Chúa nhật 11 Thường Niên A

Lời Chúa: Xh. 19, 2-6a; Rm. 5, 6-11; Mt. 9, 36 – 10,8

MỤC LỤC

 

1. Thợ gặt

2. Ánh mắt cứu độ

3. Thời giờ cấp bách

4. Nhóm Mười Hai

5. Chú giải của Giáo Hoàng học viện Đà Lạt

6. Suy niệm của Noel Quession

7. Phương pháp hiệu quả nhất

8. Sứ mạng đầu tiên của mười hai tông đồ

9. Truyền giáo

10. Ơn thiên triệu

11. Người chạnh lòng thương

12. Tình yêu

13. Bình an

14. Đức Kitô

 

1. Thợ gặt

Thánh Phanxicô Xaviê, trong một bản tường trình đã viết như sau:

“Nhiều người ở đây đã không thể trở thành Kitô hữu, chỉ vì chẳng có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ. Con cảm thấy bị thôi thúc muốn đến các đại hoạc Âu Châu, đặc biệt là đại học Sorbonne ở Paris, để la lên, như một gã điên, cho những người giàu trí thức hơn là thiện chí, yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích. Phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ qua tài năng Ngài đã ban cho họ. Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động kêu lên:

- Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con phải làm gì?”

Lá thư trên khiến cho chúng ta nhớ tới lại Chúa phán:

- Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình (Lc 10,2).

Lời phán dạy này, cho đến hôm nay, vẫn còn mang tính cách thời sự nóng bỏng của nó. Tuy nhiên, trước khi đi vào sứ mạng truyền giáo, chúng ta nên tìm hiểu về mùa gặt và thợ gặt.

Vậy trước hết mùa gặt là gì? Tôi xin thưa mùa gặt, hay lúa chín là tất cả những người hiện đang tìm kiếm Chúa, tìm kiếm chân lý, tìm kiếm mục đích và ý nghĩa cuộc đời.

Còn thợ là những ai? Tôi xin thưa là tất cả chúng ta, bởi vì mỗi người chúng ta đều có thể và phải là một người thợ gặt được sai đến trên cánh đồng truyền giáo.

Thế nhưng, tại sao ngày hôm nay lại có quá ít thợ gặt như vậy?

Lý do thứ nhất là vì chúng ta không thực hành điều Chúa đã truyền: Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình (Lc 10,2). Thực vậy, có bao nhiêu người trong chúng ta, thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ để họ nghiêm chỉnh đáp trả ơn gọi của Chúa. Có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình để họ nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện và bằng những giúp đỡ tài chính hoặc làm bất cứ việc gì.

Lý do thứ hai khiến ngày nay có ít thợ gặt liên quan đến các gia đình. Liệu gia đình chúng ta có còn là thửa vườn ươm trồng ơn gọi hay không? Là những bậc cha mẹ, chúng ta đã nói cho con em chúng ta về việc chọn lựa đời sống tu trì như thế nào?

Sau cùng, lý do thứ ba liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta, đó là chúng ta có sẵn sàng hiến dâng cho Chúa trong nếp sống tu sĩ, khi chúng ta còn là một thanh niên hay không? Còn nếu như đã lớn tuổi thì liệu chúng ta đã làm gì để dấn thân vào mùa gặt. Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó để trực tiếp giúp cho việc truyền giáo.

 


 

2. Ánh mắt cứu độ

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 9, 36 – 10,8

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Nhưng ngày nay người ta ít có thời giờ nhìn nhau, nên tình yêu không đến. Người ta quá bận rộn vì cuộc sống ngày càng vội vã. Ra đường là đi như chạy để tranh thủ thời gian. Nên không có thời giờ nhìn, hỏi han, trò truyện, thông cảm. Và vì bận rộn nên nhiều lần ta lẩn tránh không muốn nhìn những thảm cảnh chung quanh, ngay trước mắt ta.

Chúa Giêsu thì không như thế. Người nhìn thấy đám đông và chạnh lòng thương. Nếu nhìn một đám đông thoáng qua thì khó mà chạnh lòng thương. Chạnh lòng thương là tức là đã nhìn kỹ từng người, thấy rõ hoàn cảnh đáng thương của từng người. Đứng trước một đám đông, Chúa vẫn có thời giờ nhìn kỹ từng người, vì Chúa quan tâm đến số phận của từng người.

Khi nhìn ngắm kỹ lưỡng, sẽ hiểu rõ. Khi hiểu rõ sẽ dễ chạnh lòng thương. Tuy nhiên từ ánh mắt đến trái tim là một khoảng cách rất gần mà cũng rất xa. Trái tim con người thật khó hiểu. Khi mở ra thì bao la ngàn trùng. Nhưng khi khép lại thì vô cùng chật hẹp. Một hạt bụi cũng khó lọt qua. Khi thao thức thì vô cùng nhanh nhậy, chỉ một thoáng nhìn, chỉ một âm thanh mơ hồ cũng đã đủ làm xao xuyến, rộn ràng. Nhưng khi ngủ yên thì vô cùng chai cứng, chậm chạp, dù có đập vào mắt, dù có la vào tai, cũng lạnh lùng dửng dưng. Trái tim Chúa Giêsu luôn thao thức về con người, luôn rộng mở đón nhận con người, nên dễ chạnh lòng thương trước cảnh bơ vơ, khốn cùng của con người.

Tình thương của Chúa Giêsu không phải là thứ tình mơ mộng viển vông, than mây khóc gió, nhưng là một tình thương mãnh liệt dẫn đến những hành động cụ thể. Khi nhìn thấy đám đông tất tưởi, bệnh tật, đói khát, Người lập tức an ủi, chữa lành, nuôi dưỡng. Việc Người an ủi, chữa lành, nuôi dưỡng đám đông không chỉ là những hoạt động do cảm tính nhất thời, nhưng là cả một kế hoạch rộng lớn, lâu dài. Chính vì thế, Người đã chọn mười hai Tông đồ, huấn luyện, sai họ đi nối tiếp sứ mệnh của Người.

Với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy tôi ba bài học.

Bài học thứ nhất: hãy biết nhìn người khác bằng ánh mắt cảm thông. Ở Việt Nam phong trào đô thị hoá ngày càng mạnh. Các thành phố ngày càng phình ra vì dân cư từ quê đổ ra tỉnh tìm đường làm ăn sinh sống. Thành phố trở nên đông đúc chật chội. Người sống trong thành phố đang trở thành những con số vô danh, chìm mất giữa đám đông vội vã. Không ai biết ai. Không ai nhìn ai. Không ai quan tâm tới ai. Vì ai cũng bận lo cho bản thân mình. Hãy nhìn các đám đông trong chợ búa, ở trường học, ở công sở. Hãy quan sát đám đông trongvùng kẹt xe hay ở ngã tư đèn đỏ. Có biết bao linh hồn cô đơn buồn khổ. Có biết bao thể xác đang bị bệnh tật bào mòn. Có biết bao trái tim đang tan nát vì thất vọng. Hãy nhìn và hãy cảm thông như Chúa Giêsu nhìn đám đông và cảm thương họ.

Bài học thứ hai: hãy có một trái tim biết cảm thương. Đời sống ngày càng vất vả. Nhu cầu ngày càng nhiều. Vì thế con người ngày càng ích kỷ, chỉ lo cho bản thân hoặc gia đình mình. Chính vì thế trái tim thường dễ khép lại, trở thành lạnh lùng, xơ cứng. Khi trái tim xơ cứng, ta không thể đón nhận được những thông tin từ ánh mắt đem lại. Và con đường từ ánh mắt đến trái tim trở thành muôn trùng diệu vợi. Hãy mở lòng ra. Hãy biết rung động. Hãy để lòng mình thổn thức nỗi đau của người. Hãy biết khóc thương những số phận hẩm hiu. Hãy âu lo cho những cuộc đời bế tắc. Hãy để cho niềm cảm thương dâng tràn trái tim như trái tim Chúa Giêsu đã cảm nghiệm.

Bài học thứ ba: công cuộc truyền giáo phải bắt đầu bằng tình thương. Đức Chúa Cha, vì cảm thương thân phận tội lỗi đau khổ của loài người đã sai Chúa Giêsu xuống trần gian. Chúa Giêsu, vì cảm thương đám đông tất tưởi, bơ vơ, đã sai các môn đệ ra đi, tiếp tục sứ mệnh gieo rắc tình thương khắp nơi. Việc truyền giáo như thết là kết quả của lòng thương yêu vô biên của Thiên Chúa. Tình yêu thương khởi đầu nơi trái tim Thiên Chúa phải được tiếp nối, đẩy mạnh, nhân rộng trong cuộc đời. Vì thế người làm nhiệm vụ truyền giáo không bắt đầu bằng rao giảng, cũng không bắt đầu bằng cử hành bí tích mà phải bắt đầu bằng yêu thương. Cứ yêu thương rồi tình yêu sẽ hướng dẫn ta biết phải làm gì.

Tất cả chúng ta là những người con của Chúa. Tất cả chúng ta được Chúa mời gọi làm nhân chứng cho Chúa. Ta hãy học theo gương của chúa Giêsu biết nhìn người khác với ánh mắt cảm thông, biết cảm thương những con người đau khổ. Như thế chúng ta đã bắt đầu làm việc truyền giáo rồi.

Lạy trái tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin uốn lòng con nên giống trái tim Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Bạn có để giờ nhìn kỹ những người thân trong gia đình không? Bạn có thực sự hiểu hết những uẩn khúc trong tâm hồn những người thân yêu không?

2) Mỗi khi gặp một hoàn cảnh đáng thương, bạn có cụ thể làm ngay một việc gì để giúp đỡ không?

3) Sống chan hoà yêu thương là truyền giáo. Bạn nghĩ gì về điều này?

 


 

3. Thời giờ cấp bách

Để hiểu đoạn Phúc Âm này, chúng ta hãy phân tích làm ba phần. Trước hết Chúa Giêsu cho các môn đệ Ngài cảm nhận rằng những người được Thiên Chúa thương xót, giống như một mùa gặt bao la, nhưng thợ gặt lại thiếu, sau đó Ngài lại sai các môn đệ đi làm mùa gặt ấy. Cuối cùng Ngài dạy cho các ông biết phải làm gì. Chúng ta xét phần thứ nhất:

1) Lúa chín đầy đồng, nhưng thợ gặt thì ít…

Theo thói quen, Chúa Giêsu dùng một hình ảnh thông thường để giảng dạy một giáo lý cao siêu. Mùa màng tốt đẹp là một ơn lành quý giá đối với người Do thái và để mất một vài nắm hạt cũng được gọi là một thiệt hại đáng tiếc. Vì vậy lúc đó cần có nhiều nhân công để thu hoạch cho đúng thời. Nhân loại giống như mùa gặt ấy và các nhân công tinh thần có bổn phận tập họp người ta vào Vương Quốc thì ít. Do đó cần phải xin Chủ mùa, Cha nhân loại, sai các nhân công cần thiết là các tông đồ đến với nhân loại ấy.

2) Vậy hãy cầu xin Chủ mùa sai thợ đến gặt đồng lúa của Ngài.

