìm được danh dự. Ông mất sự an ninh thoải mái nhưng tìm được cuộc phiêu lưu mình chưa bao giờ mơ tưởng... Có thể khi chấp nhận lời thách thức của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy mình nghèo hơn về vật chất, và có lẽ chúng ta phải từ bỏ những tham vọng trần gian. Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ tìm gặp được sự bình an, vui mừng cùng những hứng khởi của cuộc đời mà trước kia ta chưa từng biết. Trong Chúa Giêsu , chúng ta tìm được sự giàu cón hơn hẳn mọi điều mình phải bỏ vì cớ ngài.

Chúng ta cũng phải lưu tâm điều Matthêu đã từ bỏ và điều ông ấy mang theo. Ông rời bỏ bàn thu thuế nhưng đem theo cây bút viết. Đây là một thí dụ sáng chói về việc Chúa Giêsu xử dụng bất cứ khả năng nào con người đem dâng cho Chúa. Có lẽ các người khác trong nhóm mười hai môn đệ không quen thuộc lắm với cây bút viết. Các ngư phủ Galilê không có tài viết lách như Matthêu có, và ông đã chép cuốn sách đầu tiên về giáo huấn của Chúa Giêsu , đáng liệt vào sách quan trọng nhất thế gian.

Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi Matthêu làm người đi theo Ngài mà thực sự Ngài đã đến ngồi đồng bàn với những người giống như Matthêu, các kẻ thu thuế và tội nhân công khai. Hành động này trái tai gai mắt giới luật sĩ và biệt phái. Nói chung trong xứ Palestine nhân dân phân chia làm hai thành phần: những người giữ luật pháp cách nghiêm chỉnh, tỉ mỉ là người theo phe chính thống, bên cạnh họ là những người không giữ luật lệ chi tiết như vậy. Hạng thứ hai này được kể là dân mất gốc, người ta cấm người chính thống không được đi với họ, không được buôn bán kinh doanh chung với họ, không cho họ làm gì và cũng không nhận gì của họ, không được khoản đãi họ như khách trong nhà. Đối với những người như thế, Chúa Giêsu đã làm điều người tin kính đương thời không bao giờ làm.

Luận cứ biện minh của Chúa Giêsu rất đơn giản: Chúa phán: Ngài chỉ đến nơi nào cần Ngài hơn hết. Ngài sẽ là bác sĩ tầm thường nếu chỉ thăm viếng những người khoẻ mạnh. Chỗ của bác sĩ là nhà của những người đau, sự vinh hiển và công tác của Ngài là đến với những ai cần Ngài.

Diogens là một trong các triết gia nổi tiếng của Hi lạp thuở xưa, là người chuộng đức hạnh và có óc phê phán sắc bén. Ông không bao giờ chán so sánh sự suy đồi của Athen với sự bình dị của Sparta. Một hôm có người bảo: "Nếu ông đánh giá cao về Sparta và quá thấp về Athen, tại sao ông không bỏ Athen và đến ở Sparta?" Ông đáp: "Điều tôi muốn làm là tôi phải ở nơi nào người ta cần tôi hơn hết". Chính người có tội cần Chúa Giêsu nên Ngài đã ở giữa vòng tội nhân.

Khi Chúa Giêsu phán: "Ta đến không phải để kêu gọi người công chính nhưng kêu gọi người có tội" thì chúng ta cần hiểu điều Ngài muốn nói. Chúa không bảo có người quá tốt đến nỗi không cần đến Ngài, lại càng không phải Ngài có ý nói Ngài không quan tâm đến những người tốt. Hiểu như thế là quá gượng ép. Chúa Giêsu phán: "Ta không đến kêu gọi những người tự mãn, tin vào nhân đức riêng đến nỗi không cần đến ai. Ta đến để kêu gọi những người ý thức về tội lỗi mình và thật cần đến một Chúa Cứu Thế". Ngài muốn nói rằng: chỉ những kẻ ý thức họ cần Ta mới có thể tiếp nhận lời kêu gọi của Ta.

Ngày nay quan điểm về tôn giáo của các thầy luật sĩ và biệt phái vẫn chưa chết:

1) Họ rất quan tâm đến việc giữ gìn đạo đức riêng hơn là giúp đỡ người khác về vấn đề tội lỗi. Họ giống các bác sĩ từ chối thăm viếng kẻ đau vì sợ nhiễm trùng lây bệnh. Họ ghê tởm lùi lại, tránh người tội, họ không muốn liên hệ gì với người như thế. Tôn giáo của họ chủ yếu là ích kỷ, chỉ lo cứu linh hồn họ hơn là cứu linh hồn kẻ khác, nhưng họ đã quên rằng đó là con đường chắc chắn nhất làm mất linh hồn chính mình.

2) Họ quan tâm đến chỉ trích hơn là khuyến khích. Họ chỉ lo phơi bày những lỗi lầm của người khác chứ không vượt thắng những lỗi lầm đó. Thấy một chứng bệnh ghê tởm có thể khiến người khác buồn nôn, vị lương y chẳng những không sợ mà lại sẵn lòng cứu giúp. Thái độ đầu tiên của chúng ta là không bao giờ lên án tội nhân, trái lại phải cứu giúp họ.

3) Họ thực hành lòng nhân đức mà kết quả lại là lên án thay vì tha thứ và thông cảm. Họ để mặc người ta ở trong chỗ bùn nhơ hơn là giúp người ta ra khỏi đó. Họ giống như các bác sĩ rất quan tâm đến sự chẩn đoán bệnh nhưng chẳng chẳng để tâm giúp chữa cho lành. Họ chỉ lo nhìn cách khinh thị chứ không có thiện cảm giúp đỡ.

4) Họ thực hành một tôn giáo bao gồm vẻ chính thống bên ngoài hơn là giúp đỡ cách thiết thực. Chúa Giêsu trích câu Kinh Thánh trong Ôsê 6,6 rằng: Chúa Trời ưa sự thương xót chứ không ưa thích của lễ, và Ngài trích dẫn nhiều lần (Mt 12,7). Một người có thể siêng năng theo đúng nghị quyết tin kính chính thống, nhưng nếu chẳng bao giờ chịu đưa tay ra cứu giúp tội nhân, người thiếu thốn, thì người ấy không phải là người tin kính.