Tại sao Chúa Cha không tự mình sai nhân công đi? Có lẽ vì hai lý do: trước hết vì Chúa đã quyết định rằng ơn cứu độ phải chuyển qua trách nhiệm của con người, nghĩa là thông qua dân Do thái trước kia, thông qua Giáo Hội ngày nay. Giáo Hội chịu trách nhiệm về ơn cứu độ, ý thức tầm mức bao la của công việc, nên cầu xin Thiên Chúa cho có nhiều thợ loan truyền sự cứu chuộc. Ở đây chúng ta gặp mầu nhiệm của lời kinh cầu bầu. Giáo Hội liên kết với Chúa Giêsu để xin Chúa Cha ban ơn cứu độ cho mọi người. Lý do thứ hai, Chúa Cha muốn cho lời kinh của chúng ta tạo được một kết quả mà chúng ta ít khi nghĩ đến. Lời kinh giúp ý thức mạnh mẽ hơn tầm quan trọng của điều khẩn cầu và chuẩn bị chúng ta thực hiện điều ấy. Khi cầu xin Chúa Cha sai các môn đệ đến thế gian, chúng ta hiểu được việc ấy hết sức quan trọng và chúng ta mở lòng ra để biết rằng, chính chúng ta phải làm tông đồ. Như thế người ta càng cầu xin, và càng là tông đồ càng cảm thấy cần cầu xin.

3) Phải mau lẹ thu mùa màng về, thời giờ thúc bách.

Trong Kinh Thánh có nhắc đến bằng nhiều cách bổn phận phải biết dùng thời giờ để hoàn thành công việc của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc nhở: Nước Thiên Chúa đã gần kề. Phải xin Chủ mùa sai thợ đến không những vì mùa màng đầy tràn, mà còn vì thời giờ cấp bách, hạn kỳ ngắn ngủi. Các vị tông đồ chân chính buồn lòng khi thấy trong Giáo Hội số thời giờ bỏ phí để bàn luận mọi thứ vấn đề ít hay nhiều giả tạo, trong khi nhân loại là một mùa gặt đang sắp hư hại. Một lần nữa lại thấy nhu cầu phải cầu nguyện, vì chỉ có sự cầu nguyện cho thấy các khẩn cấp chân chính. Chúng ta không xét đoán giá trị thực của những tìm kiếm và thử nghiệm mục vụ, nhưng cần tự hỏi chúng ta có lo cầu xin Chúa Cha sai những tông đồ đến thế giới chúng ta không? Lời cầu nguyện có biến đổi chính chúng ta nên những tông đồ ý thức rằng thời giờ thúc bách hay không?

 


 

 

4. Nhóm Mười Hai

“Đây là tên của mười hai tông đồ...”. Chúng ta biết bốn vị được ưu đãi: Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Những vị khác rất quen thuộc đối với chúng ta là: Philipphê, Tôma, Matthêu, Giuđa. Nhưng còn Batôlômêô, Tađêô, con của Anphê, người yêu nước cuồng nhiệt.

Đàng khác, tất cả các tông đồ đều bị lu mờ do tính cách của Chúa Giêsu và sự say mê của riêng họ: họ chỉ nhìn thấy Ngài, cách Ngài yêu thương, nhất là yêu thương trẻ nhỏ. Cái nhìn của mười hai tông đồ vào Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết về Ngài, và về sự phục sinh của Ngài. Chúng ta là một Giáo Hội “tông truyền”.

Từ đó phát sinh sự vững vàng và nóng bỏng của đức tin chúng ta. Những tôn giáo khác có những bản văn đẹp, những truyền thuyết hay, nhưng duy chỉ người Kitô hữu mới có thể nhìn xem và lắng nghe Thiên Chúa, được làm cho thấy rõ nhờ một người đã sống ở chỗ nọ, vào thời kỳ đó và đã nói những điều hết sức rõ ràng. Nhờ các tông đồ, tức mười hai nhân chứng, chúng ta mới biết được Con Người đó. Chúng ta có thể nuôi dưỡng đức tin của chúng ta không phải ở nơi nào khác, mà chính là bằng cách không ngừng đi lại con đường của chính họ. Con đường đó đi từ Chúa -Giêsu-con-người đến Chúa-Giêsu-Thiên-Chúa: Ngài đã như thế này, Ngài đã hành động theo cách này, Ngài đã nói...

Cũng nhờ nhóm Mười Hai mà chúng ta mới đi vào trong Giáo Hội, một tập thể đông đúc mà ngày nay chúng ta thích gọi là Dân Chúa hơn. Mỗi Chúa nhật chúng ta lại tiếp xúc với khía cạnh chủ yếu của đức tin chúng ta, đó là sống thành một dân tộc, trong và nhờ Giáo Hội của Chúa Kitô cũng là Giáo Hội của các tông đồ: “Tôi tin Giáo Hội tông truyền”.

Lập tức, Chúa Giêsu đã muốn điều này: tái lập một dân tộc. Việc chọn mười hai bạn đồng hành gợi lại mười hai người con của Giacóp và mười hai chi tộc Israel, nghĩa là toàn thể mọi người. Chúa Giêsu đã đến vì mọi người. Lệnh ban ra cho các tông đồ: “Hãy đi tới với các chiên lạc nhà Israel” đơn giản đánh dấu bước đầu của sự quy tụ, đánh dấu lời kêu gọi dân cũ sẽ phải nhanh chóng tạo lập dân mới. Nhưng câu cuối của Tin Mừng mở cửa toàn thể thế giới cho các tông đồ: ”Các môn đệ thuộc tất cả các dân tộc”.

Khi tìm kiếm một người thay thế Giuđa, Phêrô đã nói: “Chúng ta hãy chọn một trong những người đã đi theo chúng ta trong suốt thời gian Chúa Giêsu thường lui tới với chúng ta cho đến ngày Ngài lên trời. Người này sẽ cùng chúng ta làm chứng Ngài đã sống lại” (Cv 1, 21-22). Lời này mở rộng nhóm mười hai. Không phải họ là những người duy nhất vây quanh Chúa Giêsu. Cho nên Tin Mừng cũng nói đến 72 người. Nếu vai trò của nhóm mười hai là duy nhất theo tư cách là nền tảng của Giáo Hội, thì chính khái niệm tông đồ được mở rộng ra cho mọi Kitô hữu, và bao gồm hai tính chất chủ yếu, đó là cùng đồng hành với Chúa Giêsu và đức tin thông truyền do sự Phục sinh: “Ngài đã sống lại!”

Chúng ta thuộc về động thái phát sinh vào ngày mà Chúa Giêsu muốn nhóm mười hai sống với Ngài. Nếu chúng ta không hài lòng về Giáo Hội, về Giáo Hoàng, về các Giám Mục và về cha sở của chúng ta, chúng ta hãy xem xét vấn đề... cùng với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể phê bình và đôi khi chúng ta phải làm như thế vì là một thành phần sống động trong Giáo Hội. Nhưng điều cũng làm cho chúng ta quan tâm đó là toàn thể Giáo Hội là một tập thể rất sống động chung quanh Chúa Giêsu và là một lời loan báo Tin Mừng của Ngài rất sống động.

Khi tình yêu Giáo Hội và nhiệt tình truyền giáo hiện diện nơi một Kitô hữu thì người đó đang đi theo bước chân các tông đồ và Chúa Giêsu xem người đó là người thân của Ngài.

 


 

5. Chú giải của Giáo Hoàng học viện Đà Lạt

SỨ MỆNH CỦA NHÓM MƯỜI HAI

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương họ": khởi điểm sứ mệnh tạm thời của nhóm 12 và khởi điểm toàn thể sứ mệnh của Giáo Hội là lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu... Đây là một thứ tình cảm sâu đậm (chữ Hy lạp gợi lên hình ảnh tâm thần xao xuyến) mà Cựu Ước đã gán cho chính Thiên Chúa (Xh 34, 6; Tv 103, 8-13; Hs 2, 2-3; Gr 31, 20; Is 54, 7) và các Tin Mừng dành riêng cho Chúa Giêsu (Mt 14, 14; 15, 32; 20, 34; Mc 6, 34; 8, 2; 9, 22; Lc 7, 13) hay cho các nhân vật dụ ngôn tượng trưng Người hay Thiên Chúa (Lc 15, 20; Mt 18, 27; x. Lc 10, 35).

"Vì họ bơ phờ vất vưởng như chiên không người chăn giữ” ở đây điều làm Chúa Giêsu âu yếm xót thương là tình cảnh quẫn bách của những đoàn lũ "bơ phờ", "yếu liệt", "nằm sòng sãi", như một đàn chiên không có chủ chăn. Hình ảnh thôn dã này mượn từ Cựu Ước, mà bản văn gần giống nhất là Ds 27, 16-17: “Môisen thưa với Giavê rằng: Lạy Giavê, xin Ngài đặt một ai đó trên cộng đoàn, để ra trước chúng và vào trước chúng để đem chúng ra và đem chúng vào, hầu cộng đoàn của Giavê khỏi như chiên không người chăn giữ". Đàn chiên của Thiên Chúa, trong suốt giòng lịch sử, đã từng bị những tên lái buôn "bóc lột và phân tán” (Dcr 11, 7. 11; x. 1V 22, 17; Gr 23, 1-2; 50, 6; Ed 34, 1-10; Is 56, 11); và bây giờ vẫn còn những kẻ hướng đạo đui mù (Mt 15, 14; 23, 16.24) dùng môn học thuyết sai lạc của họ (16,12) làm lạc hướng đàn chiên, vẫn còn những hạng chăn thuê vô liêm sỉ làm chiên tan tác (Ga 10, 12tt). Vì thế Chúa Giêsu, chủ chăn vương giả mà Êdêkien loan báo (34, 23tt), mục tử tuẫn nạn mà Dacaria đã thoáng thấy mơ hồ (13, 7 = Mt 26, 31), sắp ủy thác cho nhóm 12 trách vụ quy tụ đàn chiên từ mọi chuồng chiên khác (Ga 10, 16) như ngày xưa Môisen đã ủy thác dân cho môn đồ mình là Giosuê chăm nom (Ds 27,17). Đây thật là một vinh dự lớn lao và cũng là một trách nhiệm nặng nề cho nhóm 12 môn đồ của Môisen mới…

"Mùa màng nhiều, thợ gặt ít”: Mùa gặt là một hình ảnh cổ điển Cựu Ước thường dùng để chỉ cuộc Chung thẩm của Thiên Chúa (Is 27, 12; Ge 4, 13 v.v...). Trong Tân Ước mùa gặt này thường phân làm hai, gồm giai đoạn đầu được đánh dấu bởi thời gian của Chúa Giêsu và của Giáo Hội và giai đoạn hay lịch sử chấm dứt, lúc Con Người sẽ thu lúa vào lẫm (Mt 13, 30) và đốt cỏ lùng (13, 30. 41tt): đó sẽ là mùa gặt sau hết (Mc 4, 29; Kh 14, 14tt), là “ngày tận thế" (Mt 13, 39), ngày chung thẩm (25, 31-46) và bấy giờ thợ gặt sẽ là chính Chúa Kitô với các thiên thần của Người (13, 39; x. Kh 14, 14-19). Nhưng trong khi chờ đợi ngày tận cùng đó, thì kể từ cuộc giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Kitô, rõ ràng phải cần một vụ gặt qua sự kiện là đã có sự phân biệt giữa hạt giống tốt và xấu, khi Tin Mừng đòi buộc con người phải tuyên bố theo hay chống Chúa Kitô (Mt 10, 13 -16. 40; Ga 3, 18tt). Đấy là công việc chuẩn bị trong đó Chúa Giêsu đã đóng vai trò gieo giống (Mt 13, 1-8ss; 13, 37; Ga 4, 36tt), còn nhóm 12 sẽ là những người thu hoạch.

Chính mùa gặt tiên trưng này là mùa mà nhóm 12, khi thụ hưởng các thành công đầu tiên của Chúa Giêsu, thấy mình được Người ủy thác cho tại Galilê, và chính về nó mà ta có thể áp dụng trước tiên câu nói của Chúa Giêsu trong Gioan: "Thầy đã sai các con đi gặt nơi các con đã không vất vả làm ra: có những kẻ khác đã vất vả rồi, còn các con chỉ đến thừa hưởng công lao của họ" (Ga 4, 38). Tuy nhiên sứ vụ ở Galilê chỉ là mào đầu và là hình ảnh của những mùa lúa chín vàng (Ga 4, 35) và phì nhiêu (Mt 9, 37) mà các sứ đồ cùng bao thợ khác của Tin Mừng, thừa hưởng công lao khó nhọc và hoa quả của hy tế Chúa Giêsu (x. Ga 4, 6; 12, 24), sẽ thu vào lẫm (so sánh Ga 4, 37tt và Cv 8, 15tt) từ ngày Hiện xuống.

“Chữa mọi tật nguyền bệnh hoạn": Ở đây Matthêu dùng lại cùng những hạn từ đã sử dụng để nói lên quyền năng tràn đầy mà chính Chúa Giêsu đã được trao ban (9, 35); qua cách đó ông cho thấy các sứ đồ hoàn toàn in hệt Người và họ phải trở nên như cánh tay nối dài của Người vậy. Họ sẽ hoàn tất các công việc và thành quả giống như của Người và Ngài củng cố lời rao giảng của họ bằng cách làm phép lạ. Uy quyền của Chúa Giêsu được chuyển qua cho môn đồ của Người.

"Mười hai sứ đồ ": Đây là lần duy nhất Matthêu dùng thành ngữ này; nơi khác, ngoài thành ngữ "Nhóm mười hai" (10, 5; 20, 17; 26, 14. 20. 47), ông viết "Mười hai môn đồ" (10, 1; 11, 1; x. 28, 16) hay “các môn đồ" (13, 10; 14, 15; 26, 8. 56 v.v. ..), vì hơn Maccô và Luca, Tin Mừng thứ nhất ưa lẫn lộn môn đồ và sứ đồ với nhau. Kiểu nói bất thường của đoạn văn chúng ta sử dụng chữ "sứ đồ" theo chính xác được dùng trong Giáo Hội sơ khai để chỉ nhóm Mười Hai và một vài nhân chứng chính thức khác của việc Chúa phục sinh.

“Đừng lên đường đến các dân ngoại": Mấy chữ này rõ ràng là kiểu nói cổ xưa (như kiểu nói "thành của người Samari" để chỉ tỉnh Samari), có căn ngữ Aram (kết quả nghiên cứu Schurmann, Cerfàux) cũng chắc chắn phát xuất từ một nguồn trước Matthêu; và bởi thế ta hiểu được rằng Maccô và Luca đã dùng đến vì nể các độc giả lương dân của họ. May thay còn lại các chữ đó, vì chúng là bằng chứng cho thấy các Kitô hữu đầu tiên đã xem việc truyền giáo ở Galilê là một sự kiện lịch sử, đáng ghi nhớ. Ông không xem đó như là lời phát biểu một nguyên tắc ngàn đời của việc truyền giáo, vì như vậy mâu thuẫn với mệnh lệnh sau cùng mà ông có ghi lại: “các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân" (28, 19), nhưng xem như là lời diễn tả một kế hoạch tạm thời, mà tất cả thái độ của Chúa Giêsu đã làm chứng cho thấy, một kế hoạch mà theo đó Tin Mừng phải được dành riêng cho "con cái của Vương quốc” (8, 12) Trong một thời gian đầu, nghĩa là cho đến cuộc chiến thắng phục sinh, cái biến cố sẽ tạo nên khí cụ cứu rỗi cho tất cả mọi người, tạo nên chủ đề chính yếu của lời rao giảng và khởi điểm của việc rao giảng khắp vũ hoàn. Matthêu đã nghĩ rằng độc giả của ông đủ thông minh để phân biệt, trong mớ tài liệu sưu tập của chương 10, cái gì đã chỉ có giá trị đối với việc truyền giáo ở Galilê và cái gì áp dụng được cho mọi thời đại của Giáo Hội.

“Hãy loan báo ... hãy chữa lành”: Việc rao giảng của Chúa Giêsu và của các sứ đồ ở Galilê đã quy hướng cái nhìn của Israel về sự can thiệp dứt khoát cận kề của Thiên Chúa, được hứa thực hiện trong thời sau hết (Is 52, 7; Dcr 14, 9; Đn 2, 44 v.v...). Và các phép lạ cùng các việc trừ quỷ của Chúa Giêsu, đi đôi với lời người rao giảng (Mt 4, 23; 9, 35; Lc 9, 11...) làm nên khởi nguyên (Mt 12, 28; Lc 17, 20) cũng như dấu chỉ của Vương quyền cứu độ này của Thiên Chúa. Đó cũng là vai trò của các phép lạ và việc trừ quỷ do nhóm 12 thực hiện. Ngoài ra Matthêu còn ghi thêm lệnh phục sinh kẻ chết và tẩy sạch người phung hủi; như thế ông đã đưa ra được bản liệt kê các dấu chỉ Thiên sai, cảm hứng từ Isaia, gần giống với bản liệt kê trong câu Chúa Giêsu trả lời cho Gioan Tẩy giả (11, 4).

Sau này, các sứ đồ sẽ tiếp tục rao giảng Nước Trời (Cv 19, 8; 20, 25; 28, 23. 31), nhưng sẽ thêm vào đó (Cv 8, 12) tên của Đấng đã chết để giải thoát ta khỏi ách kìm kẹp của satan, tội lỗi và sự chết, đã được tôn phong làm Chúa trên trời (Cv 2, 30-36; Pl 2, 11; Kh 19, 16) và sẽ trở lại hoàn thành Vương quốc (1Cr 15, 20-28. 50; Cv 3, 21…). Để củng cố lời rao giảng Tin Mừng (Mc 16, 15-18; Cv 4, 29tt), họ sẽ tiếp tục chữa lành bệnh tật (Cv 3, 1-10; 5, 15tt; 8, 7; 9, 32-35; 19, 12), phục sinh kẻ chết (Cv 9, 36-42; 20, 7-12), xua trừ ma quỷ (Cv 8, 7; 16, 16) và tỏ ra bất vụ lợi hoàn toàn (1Tx 2, 2-12; Cv 8, 19tt). Tiếp tục trách vụ của họ, Giáo Hội truyền giáo sẽ không thể tách rời việc rao giảng Tin Mừng với các hoạt động bác ái vô vụ lợi, vì cả hai đều ban phát cho mọi người ơn cứu độ hoàn toàn Chúa Giêsu đã đạt được.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đã động lòng xót thương đàn chiên bơ vơ lạc lõng trước mặt Người, cũng như các con chiên bơ vơ Người thoáng thấy trong muôn thế hệ về sau. Trước khi hiến thân để chỉ còn "một đàn chiên, một chủ chiên" (Ga 10, 16), Người đã chọn và sai nhóm Mười Hai, thủ lãnh của một dòng dõi những kẻ phục vụ Tin Mừng, để họ rao giảng Tin Mừng, xua đuổi tà thần, chữa lành bệnh tật, nghĩa là ban phát cho toàn thể con người ơn cứu độ mà Người đã tạo được nhờ lao nhọc gieo vãi và cứu chuộc. Giáo Hội, thành thánh đặt cơ sở trên 12 móng, mỗi móng mang tên của một trong 12 sứ đồ của Con Chiên (Kh 21,14), có trách vụ tiếp tục cho đến tận thế sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và ân cần chăm sóc hết những ai đau khổ. Nhưng vì thợ gặt ít, nên Chúa Giêsu xin ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy sai thợ gặt đồng lúa của Ngài!

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Khi hạn định sứ mạng của mình trước tiên cho người Do thái, Chúa Giêsu đã tuân theo một trật tự, một tiến trình cứu rỗi đã được tiên liệu chiếu theo quyết định của Thiên Chúa: bắt đầu từ dân Do thái đi đến dân ngoại. Người đã hiểu sứ mệnh mình như thế và đã nghiêm túc tuân theo. Có lẽ Người đã đau khổ vì sự hạn chế này. Sự vâng phục này nằm trong sự từ bỏ sâu xa và hoàn toàn của Con Thiên Chúa, mà nhờ đó ta được cứu chuộc. Giữa bao lao nhọc truyền giáo và mục vụ, ta chớ bao giờ quên rằng: điều quan trọng không phải là số lượng công việc đã làm, đường xa đã đi, số người đã ảnh hường, tính cách bao la của công trình, nhưng là thi hành thánh ý Thiên Chúa trong các giới hạn mà thánh ý Ngài đã ấn định.

2) Thiên Chúa đã muốn cần đến con người để tiếp nối hành động Ngài trong thế gian. Ngài có thể bất cần sự hợp tác đó thế nhưng Ngài đã muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai (việc rao giảng Tin Mừng làm lại con người một cách khác từ cái chết do tội) sau khi đã kết nạp họ vào cuộc tạo dựng thứ nhất ("Hãy nên đầy dấy trên đất và hãy bá chủ nó", St 1, 28).

3) Những kẻ Thiên Chúa gọi, thì Ngài gọi cách tự do, chứ không chiếu theo danh nghĩa đặc biệt nào (giai cấp xã hội, quốc tịch, chính kiến, thông minh...). Tuy nhiên Ngài ưu tiên lưu tâm đến những người đơn sơ chất phác, nghèo hèn, ít học... Điều Ngài đòi hỏi là sự cởi mở, quảng đại, sẵn sàng. Nếu có các đức tính đó, Ngài có thể làm những việc kỳ diệu, dù họ vẫn còn nhiều khuyết điểm và yếu đuối của con người.

4) Lòng thương xót trắc ẩn của Chúa Kitô thúc bách Người lắng lo cho các chiên không chủ chăn thời đó. Ngày nay phải chăng đã đổi hoàn cảnh? Không! Đọc bất cứ tờ báo nào, nghe bất cứ đài phát thanh nào, ta đều chứng kiến bao cảnh biểu lộ sự bối rối hay thất vọng trước nỗi khó khăn, phi lý của cuộc đời. Nhìn đám đông trong thành phố, dưới vỉa hè hay trên xe cộ, hình như ta cũng có cùng cảm thức như Chúa Giêsu khi đứng trước đám người Do thái ở Galilê. Đôi lúc chính các Kitô hữu ngày nay không còn biết tin tưởng vào ai, theo vị thầy nào. Chúa Kitô sai Kitô hữu đến thế gian để tiếp nối sứ vụ chủ chiên nhân lành của Người bên cạnh con người thế kỷ XXI.

5) Vào mỗi thời kỳ khó khăn hay chuyển hướng của lịch sử Giáo Hội, thì chủ mùa gặt, để đáp lại lời cầu xin của biết bao người hèn mọn, yếu đuối, vô danh, đã luôn làm chỗi dậy nam nữ sứ đồ. Những kẻ này xuất hiện như là những vị giảng đạo của thời đại, những chứng nhân cho một Vương quốc duy nhất có thể biểu lộ sức mạnh của mình bằng nhiều cách. Nhưng chỉ nhờ lời cầu nguyện mới có các chứng nhân đó.

 


 

6. Suy niệm của Noel Quession

Một giai đoạn mới của Tin Mừng Thánh Matthêu bắt đầu từ hôm nay. Sau giai đoạn đầu tiên tập trung xung quanh Bài Giảng Trên Núi, trong đó Đức Giêsu đã trình bày những nền tảng sứ điệp của Người và bắt đầu biểu lộ quyền bính độc nhất mà người có khi thực hiện một vài "dấu chỉ mầu nhiệm" đặc thù... Giờ đây là một giai đoạn mới tập trung xung quanh Bài giảng về sứ mệnh truyền giáo mà Đức Giêsu sẽ kêu gọi con người cọâng tác vào sứ vụ của Người.

Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương

Đôi mắt của Đức Giêsu! Cái nhìn của Đức Giêsu! Cái nhìn tuyệt vời ấy mà một số ảnh thánh đã vẽ lại trong đôi mắt to. Có nhiều cách "nhìn". Một nhân viên vô danh của một thương xá, đã quen với cái nhìn lãnh đạm, nói với một bà khách hàng: "Bà đã nhìn tôi không như mọi người, tôi đoán rằng có "cái gì đó" trong lòng bà...".

Đức Giêsu "chạnh lòng thương". Động từ Hy Lạp “esplanchmzô" có nghĩa đen là "xao xuyến trong gan ruột" và gợi lại một từ ngữ Do Thái rất quan trọng "rahamim", thể hiện vừa "lòng mẹ" vừa "tình yêu” . Trong Tin Mừng, từ ngữ ấy dành riêng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu (Lc 10,33; 7,13; 15,20; Mc 9,22; Tv 51,3; Gr 31,20; Is 54,7 Ds 27,16-17). Đức Giêsu để mình xúc động đến ruột gan: Tại sao? Người đã thấy cảnh tượng gì làm cho đôi mắt to của Người bao phủ bóng mờ của lòng thương cảm?

…vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.

Đôi khi lầm than vất vưởng còn được dịch là mệt mỏi, lả đi. Những con người kiệt sức, không còn có thể làm được gì! Một sự chán nản to lớn, sự chán ghét sâu xa trước cuộc đời phi lý không có ý nghĩa gì. Những đám đông không có mục tử. Những con người không có Thiên Chúa. Một nhân loại kiệt sức một cách vô ích trên những nẻo đường không dẫn đến đâu cả… như một bầy chiên đi lang thang bất định...

Phải chăng thân phận của người nghèo trên thế giới đã thay đổi nhiều từ thời Đức Giêsu? Cái nhìn hiện nay của Đức Giêsu trên nhân loại phải chăng rất khác với cái nhìn lúc đó? Còn chúng ta thì sao? Chẳng phải chúng ta được mời gọi để nhìn đến những đám đông đó sao? Những nỗi thống khổ mênh mông của hàng tỉ con người và những trẻ em thiếu ăn trên hành tinh chúng ta. Những nỗi khổ tinh thần của tất cả những người đã thất bại, đã bị bỏ rơi, không cảm thấy mình được yêu thương. Sự suy sụp của những người sống buông xuôi, sử dụng ma túy, hóa rồ dại và tự hủy hoại mình dần dần...

Lạy Chúa! Xin giúp các môn đệ của Chúa chấp nhận cái nhìn của Chúa!

Toàn thể thế giới từ nay ở dưới ánh mắt chúng ta qua màn hình của vô tuyến truyền hình. Những cuộc du hành của chúng ta trong những nước thuộc thế giới thứ ba không chỉ là du lịch. Và trong những thành phố lớn, ngay trước cửa nhà chúng ta, có một thế giới thứ tư của những con người bị đè bẹp. Chúng ta hướng về các thực tại ấy với cái nhìn nào?

Có phải chúng ta sẽ ở trong số những người… dửng dưng, chán chường, thụ động không? Và Đức Giêsu làm gì trước những cảnh tượng đó?

Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặp lại ít”.

Đức Giêsu không phải là một người chán chường. Người nhìn nhân loại như một cánh đồng lúa chín dập dờn dưới làn gió mùa hè. Mùa gặt kia rồi, tất cả đã sẵn sàng. Người ta vui mừng vì mùa gặt đến, nhưng thợ gặt lại ít. Đức Giêsu thừa nhận công việc của Người rất nhiều. Người muốn có những người cộng tác. Ai sẽ đứng dậy để hành động với Người?

Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Sự cầu nguyện là hành động truyền giáo đầu tiên. Tại sao?

Tại sao "chủ mùa gặt" tức Thiên Chúa không trực tiếp sai các thợ gặt cần thiết? Tại sao Người yêu cầu chúng ta cầu nguyện"? Người tôn trọng trách nhiệm to lớn của con người: Thiên Chúa cần đến những con người! Mầu nhiệm to lớn của việc cần thiết phải can thiệp bằng sự cầu nguyện, mở ra cho chính chúng ta công việc phải làm ở cánh đồng đó. Nếu bạn cầu nguyện thì người thợ găït đầu tiên mà Thiên Chúa có ngay trong tay Người, chính là bạn. Bạn không chỉ cầu nguyện để gởi những người khác đến công trường, mà bạn hãy đi đến đó! “Lạy Chúa, này tôi đây, tôi xin Chúa hãy sai tôi” (Is 6,8). Người ta lo lắng rất nhiều về trách nhiệm to lớn của việc Tin Mừng hóa. Trên hết, người ta quan tâm về các phương pháp. Nhưng trước khi để cách làm “thế nào" thôi miên, chẳng phải trước tiên người ta cần ý thức lại bản chất sâu xa của “sứ vụ” đó sao. Nhiệm vụ làm tông đồ của chúng ta tùy thuộc vào Đấng Tha Thể Tuyệt Đối (Đấng Khác) sai chúng ta đi…

Đó không phải công việc "của chúng ta". Chúng ta không làm việc bởi sức mình. Chúng ta ở trong cánh đồng của Thiên Chúa, trong mùa găït của Người, "Đấng muốn rằng nhân loại được cứu” (1Tm 2,4). Từ đó, có sự ưu tiên của việc cầu nguyện trên mọi phương pháp. Và phải chăng khủng hoảng của ơn gọi thực ra chỉ là một khủng hoảng của sự cầu nguyện?

Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

Đức Giêsu không có ý định một mình thực hiện công việc của Thiên Chúa: Người trao dự án và quyền bính của Người cho "một ít người", mười hai người mà Người chọn trong số hàng trăm môn đệ đi theo Người: Chức tư tế thừa tác bắt nguồn từ đây, trong ý muốn tổ chức Giáo Hội của Người.

Con số "mười hai" là con số tượng trưng. Nó ám chỉ mười hai bộ tộc của Israel tạo thành "dân Thiên Chúa" và bảo đảm việc phụng tự mỗi tháng, trong mười hai tháng của năm âm lịch. Vì thế con số mười hai này biểu thị toàn bộ miền "đất hứa", vì toàn bộ "thời gian".

Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là Phêrô, rồi đến ông Anrê, anh của ông; sau đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê, và ông Gioan, em của ông, ông Philípphê, và ông Batôlômêô; ông Tôma và ông Mátthêu người thu thuế, ông Giacôbê con ông Anphê và ông Tađêô; ông Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giuđa Iscarios chính là kẻ nộp Người.

Các sách Tin Mừng đưa ra cho chúng ta danh sách này bốn lần: với một vài sự khác nhau nhỏ nhưng với sự phù hợp tối đa. Matthêu đã tập họp tất cả các tên ấy “từng đôi một". Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên. Việc thành lập "đội quân" của Đức Giêsu rất có ý nghĩa: Người đã chọn làm những người cộng tác mật thiết cùng lúc một người ‘thu thuế’ bởi nghề nghiệp mà thỏa hiệp với quân chiếm đóng La Mã… và một người thuộc nhóm ‘quá khích’, theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chống lại người La Mã. Một sự phối hợp dễ bùng nổ, Matthêu nhấn mạnh: đây không phải do sự ngẫu nhiên…

Chẳng phải là Giáo Hội chủ yếu phải "đa nguyên", để có thể đảm đương những điểm khác nhau và những xung đột của thế giới… để: giải quyết chúng trong một sự hiệp thông cao cả hơn. "Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Còn Thầy, Thầy bảo thật anh em: "Hãy yêu kẻ thù” (Mt 5,43-48). Sau hết, chúng ta cũng đoán ra Giáo Hội phải có sự khiêm nhường nào. Trong những người có trách nhiệm, Giáo Hội lúc đó bao gồm "người' đứng đầu", Simon Phêrô, người đã chối Đức Giêsu, và "người đứng cuối", Giuđa, là người đã nộp Chúa cho các đao phủ. Quả là một đội quân đáng thương. Nó chỉ mạnh bởi sự chọn lựa mầu nhiệm mà Chúa Giêsu đã thực hiện: "Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu” (Ga 15,15).

Đức Giêsu sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng: "Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc anh nhà Israel”.

Đức Giêsu sai họ đi! Nào anh em hãy đi! Hãy lên đường! Nhưng chúng ta nhận thấy rằng "môi trường hoạt động" rất hạn chế, trái ngược với sứ vụ bao quát cả hoàn vũ mà Người sẽ truyền lệnh sau khi Người sống lại: "Vậy anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Tại sao sứ vụ đầu tiên này ở Galilê có những sự hạn chế? Có lẽ để nói rằng Thiên Chúa trung tín với điều hứa của Người và Israel phải là người đầu tiên đón nhận Tin Mừng (đó là điều Thánh Phaolô sẽ làm). Nhưng cũng bởi vì xét về phương diện con người, người ta không thể làm tất cả mọi sự: phải bắt đầu và không được ẩn náu trong sự to lớn của nhiệm vụ để không làm gì cả!

Nào anh em hãy đi! Hãy lên đường! Anh em được sai đi. Mỗi sự quy tụ của các Kitô hữu phải hoàn thành trong sự sai đi này: Ite, missa est! Cộng đoàn Giáo Hội, dưới khía cạnh phụng vụ, là một cuộc tập hợp tạm thời phải được chuẩn bị để đi vào thế giới ngõ hầu cùng với mọi người, tín hữu hoặc không phải là tín hữu, tạo thành một "cộng đoàn nhân loại". Giáo Hội được quy tụ vì Thánh Thể có tính chất "ngôn sứ": Giáo Hội "nói lên" dự án của Thiên Chúa là "quy tụ lại trong sự hiệp nhất mọi con cái của Thiên Chúa đã bị phân tán". Giáo Hội nói lên rằng nhân loại từ nhiều phải được làm nên một, theo hình ảnh của Ba Ngôi. "Để tất cả nên một như Chúng Ta, như vậy thế gian sẽ tin" (Ga 17,21). "Sứ vụ”, "sự sai đi" là yếu tính của Giáo Hội. Nhiệm vụ đầu tiên của Giáo Hội không phải là tuyển mộ: "Anh em hãy đến gặp chúng tôi!" mà là công bố: "Nước Trời ở đây rồi”; “Thiên Chúa ở với anh em, nơi anh em đang ở". Trước tiên, phải Tin Mừng hóa, phải rao giảng Tin Mừng.

Dọc đường hãy rao giảng rằng: "Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

Đây là những công thức tượng trung để diễn tả "Dự án" của Thiên Chúa. Mọi đời sống con người đã được Thiên Chúa cư ngụ và có được một ý nghĩa vượt qua chính nó: “bạn sẽ không chết”. Cưới nhau và sinh con cái chính là tin rằng sự sống vượt qua sự chết. Triều đại của Thiên Chúa "đã bắt đầu". Sự khác nhau giữa người tín hữu và kẻ vô thần, đó là người tín hữu lắng nghe ở đáy lòng, "ý nghĩa" của điều mình sống, và người ấy biết điều đó dẫn đến đâu. Người ấy "tin rằng" Thiên Chúa hướng dẫn lịch sử và người ấy tham gia vào lịch sử ấy với nhiều ý thức nhất khi làm cho sự sống chiến thắng.

 


 

7. Phương pháp hiệu quả nhất

(ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN CHÚA – Fernandez)

1) Tinh khẩn thiết của sứ mạng tông đồ: mùa màng thì nhiều mà thợ gặt lại ít

Bài Tin mừng trong Thánh lễ hôm nay vẽ ra một cảnh tượng mà chắc chắn đã thường xuyên xảy ra mỗi khi Chúa Giêsu rảo bước qua các thành thị và làng mạc để rao giảng Nước Trời đang đến gần. Khi nhìn đám đông, Người chạnh lòng thương; Người đã xúc động trước cảnh ngộ khốn khổ của họ vì thấy họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36). Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37). Ngày nay hoàn cảnh cũng tương tự như thế, có quá ít nhân lực để thực hiện một công trình to tát. Hoa mầu có thể thất thu vì không có người ra đồng mà gặt. Vì thế có một nhu cầu thúc bách các Kitô hữu sống trung tín đơn thành hiệu quả và vui tươi với Hội Thánh và ý thức được những việc cần phải làm. Tất cả chúng ta đều can dự vào công việc này, vì Thiên Chúa đang cần những công nhân, sinh viên đem Đức Kitô đến công trường hay vào giảng đường bằng uy tín và tinh thần tông đồ của họ. Thiên Chúa cần những giáo viên sống mẫu mực, truyền bá nhân sinh quan Kitô giáo, những giáo viên biết tận tụy dành thời giờ cho sinh viên, những giáo viên chính hiệu. Thiên Chúa cũng cần những bậc làm làm mẹ biết quan tâm đến việc giáo dục và đức tin của con cái và đóng một vai trò tích cực trong hội đồng nhà trường, các ủy ban và hiệp hội địa phương.

Khi chúng ta thấy nhiều người đang đi vào con đường sai trái, cuộc đời họ luôn thiếu vắng Thiên Chúa và trong lòng chỉ quan tâm tới của cải vật chất hay khao khát muốn chiếm hữu những của cải ấy, chúng ta không thề cứ ù lì, bất động, “bình chân như vại” mãi được. Vì mặc dù bề ngoài họ có vẻ dửng dưng, nhưng thâm sâu trong tâm hồn, họ vẫn khát khao tìm Thiên Chúa. Họ mong muốn có ai đó nói với họ về Thiên Chúa và những chân lý cứu độ. Nếu các Kitô hữu không lấy tinh thần hy sinh ra mà giải quyết vấn đề này, thì những lời tiên tri của ngôn sứ Giôen ngày xưa sẽ trở thành sự thật mất thôi: Đồng ruộng bị tàn phá, đất đai cũng u sầu như thể chịu tang, vì lúa mì bị tàn phá, rượu mới đã cạn khô, dầu tươi chẳng còn nữa. Hỡi nhà nông, hãy thẹn thùng xấu hổ, kẻ trồng nho, hãy rú lên nào, tiếc cho lúa miến, lúa mạch, vì đồng ruộng chẳng còn gì để gặt hái. Nho cằn cỗi, vả héo tàn, cả lựu, cả chà là lẫn táo, mọi cây cối ngoài đồng đã chết khô. Thế là đã cạn hết niềm vui của con cái loài người (Ge l,1-12). Thiên Chúa mong mỏi hoa mầu được thu hoạch nhưng chúng lại thất thoát chỉ vì sự chểnh mảng của đám thợ gặt mà thôi.

Những lời Chúa Giêsu nói, lúa chín thì nhiều nhưng thợ gặt thì ít, đáng cho chúng ta hôm nay suy gẫm, và hàng ngày xét mình xem: hôm nay chúng ta đã làm cho Danh Chúa được tỏ hiện cho mọi người chưa ? Tôi đã nói với ai về Đức Kitô chưa? Tôi đã làm được một việc tông đồ nào chưa? Tôi có quan tâm đến ơn cứu độ của bằng hữu và đồng nghiệp? Tôi có nhận thức rằng nhiều người có thể đến gần Thiên Chúa hơn nếu như tôi dạn dĩ hơn và gương mẫu hơn trong việc chu toàn những nghĩa vụ bổn phận hàng ngày?

2) Không được viện cớ thoái thác.

Thiên Chúa kêu gọi mọi người làm tông đồ. Cầu nguyện là phương thế cần thiết và hiệu nghiệm nhất để thực thi sứ mạng ơn gọi này.

Người ta có thể đưa ra nhiều lời bào chữa cho việc đã không mang Đức Kitô đến với tha nhân - nào là thiếu nhiều phương tiện, chưa chuẩn bị tương xứng, không có thời giờ, nào là vì chúng ta đang sống ở xó xỉnh này có quen biết được bao nhiêu người đâu hay vì chúng ta sẽ phải đi thật xa, hay cho dù ngay trong vùng chúng ta đang sống cũng phải đi thật nhiều. Tuy nhiên Thiên Chúa tiếp tục nhắc nhở tất cả chúng ta, và đặc biệt hơn trong thời đại mà người ta quá dửng dưng với tôn giáo này, rằng mùa màng thì nhiều mà thợ gặt lại ít. Hoa màu không thu hoạch kịp sẽ bị hư thối. Những lời vàng ngọc của thánh Gioan Kim khẩu sau đây cũng có thể giúp chúng ta thấy được là trong khi cầu nguyện, chúng ta có quá dễ dàng thoái thác lời kêu gọi cao quý đến nỗi từ chối làm tông đồ theo như thánh ý Chúa. Không có ai lạnh lùng nn tâm hơn một Kitô hữu mà chẳng biết quan tâm đến ơn cứu độ của tha nhân. Anh em không được dùng sự nghèo khổ mà biện bạch. Bà góa dâng cúng vào đền thờ vài xu kia sẽ tố cáo bạn cho mà xem. Chính thánh Phêrô cũng nói: "Vàng bạc thì Ta chẳng có " (Cv 3,6). Còn Thánh Phaolô còn nghèo đến độ lắm phen phải chịu cảnh đói khát thiếu thốn mọi phương tiện cần thiết để sống, Đừng viện cớ hoàn cảnh khiêm hạ bình dân để biện minh chữa mình. Các Ngài cũng xuất thân từ đám người khiêm hạ nhất đấy thôi. Cũng đừng phân trần kêu ca mình thiếu kiến thức này kia. Các Ngài cũng mù chữ thất học cả đấy. Dù có là nô lệ tôi đòi, hay là khách kiều cư di dân lập nghiệp, anh em phải làm tất cả những gì có thể làm. Ônêsimô trước vẫn thế, và hãy khôn ngoan trong ơn gọi của mình... Đừng kêu ca ốm đau bệnh hoạn để biện minh chữa mình. Timôthê cũng thường xuyên đau ốm đấy thôi... Mỗi người trong chúng ta đều có thể có ích cho những người chung quanh nếu như chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể làm. Chúng ta muốn trung tín với Thiên Chúa. Chúng ta sẽ mãi tín trung với Ngài nếu chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể.

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Thánh Gregoriô chú giải thế này: Khi nghe câu này, chúng ta không thể không cảm thấy buồn, vì chúng ta biết rằng có nhiều người muốn nghe Tin mừng, nhưng cái đang thiếu là thiếu những người đi loan báo cho  những tin vui này.

Vì thế để có nhiều người vai kề vai, mỗi một người trong vị trí riêng của mình, cùng nhau làm việc trên thế giới này, chúng ta chỉ có một cách là đi theo con đường chính Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta: Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về (Mt 9,37). Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cầu xin Thiên Chúa đánh thức ước muốn, trong nhiều tâm hồn, được góp phần to lớn hơn vào công cuộc cứu độ. Cầu nguyện là những phương tiện hiệu quả nhất để thu phục những tông đồ mới và giúp con người khám phá ra ơn gọi của mình. Trong kinh nguyện dâng lên Thiên Chúa, ước muốn có thêm những tông đồ phải được chúng ta bộc bạch với Ngài trước mọi điều khác: nài xin khiêm tốn, tín thác và liên lỉ. Tất cả mọi Kitô hữu cần cầu xin Thiên Chúa sai thợ ra gặt lúa về. Nếu chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn gọi, thì chính chúng ta sẽ cảm thấy thôi thúc hơn, bạo dạn hơn trong công tác tông đồ của chúng ta, vì thế cũng có thể thu hút thêm nhiều thợ gặt mới cho vụ mùa.

3) Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn gọi

Bằng cách sai các môn đệ đi trước, Chúa Giêsu đã chuẩn bị xa cho những chuyến đi của Người tới những làng mạc thị thành khác. Công việc ấy mới chỉ là chuẩn bị nhưng cũng là công tác tông đồ cả đấy. Các tông đồ đã đi vào các làng mạc nơi chính Chúa Giêsu sẽ đến. Mọi công tác tông đồ chẳng qua đều là nhắm đến mục tiêu chuẩn bị cho người ta đón nhận Thiên Chúa đến với họ.

Lúa chín vẫn cứ nhiều... chúng ta cứ phải tiếp tục cầu xin Thiên Chúa đánh thức tâm hồn mọi Kitô hữu nam cũng như nữ để họ nhận ra được ý nghĩa ơn gọi trong cuộc đời mình. Họ sẽ nhận thức rằng mình không chỉ muốn sống lương thiện tốt lành, mà còn phải tập tành làm thợ gặt trong cánh đồng của Thiên Chúa, mỗi khi quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Nam hay nữ, trẻ hay già đều sống tận hiến cho Thiên Chúa trên đời này; nhiều người độc thân làm tông đồ; cả những Kitô hữu bình thường, trong khi cùng sinh hoạt với mọi người trong xã hội, lại là những người mang Đức Kitô vào tận giữa lòng cuộc đời này.

Hãy cầu xin chủ mùa gặt... chúng ta cũng phải cầu xin cho có nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ, những ơn gọi đầy hân hoan thánh thiện và trung tín, những ơn gọi rất đỗi cần thiết cho Hội Thánh.

Chúa Giêsu, một mình Người vẫn có thể thực hiện trọn vẹn ơn cứu độ trên thế gian này, nhưng lại muốn cậy dựa vào các môn đệ đi trước mình vào các làng mạc thị thành, và nay là các đại học, các công trường nhà máy, để loan báo những kỳ công, dấu lạ, điềm thiêng và những yêu sách đòi hỏi của Vương quốc Thiên Chúa đang ngự đến. Rõ ràng là Hội Thánh Mẹ chúng ta đang cần những người dấn thân vào con đường tận hiến thánh thiện này. Các Đức giáo hoàng Rôma đã không ngừng nhắc nhở chúng ta nhớ đến nhu cầu khẩn thiết cần có những ơn gọi làm tông đồ, vì công cuộc phúc âm hóa thế giới này đang nằm trong tay những ơn gợi ấy.

Hãy cùng tôi kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, các linh hồn!... các tâm hồn tông đồ! HoÏ thuộc về Chúa, họ sống cho Chúa, cho Vinh Danh Chúa”. Cuối cùng anh em sẽ thấy Ngài sẽ nhậm lời chúng ta.

Phần tôi, tôi đang làm gì để thu nhận những ơn gọi này? Những ơn gọi này sẽ xuất hiện giữa con cái, anh em, chị em, họ hàng, bằng hữu và người quen biết của chúng ta. Chúng ta đừng quên Thiên Chúa muốn gọi nhiều người. Chúng ta hãy xin Ngài ban ơn thúc đẩy và khuyến khích ơn thiên triệu cho những người chúng ta tiếp xúc hằng ngày.

Chúng ta cũng cầu xin Đức Maria giúp chúng ta lắng nghe nghiêm túc Lời Chúa hôm nay và quyết tâm làm tất cả những gì chúng ta có thể, với ý thức khẩn trương và liên tục nhờ vậy để chúng ta sẽ được thấy nhiều thợ gặt đến làm việc trong cánh đồng Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho mình niềm vui được làm dụng cụ cho Chúa Giêsu mời gọi người khác. "Tin vui đây: một "gã khùng” khác sắp vào nhà thương điên đây... Và tất cả mọi chuyện đều trở nên hồ hởi phấn khởi qua lời lẽ của anh thuyền chài nọ... Xin Thiên Chúa làm cho những mẻ lưới của anh em đầy tràn."

Thiên Chúa không bao giờ quên được ‘anh chàng thuyền chài’ đó đâu.

 


 

8. Sứ mạng đầu tiên của mười hai tông đồ

(FICHE DOMINICALE)

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1) Một sứ mạng bắt nguồn từ “lòng thương xót” của Đức Giêsu.

Sau những hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu tại Galilê, câu 35 cho một cái nhìn tổng quát về hoạt động này: "Đức Giêsu rảo khắp các thành phố, làng mạc, rao giảng trong các hội đường. Công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chữa mọi bệnh hoạn, tật nguyền, nay đến giờ tổng kết, để tạo một đà lực mới cho sứ mạng. Nguồn mạch của đà lực mới cho sứ mạng này phát xuất từ cái nhìn của Đức Giêsu, từ trái tim Mục Tử nhân hậu của Người, từ "lòng thương xót" của Người đối với "đám đông mệt mỏi rã rời", tệ hơn nữa, bị những người có trách nhiệm hướng dẫn - Luật sĩ và Biệt phái - bỏ rơi vì những vị này khép lòng lại trước tính chất mới mẻ của Nước Chúa. Họ bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt. Thấy nhiệm vụ quá lớn lao mà phương tiện lại nghèo nàn, trước khi cất tiếng kêu gọi và sai các tông đồ lên đường sứ mạng, Đức Giêsu hướng tầm mắt các môn đệ về phía "ông chủ mùa gặt": “Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến” .

2) Một sứ mạng không khác sứ mạng của Đức Giêsu

Nhân việc Đức Giêsu kêu gọi "mười hai môn đệ", tác giả Phúc âm phong cho họ tước hiệu "tông đồ" nghĩa là "được sai đi". Simon được gọi là "Phêrô" đứng đầu, Matthêu người thu thuế “ở chương 9,9; "Giuđa", “kẻ nộp Người".

Việc kêu gọi đi liền với việc sai đi truyền giáo được diễn tả dưới hình thức diễn từ, đó là diễn từ thứ 2 trong 5 diễn từ quan trọng của Phúc âm thứ 1 mà ta sẽ đọc Chúa nhật XII và Chúa nhật XIII sắp tới. Đoạn Phúc Âm hôm nay trả lời hai vấn nạn: Họ được sai đến với ai ? Sứ mạng của họ là gì ?

Đến với ai? Với cuộc hẹn cuối cùng tại Galilê, Đức Giêsu phục sinh đã mở chân trời truyền giáo ra tới "mọi dân tộc" (28,19). Còn hiện tại, những người được sai đi trước hết: "với những chiên lạc nhà Israel".

Sứ mạng gì? Y hệt sứ mạng của Đức Giêsu. Như Người họ sẽ loan báo việc Nước Thiên Chúa đến. Họ sẽ thực hành những cử chỉ nhân hậu của Chúa, những dấu chĩ mà tác giả Phúc âm, ở 11,2, gọi là "những công việc Đức Giêsu”. Khi nhớ lại rằng họ chỉ hành động như vậy nhờ Đức Giêsu ban các quyền năng của Người cho họ một cách nhưng không, họ đã đi đến một thái độ sống nghèo "Anh em đã lãnh nhận nhưng không, hãy ban nhưng không”.

BÀI ĐỌC THÊM

1) Chính nơi trái tim Đức Giêsu ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta (Mgr. L. Daloz, le Règne de Diêu s'est approché DDB).

Cho tới nay, Đức Giêsu chưa trao cho những kẻ kêu gọi một nhiệm vụ nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, Matthêu đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ: Thấy đám đông, Người động lòng thương, vì họ mệt mỏi rã rời như bầy chiên không người chăn dắt. Rất nhiều lần, Phúc âm đã nói về lòng thương của Đức Giêsu đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo là tình thương của Đức Giêsu, tình thương mà ta gọi là lòng thương xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy đám đòng mệt mỏi rã rời" và Đức Giêsu đã xúc động… Từ ngừ Hi Lạp còn nói mạnh hơn: Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Đức Giêsu, nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta. Có lẽ ta nghĩ rằng lời kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì có quá ít thợ ! Nhưng Đức Giêsu lại không nói điều đó với các môn đệ. Hãy nghe Người: Các con hãy xin Chủ ruộng sai thợ gặt đến. Tự nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. "Lòng thương xót" của Đức Giêsu diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng, thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước Trời, làm chứng Phúc âm, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Đức Giêsu. Hiểu biết Đức Giêsu, nhận biết Người là Đấng Cứu Thế, Đấng đến nhân danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm người, năng lui tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc động vì "thương xót" đến mức nào, thổn thúc vì khổ đau của nhân loại... và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy  bỏng: Thiên Chúa muốn nhân loại vào một cuộc xuất hành khác với cuộc xuất hành do Mosê hướng dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn! Đó là tất cả điều kiện của một sứ mạng thực sự, không phải là trước khi lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây, không biết diều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm hành động. Điều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng Phúc âm còn đưa ta đi xa hơn: Nó mạc khải tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không mỏi mệt. Đời sống và cái chết của đức Giêsu là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy làm tôi tớ phục vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động vì Người sai ta đi truyền giáo truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không do sáng kiến của ta truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa. Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện: Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.

2. Chúng ta là Giáo Hội (L. Sintas, Parole de Diêu pour la méditation ét lhomélie, Médias Paul).

Sứ mệnh trao ban cho các tông đồ cũng là sứ mệnh trao ban cho ta hôm nay. Giáo hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương quốc sự dữ khi ta gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tương, ích kỷ, hoặc trở nên chứng nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men bình an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhở những gì Thiên Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích giúp ta kiên vững trong sứ mệnh là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh và hiệp thông. Muốn là Kitô hữu, phải làm cho cách hành động của ta phù hợp với niềm tin. Đó là cách duy nhất để trở thành tông đồ, làm cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thực vậy, đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Kitô hữu cụ thể ở làng ta, trong khu phố ta ở. Là chính chúng ta. Chính ta có trách nhiệm tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi cuốn mọi người sống quanh ta. Đó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến

3. Cầu nguyện và truyền giáo (Mgr. R. Coffy, cine Ezlta qui célêber ét quiprie, Le Centurion ).

Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là hành động nhân danh Đấng sai đi. Được sai đi chính là hành động nhân danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thực của sứ mạng.

  


 

9. Truyền giáo

Nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu đã động lòng thương xót và Ngài đã đưa ra hai hình ảnh để nói lên tình trạng đáng thương của họ. Đó là hình ảnh đàn chiên và hình ảnh cánh đồng lúa chín.

Trước hết là hình ảnh đàn chiên. Thực vậy, đàn chiên mà thiếu vắng người chăn, thì rồi sẽ như thế nào? Những con chiên ấy làm sao biết được con đường dẫn tới đồng cỏ non và dòng suối mát. Những con chiên ấy làm sao chống trả được với nanh vuốt sói rừng. Những con chiên ấy làm sao tìm được nơi nghỉ ngơi an toàn qua đêm. Phải, nếu không có người chăn, chắc chắn đàn chiên sẽ bị tan tác.

Tiếp đến là hình ảnh cánh đồng lúa chín. Thực vậy, lời cảnh báo của Chúa Giêsu, từ ngàn xưa và cho tới ngày hôm nay, vẫn còn là một sự thật:

- Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ sai thợ đi gặt lúa về.

Trong những năm gần đây, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thay thế lúa mùa bằng lúa thần nông. Mà đã cấy lúa thần nông, thì hầu như vào cùng một thời điểm, nhà nhà đều xuống giống và nhà nhà đều thu hoạch. Vì thế, kiếm được thợ để xuống ruộng gặt lúa, đôi khi đã trở thành một vần đề nan giải. Lúa đã chín mà không có thợ, bị rơi rụng trên ruộng đồng, nhìn thấy mà xót xa.

Dĩ nhiên qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói đến một mùa gặt thiêng liêng, cũng như muốn nói đến những người thợ vừa thành tâm, vừa thiện chí, lại vừa có đủ khả năng để đem lại những lợi ích cho các linh hồn. Bởi đó, chúng ta hãy cầu xin để có được nhiều người nhiệt tình đáp trả lời mời gọi của Chúa trên cánh đồng truyền giáo.

Tôi nghĩ rằng ơn gọi thì không thiếu. Cái thiếu duy nhất đó là sự quảng đại của con tim để đáp trả. Nhu cầu truyền giáo mỗi ngày một khẩn thiết, bởi vì rất nhiều người sẽ bị hư đi chỉ vì thiếu vắng các mục tử, các chủ chăn.

Hoàn cảnh hôm nay của chúng ta thật khác xa với hoàn cảnh của các môn đệ ngày xưa. Thực vậy, ngày xưa chính Chúa Giêsu đã qui tụ các ông, sai các ông đi và trao ban cho các ông những quyền hành đặc biệt, để được dễ dàng hơn trong việc thi hành sứ mạng của mình.

Đúng thế, chính Ngài đã phán:

- Các con hãy làm cho những người bệnh được khỏi, hãy làm cho những người chết được sống lại, hãy làm cho những người phong cùi được lành sạch và hãy xua trừ ma quỉ…

Sở dĩ như vậy là để mọi người có thể nhận ra rằng sứ mạng của các ông là sứ mạng xuất phát từ trời cao, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu như ngày hôm nay, các linh mục, tu sĩ hay các nhà truyến giáo cũng có được những quyền hành như thế, chắc hẳn việc rao giảng Tin Mừng sẽ dễ dàng hơn và sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp. Thế nhưng, đó chỉ là một giấc mơ, hay chỉ là một phép lạ. Đúng thế, đừng mơ mộng nữa mà phải trở về với thực tế. Thời buổi buổi bây giờ phép lạ rất họa hiếm và chỉ xảy ra trong những trườn họp đặc biệt mà thôi.

Trở lại với các môn đệ. Trước hết Chúa Giêsu sai các ông đến với những người Do Thái, những con chiên lạc của nhà Israen, rồi sau đó, đến với các dân tộc. Các ông đã lên đường và hăng hái rao giảng:

- Nước Trời đã đến gần.

Trải qua hai ngàn năm, sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mừng vẫn còn là một sứ mạng cấp bách, bởi vì trên toàn thế giới mới chỉ có hơn 30% dân số nhận biết Đức Kitô, trong đó người công giáo chỉ chiếm có 17% mà thôi. Còn tại Việt Nam, số người công giáo chưa được 10%.

Sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mùng không phải là một sứ mạng được dành riêng cho các linh mục và tu sĩ. Trái lại, phải là một sứ mạng chung của mọi Kitô hữu. Bởi vì đã là Kitô hữu, chúng ta đều có bổn phận phải làm cho thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô, tức là Giáo Hội, được phát triển, được lớn lên. Tuy nhiên, chúng ta đã thực thi sứ mạng trọng đại ấy như thế nào? Chúng ta đã góp phần vào công cuộc truyền bá đức tin của Giáo Hội ra làm sao? Đừng hỏi rằng Giáo Hội đã làm được những gì cho tôi, nhưng hãy tự vấn lương tâm xem tôi đã làm được những gì cho Giáo Hội?

  


 

10. Ơn thiên triệu

Một chàng thanh niên quí phái đang thong thả bước đi trên một con đường tại vùng quê nước Ý, đi ngược chiều, có một bà già quê ăn mặc rách rưới. Cảm động vì thân hình tiều tụy ấy, chàng thanh niên bước tới ân cần nhã nhặn an ủi, rồi chàng lấy ví ra tặng cho bà cụ tất cả số tiền mang theo. Cử chỉ nhân ái và món quà của chàng thanh niên đã khiến bà cụ xúc động, và khi được biết chàng thanh niên đó là người Công giáo, bà hứa mỗi ngày đọc một tràng chuỗi cầu nguyện cho anh được làm linh mục. Ngày tháng trôi qua, chàng thanh niên đã quên hẳn, không còn nhớ gì chuyện gặp bà cụ ấy, nhưng ít năm sau, lời cầu nguyện chân thành của bà cụ nghèo khổ ấy đã được Chúa chấp nhận. Anh trở thành linh mục, và còn hơn thế nữa, trở thành một Đức Giáo Hoàng thời danh, đó là Đức Lê-ô XIII.

Kể lại câu chuyện trên tôi muốn nói rằng: tất cả chúng ta hãy cầu nguyện, hãy cầu xin Chúa ban nhiều thợ gặt, vì lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Hơn nữa, chúng ta cũng cầu xin cho các thợ gặt của Chúa trở thành những thợ gặt lành nghề, những thợ gặt nhiệt tâm làm cho nhiều người biết Chúa và đưa nhiều linh hồn về kho lẫm Nước Trời.

Quả thật, cánh đồng lúa thật bao la mênh mông, hàng triệu triệu người chưa biết Chúa, nhưng ai sẽ đem Tin Mừng cứu rỗi cho những người ấy? Ai sẽ mang Chúa đến cho những tâm hồn chưa biết Chúa ấy? Ai sẽ là chứng tá sống động của Thiên Chúa giữa một thế giới ngày càng lãnh đạm đối với những lời giảng dạy của Chúa? Chúng ta hãy cầu xin chủ ruộng gửi thêm thợ gặt. Thiên Chúa là chủ ơn cứu chuộc. Muốn có nhiều người xung phong vào cánh đồng phì nhiêu kia, Chúa bảo chúng ta phải cầu nguyện. Cầu nguyện để Chúa ban nhiều thợ gặt và nhiều thợ gặt lành nghề, đó là công việc của mỗi người. Chúng ta có thể làm công việc đó bất cứ lúc nào và không bao giờ có gì giới hạn cả. Hơn nữa, chúng ta phải coi việc cầu nguyện này như một bổn phận thường xuyên, một nhiệm vụ hàng ngày của chúng ta.

Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa vì đã có những người ưng thuận làm linh mục, làm thừa sai để giúp đỡ chúng con, nếu các vị đó cũng thích đời sống dễ dãi, thích có một gia đình ấm cúng như chúng con, thì không biết hiện giờ thân phận linh hồn chúng con sẽ ra sao? Và nếu đâu đâu cũng vậy, thì thế giới này sẽ như thế nào?

Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa đã ban cho các linh mục ý chí can đảm để sẵn sàng hy sinh, nhờ các ngài mà chúng con có bánh trường sinh nuôi dưỡng linh hồn, nhờ các ngài mà chúng con thành lập được những gia đình vững chắc, nhờ các ngài mà chúng con được tẩy sạch trong bí tích Giải tội, nhờ các ngài mà chúng con được chết bình an.

Lạy Chúa, chúng con cầu cho công việc của các linh mục. Xin Chúa cho các ngài thành công, nhưng đừng cho các ngài khải hoàn. Nếu các ngài có gặp thất bại, xin Chúa đừng để các ngài thất chí, bởi vì biểu hiệu một công việc đẹp lòng Chúa không phải tại thành công hay thất bại, nhưng chính là tình yêu Chúa. Xin Chúa gìn giữ các linh mục trong tình yêu Chúa.

Lạy Chúa, chúng con xin Chúa cho các linh mục trở thành những nhà mô phạm đối với trẻ em, những nhà chuyên môn về vấn đề gia đình, những nhà tâm lý uyên thâm đối với thanh thiếu niên, những nhà thông thái và đầy kinh nghiệm trong tòa giải tội. Xin cho các linh mục biết đáp lại tất cả mọi lời chào, không phân biệt của ai, khi gặp họ ở đường phố, và nhất là biết trả lời cho tất cả mọi người với nụ cười luôn nở trên môi, cho dù trong lòng đang xao động vì phong ba và thể xác đang rã rời vì công vụ.

Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con biết phê bình các linh mục với tất cả tấm lòng quảng đại, vì công việc của các ngài quá nhiêu khê, phức tạp. Xin Chúa ban cho chúng con ơn biết tha thứ những khi các ngài lầm lỗi và thông cảm những khi các ngài nóng nảy, gắt gỏng.

Lạy Chúa, xin cho chúng con bền chí cầu nguyện cho các linh mục, bởi vì cầu nguyện cho các ngài là ơn quí trọng nhất đối với chúng con và hữu ích nhất đối với các ngài.

  


 

11. Người chạnh lòng thương

Suy Niệm

Đức Giêsu thấy đám đông theo Ngài, vất vưởng bơ vơ như chiên không người chăn dắt. Người chạnh lòng thương.

Lòng thương bắt nguồn từ con tim biết nhói đau trước nỗi khổ của người khác.

Đức Giêsu đã làm tất cả để xoa dịu, đỡ nâng và mời gọi các môn đệ cộng tác trong công cuộc ấy.

Trước một thế giới buồn, Ngài sai họ rao giảng Tin Mừng về Nước Trời gần đến.

Trước một thế giới bệnh hoạn, Ngài cho họ khả năng chữa lành.

Trước một thế giới bị nô lệ cho thần ô uế, Ngài cho họ quyền đem lại tự do.

Trước một thế giới đầy chết chóc, Ngài cho họ quyền trả lại sự sống.

Đức Giêsu sai các môn đệ đi vào cuộc đời, đi hai người một để nâng đỡ nhau. Ngài không chọn những người giỏi giang, học thức, nhưng chọn những người đánh cá đơn sơ và quảng đại.

Trước hết, Ngài sai họ đến với chính dân tộc của họ, để rồi sau này đến với cả thế giới.

Đức Giêsu muốn họ cho đi tất cả những gì đã nhận mà không đòi hỏi chút quyền lợi hay đặc ân nào.

Hôm nay, Đức Giêsu mời chúng ta nhìn thấy đám đông gần 6 tỉ người trên mặt đất. Ngài mời chúng ta thấy 50 ngàn trẻ em chết đói mỗi ngày. Từ 12-18 triệu người chết đói một năm. 1,3 tỉ người sống trong cảnh đói nghèo cùng cực. 800 triệu người thất nghiệp, một tỉ người lớn mù chữ.

Ngài mời chúng ta thấy những trẻ em bị sida ở Châu Phi, những người trẻ trí thức bị bơ vơ ở Nhật, những sa đọa và hưởng thụ, ma tuý và tội ác, những hố sâu hơn giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo, ngay cả trong các nước tiên tiến.

Ngài mời chúng ta nhìn thế giới này bằng đôi mắt của Ngài, nhìn thấy mà chạnh lòng thương. Chính cái nhìn đầy chạnh thương đưa ta lên đường.

Thế giới hôm nay cũng như hôm qua, vẫn là một thế giới cần đến ơn cứu độ. Người nghèo cần được tôn trọng phẩm giá, người giàu cần mở ra để thấy đời mình có ý nghĩa.

Chúng ta không bi quan trước thế giới hôm nay mênh mông nỗi đau, tràn ngập sự ác.

Tôi phải làm gì để chữa lành một thế giới bị thương?

Tôi phải nói gì với một thế giới không biết mình nô lệ?

Chỉ xin lên đường với Chúa Giêsu trong tin yêu, và xin Cha cho có nhiều người cùng tiếp bước.

Gợi Ý Chia Sẻ

Thế giới hôm nay là một thế giới mang nhiều vết thương và đổ vỡ. Bạn phải làm gì để hàn gắn và chữa lành chúng trong khả năng của bạn?

Khoa học kỹ thuật giải quyết được một số vấn đề, nhưng lại đưa đến những vấn đề mới, phức tạp hơn. Bạn có thấy như vậy không? Làm sao để sự tiến bộ về vật chất không làm bạn bị thụt lùi về tinh thần?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, thế giới hôm nay cũng như hôm qua

vẫn có những người bơ vơ lạc hướng vì không tìm được một người để tin;

vẫn có những người đã chết từ lâu mà vẫn tưởng mình đang sống;

vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế, ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;

vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn, bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;

vẫn có những người sống bên lề xã hội, dù không phải là người phong...

Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ và biết chạnh lòng thương như Con Cha.

Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy chính bản thân chúng con.

 


 

12. Tình yêu

Ruddell Norris là một chàng trai cần mẫn, nhưng lại có tính nhút nhát. Nói chuyện với kẻ khác chàng đã thấy khó khăn rồi, huống chi phải bàn chuyện tôn giáo với họ. Thế rồi một ngày kia, chàng nảy ra một ý kiến.

Ruddell đọc sách khá nhiều và chàng biết có nhiều cuốn sách nói về đức tin Công giáo. Vì vậy chàng quyết định dành ra một phần tiền tiết kiệm hàng tuần để mua những cuốn sách ấy. Ruddell để những cuốn sách ấy ở những nơi mà chàng nghĩ người ta có thể cầm lên đọc để giết thời giờ. Chẳng hạn như ở những phòng đợi khám bệnh và phòng tiếp khách.

Ngày kia, có một phụ nữ vốn là bạn của gia đình chàng kể cho cha mẹ chàng biết vợ chồng cô ấy đã theo đạo Công giáo như thế nào. Cô nói: “Tất cả bắt đầu do một cuốn sách nhỏ mà tôi đã tìm thấy tại phòng đợi ở bệnh viện”.

Có nhiều linh mục, tu sĩ và ngay cả giáo dân, thay vì tặng quà hay phát thưởng bằng những món quà vật chất, họ lại trao gởi những cuốn sách thiêng liêng, sách đạo đức, sách giáo dục như những món quà đầy ý nghĩa và hữu ích cho đời sống tâm linh của con người. Đó là một trong những cách hữu hiệu để thi hành sứ mệnh truyền giáo mà hôm nay Đức Giêsu kêu gọi: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Qua lời Đức Giêsu dạy, thì cầu nguyện chính là nguồn mạch, là nền tảng, và là công việc truyền giáo đầu tiên. Nếu chúng ta cầu nguyện cho việc truyền giáo, thì những thợ gặt đầu tiên mà Thiên Chúa có trong tay, chính là chúng ta. Như ngôn sứ Isaia, chúng ta cũng thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin Chúa hãy sai con”.

Không chỉ xin Chúa sai chúng ta đi truyền giáo mà thường xuyên chúng ta phải cầu xin Chúa thôi thúc các bạn trẻ quảng đại dấn thân trong ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Không chỉ xin Chúa ban thêm nhiều người tận hiến mà thường xuyên chúng ta cầu xin Chúa thôi thúc các gia đình rộng tay giúp đỡ tài chánh cho các công cuộc truyền giáo.

Không chỉ xin Chúa mở rộng đôi tay mà còn tha thiết xin Người mở rộng trái tim mọi thành phần dân Chúa, để có nhiều nhà truyền giáo tình nguyện dấn thân mở mang nước Chúa.

Nếu cầu nguyện là nguồn mạch của công việc truyền giáo, có nghĩa là nó phải được ưu tiên trên bất cứ chương trình, kế hoạch hay phương pháp truyền giáo nào.

Nếu cầu nguyện là nền tảng của hoạt động truyền giáo, thì chúng ta phải xem sự khủng hoảng ơn gọi chính là vì thiếu sự chuyên tâm cầu nguyện.

Nếu cầu nguyện là việc đầu tiên của công cuộc truyền giáo, thì chúng ta phải hiểu là sứ vụ tông đồ chỉ có hiệu quả khi chúng ta biết không ngừng cầu nguyện cho những người mà chúng ta muốn lôi cuốn. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết: “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc” Sứ mạng truyền giáo ấy, hôm nay đã được Đức Giêsu trao cho 12 tông đồ, cột trụ của Giáo Hội, để tiếp tục sứ mạng cứu rỗi của Người. Chính vì thế mà thánh Phaolô Tông đồ luôn tự nhắc nhở mình rằng: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Nhưng phải rao giảng những gì? Cho ai? Và bằng cách nào? Đức Giêsu dạy: “Hãy đi rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh và khử trừ ma quỉ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”. Như thế, nội dung của sứ điệp là Nước trời, hành trang là Lời Chúa, đối tượng là người nghèo khổ, bị bỏ rơi bên lề xã hội, phương pháp là yêu thương và cho đi. Thật vậy, chính sự cho đi vô vụ lợi, yêu thương mà không mong đền đáp là bí quyết thành công trong việc truyền giáo. P. Babin đã nói: “Người ta chỉ có thể tin vào Đức Giêsu Kitô khi người ta tin vào tình yêu của những kẻ loan báo Người”.

Ý thức được sứ mạng truyền giáo ấy, trong sứ điệp kết thúc hội nghị Hồng Y đoàn lần thứ sáu, ngày 24 tháng 05 năm 2001, đã nhấn mạnh: “Cần xây dựng một Giáo Hội cầu nguyện nhiều hơn, truyền giáo nhiều hơn, nghèo khó hơn, liên đới với nhân loại hơn, cách riêng với những người đau khổ, túng cực, bị loại ra ngoài lề xã hội”.

  


 

13. Bình an

Chỉ cần một buổi tối theo dõi chương trình thời sự quốc tế, thời sự trong nước và thời sự các địa phương trên đài truyền hình, chúng ta sẽ thấy được rất nhiều vấn đề lớn nhỏ đang xảy ra trên toàn thế giới. Nào là chiến tranh, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị màu da, ngôn ngữ, kỳ thị tôn giáo. Nào là các thứ tệ đoan và tội ác. Nào là đói nghèo, bệnh tật và chết chóc... Tất cả những điều đó như là những bóng tối che phủ cuộc sống của con người. Tất cả những thảm họa đó là những chứng từ cho thấy sự hiện diện và hoạt động tích cực của ma quỉ. Không phải chỉ hôm nay, nhưng ngay từ thời Chúa Giêsu, thậm chí ngay từ thuở ban đầu của cuộc tạo dựng, ma quỉ đã có mặt và không ngừng hoạt động để phá hủy công trình tạo dựng của Thiên Chúa và lôi kéo con người chống lại Người. Con người đang trở thành những kẻ nô lệ khốn khổ cho quỉ dữ mà vẫn tưởng mình đang tự do. Con người đang là những công cụ đắc lực trong bàn tay ma quỉ mà vẫn tưởng mình là chủ nhân của thế giới này. Con người đang sống trong lầm than mà vẫn không hay biết gì.

Nhưng Chúa Giêsu thấy và biết tất cả. Người xúc động và xót xa cho số kiếp lầm than, khốn khổ của con người. Thánh Matthêu đã viết: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng như chiên không người chăn dắt”. Chính vì thế, dù ở đâu hay đi đến đâu, Người cũng vẫn luôn ra tay cứu gỡ con người khỏi ách thống trị của ma quỉ và của quyền năng sự dữ. Người đã chữa lành các bệnh tật đang hủy hoại con người và xoa dịu những khổ ải đang đè bẹp con người.

Tất nhiên chỉ một mình Chúa Giêsu cũng có thể làm tất cả những gì Người muốn để giải thoát con người. Nhưng Người đã không làm một mình. Người muốn con người cộng tác vào sứ mệnh giải thoát ấy. Người muốn con người bày tỏ sự tự do trong việc đón nhận ơn giải thoát cho chính mình, đồng thời ý thức trách nhiệm liên đới trong việc giải thoát anh chị em mình. Để thực hiện ý muốn này, Người đã chọn 12 tông đồ và sai các ông ra đi. Người ban cho các ông quyền năng trên ma quỉ và chữa lành các bệnh tật. Điều đó cũng có nghĩa là Người trao ban cho các ông sứ mạng đẩy lùi sự xấu và sự ác, cũng như đẩy lùi khổ đau đang hoành hành trên mặt đất này. Sứ mạng ấy, ơn gọi ấy không chỉ được trao ban cho 12 tông đồ mà còn cho mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: “Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về”.

Thật vậy, Chúa Giêsu đã gọi đích danh chúng ta và trao cho chúng ta sứ mạng ban phát ơn cứu độ mà Người đã thiết lập. Ban phát ơn cứu độ cũng có nghĩa là mỗi người cần nỗ lực đẩy lùi sự dữ, sự ác trong môi trường sống của mình và ra tay giúp đỡ để anh chị em mình bớt khổ đau. Là một nông dân trên ruộng đồng hay là một công nhân bốc vác trong nhà máy, là một tài xế hay là một giáo viên trong nhà trường, là một học sinh trong lớp hay là một y tá, một bác sĩ trong bệnh viện, là một người gác cổng cơ quan hay là một thư ký trong văn phòng... tất cả đều nhận được một sứ mệnh như nhau. Sứ mệnh ấy là làm cho Tin Mừng của Chúa Kitô thấm nhập vào từng con người, vào mỗi công việc, và vào mọi nơi mọi chốn. Tin Mừng càng lan rộng bao nhiêu thì sự dữ càng bị thu hẹp lại bấy nhiêu.

Đừng ai nói mình không có trách nhiệm làm tông đồ. Đừng ai nói mình không có khả năng. Đừng ai nghĩ mình không có kiến thức. Đừng ai nói mình nghèo khổ. Đừng ai nói mình không phải là thánh nên không thể rao giảng Tin Mừng. Nói như thế, nghĩ như thế là thoái thác trách nhiệm. Các tông đồ ngày xưa cũng chỉ là những con người đơn sơ bé mọn, nghèo khó, có khi là những con người tội lỗi nữa. Nhưng trừ một mình ông Giuđa, tất cả những người còn lại đã không phụ tình Chúa yêu thương và sự tín nhiệm của Người.

Lời kết thúc thánh lễ: “Thánh lễ đã xong, chúc anh chị em ra đi bình an” không chỉ là một lời chúc nhưng còn là một lệnh truyền, một bài sai ra đi gieo rắc Tin Mừng bình an.

  


 

14. Đức Kitô

Trong cuốn sách nổi tiếng, Anh em nhà Karamazov nhà văn Nga Dostoevsky cho chúng ta một bức chân dung của Đức Kitô. Bối cảnh xảy ra ở Seville thời kỳ Pháp đình tôn giáo. Đức Kitô đã đến thăm dân Người trong cảnh khổ đau. Mới ngày hôm trước, một trăm người dị giáo đã bị thiêu sống theo lệnh của Hồng Y, Đại Pháp quan.

Mặc dù Đức Giêsu đã đến không kèn không trống nhưng dân chúng lập tức nhận ra Người. Họ xúm lại xung quanh Người. Người bước đi ở giữa họ với một sự biểu lộ cao thượng trên khuôn mặt Người. Người đưa tay ra và chúc phúc cho họ. Nhiều người được lành bệnh khi sờ vào áo Người.

Người dừng lại ở tam cấp của nhà thờ lớn khi một cỗ quan tài còn mở nắp với thi thể của một cô gái nhỏ được đưa ra khỏi nhà thờ. Một sự im lặng bao trùm lên đám đông. Rồi một tiếng thì thầm nổi lên: “Người sẽ làm cô bé sống lại”. Và Người đã làm. Tuy nhiên ngay sau đó, vị Đại Pháp quan đã đến quảng trường. Khi ông thấy sự việc xảy ra như thế, ông ra lệnh bắt giữ người lạ mặt và nhốt vào nhà tù. Đêm hôm ấy, Đại Pháp quan vào xà lim thăm tù nhân của mình “Có phải ông là Chúa thật không?” ông ta hỏi Người. Người không đáp, ông ta liền nói: “Ông không cần phải nói thêm điều gì cả. Trước đây ông đã nói tất cả rồi. Tôi không biết ông có phải là Chúa thật không. Mọi điều tôi biết là ngày mai ông sẽ bị thiêu sống như một tên dị giáo tệ hại nhất, và người nào hôm nay đã hôn chân ông, ngày mai sẽ bị ném sống vào lửa. Ông có biết điều đó không?”Ông ta chờ đợi một câu trả lời nào đó, nhưng không có. Bấy giờ người lạ mặt đến gần ông và với một sự cao thượng tuyệt vời, ôm chầm lấy ông. Đó là câu trả lời của Người. Vị Đại Pháp quan già nua bối rối trong một lúc. Nhưng ông ta liền lấy lại sự bình tĩnh ông bước đến cửa xà lim, mở ra và nói cùng Người. “Ông hãy đi đi, và đừng bao giờ quay trở lại, đừng bao giờ!”. Rồi ông để cho Người đi ra và Người biến mất trong những đường phố tối tăm của thành phố ngủ yên.

Chúng ta có thể quên Đức Kitô giống gì. Giáo Hội có thể quên. Giáo Hội Có thể đặt học thuyết và tín lý luật lệ cùng qui định của Giáo Hội trước dân chúng. Cá nhân có thể đặt lòng sùng tín riêng tư của mình theo cách sống của Đức kitô. Ngày nay, có một mối quan tâm ngày càng tăng đối với những mạc khải và sự hiện ra. Dù thế nào, ngày nay cũng có một khát vọng về Đức Kitô của Tin Mừng.

Chúng ta cần nhớ lại Đức kitô như thế nào lúc chúng ta trở lại với Tin Mừng. Tin Mừng trong thánh lễ hôm nay cho chúng ta một hình ảnh đẹp về hành động thương xót của Đức Kitô.Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã không đem lại điều gì cho dân thường trong cảnh khổ của họ – không có sự hướng dẫn, cả an ủi lẫn sức mạnh. Thật vậy, họ không quan tâm đến dân chúng. Nhưng Đức Giêsu hoàn toàn khác. Khi Người nhìn đến dân thường, Người không nhìn thấy một đám đông nhưng là một tập thể những cá nhân, mỗi người có những vấn đề và lo lắng vui mừng và sầu khổ. Và không hề khinh miệt họ. Người tỏ lòng thương xót họ, một cách chính xác hơn bởi vì họ bị tổn thương và cần được giúp đỡ.

Trước hết, Người ban chính Người cho họ. Nhưng biết rằng mùa gặt rất lớn nên Người quyết định kêu gọi các người phụ giúp. Từ những môn đệ của Người, Người chọn ra mười hai người để họ trở thành những bạn đồng hành theo những phương thế đặc biệt. Người gọi họ là những tông đồ – những người được sai đi. Họ thuộc về những tầng lớp khác nhau và không một ai đã qua đào tạo. Mỗi người có cá tính riêng, có những điểm yếu, điểm mạnh, những sự yếu đuối. Ở giữa họ, đã có những ganh tị, căng thẳng.

Đức Giêsu yêu thương họ và ngược lại họ yêu mến Người, Người huấn luyện họ tuy nhiên không phải theo hình thức mà bằng cuộc sống của Người với họ, Người đồng hành với họ và trở thành một gương mẫu cho họ. Họ học làm những việc Người làm. Rồi Người sai họ đến với những người khác. Họ biết sứ vụ của họ là gì: họ là nhân tố của lòng thương xót của Người cho những người khác, đặc biệt cho những người nghèo và những người đau khổ.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu trông mong ở chúng ta. Để trở thành một tông đồ của Chúa, chúng ta không cần phải trở thành một người đặc biệt, tức là còn thua xa một vị thánh (ít ra lúc mới đầu là thế). Tất cả điều mà con người cần có là sự tự nguyện và một tấm lòng rộng mở.