|
MỤC LỤC
1. Thợ gặt
2. Ánh mắt cứu độ
3. Thời giờ cấp bách
4. Nhóm Mười Hai
5. Chú giải của Giáo
Hoàng học viện Đà Lạt
6. Suy niệm của Noel
Quession
7. Phương pháp hiệu quả
nhất
8. Sứ mạng đầu tiên của
mười hai tông đồ
9. Truyền giáo
10. Ơn thiên triệu
11. Người chạnh lòng
thương
12. Tình yêu
13. Bình an
14. Đức Kitô
Thánh Phanxicô Xaviê, trong một bản tường trình đã viết như sau:
“Nhiều người ở đây đã không thể trở thành Kitô hữu, chỉ vì chẳng có
ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ. Con cảm thấy bị
thôi thúc muốn đến các đại hoạc Âu Châu, đặc biệt là đại học
Sorbonne ở Paris, để la lên, như một gã điên, cho những người giàu
trí thức hơn là thiện chí, yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm
sao cho lợi ích. Phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ
cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ
qua tài năng Ngài đã ban cho họ. Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động
kêu lên:
-
Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con phải làm gì?”
Lá thư trên khiến cho chúng ta nhớ tới lại Chúa phán:
-
Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai
thợ đến gặt lúa của mình (Lc 10,2).
Lời phán dạy này, cho đến hôm nay, vẫn còn mang tính cách thời sự
nóng bỏng của nó. Tuy nhiên, trước khi đi vào sứ mạng truyền giáo,
chúng ta nên tìm hiểu về mùa gặt và thợ gặt.
Vậy trước hết mùa gặt là gì? Tôi xin thưa mùa gặt, hay lúa chín là
tất cả những người hiện đang tìm kiếm Chúa, tìm kiếm chân lý, tìm
kiếm mục đích và ý nghĩa cuộc đời.
Còn thợ là những ai? Tôi xin thưa là tất cả chúng ta, bởi vì mỗi
người chúng ta đều có thể và phải là một người thợ gặt được sai đến
trên cánh đồng truyền giáo.
Thế nhưng, tại sao ngày hôm nay lại có quá ít thợ gặt như vậy?
Lý do thứ nhất là vì
chúng ta không thực hành điều Chúa đã
truyền: Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình (Lc 10,2).
Thực vậy, có bao nhiêu người trong chúng ta, thường xuyên cầu nguyện
xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ để họ nghiêm chỉnh đáp trả ơn
gọi của Chúa. Có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu
nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình để họ
nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện và bằng những
giúp đỡ tài chính hoặc làm bất cứ việc gì.
Lý do thứ hai khiến
ngày nay có ít thợ gặt liên quan đến các
gia đình. Liệu gia đình chúng ta có còn là thửa vườn ươm trồng ơn
gọi hay không? Là những bậc cha mẹ, chúng ta đã nói cho con em chúng
ta về việc chọn lựa đời sống tu trì như thế nào?
Sau cùng, lý do thứ ba liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta, đó
là chúng ta có sẵn sàng hiến dâng cho Chúa trong nếp sống tu sĩ, khi
chúng ta còn là một thanh niên hay không? Còn nếu như đã lớn tuổi
thì liệu chúng ta đã làm gì để dấn thân vào mùa gặt. Có bao giờ
chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó để trực tiếp giúp cho
việc truyền giáo.

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 9, 36 – 10,8
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Nhưng ngày nay người ta ít có thời giờ
nhìn nhau, nên tình yêu không đến. Người ta quá bận rộn vì cuộc sống
ngày càng vội vã. Ra đường là đi như chạy để tranh thủ thời gian.
Nên không có thời giờ nhìn, hỏi han, trò truyện, thông cảm. Và vì
bận rộn nên nhiều lần ta lẩn tránh không muốn nhìn những thảm cảnh
chung quanh, ngay trước mắt ta.
Chúa Giêsu thì không như thế. Người nhìn thấy đám đông và chạnh lòng
thương. Nếu nhìn một đám đông thoáng qua thì khó mà chạnh lòng
thương. Chạnh lòng thương là tức là đã nhìn kỹ từng người, thấy rõ
hoàn cảnh đáng thương của từng người. Đứng trước một đám đông, Chúa
vẫn có thời giờ nhìn kỹ từng người, vì Chúa quan tâm đến số phận của
từng người.
Khi nhìn ngắm kỹ lưỡng, sẽ hiểu rõ. Khi hiểu rõ sẽ dễ chạnh lòng
thương. Tuy nhiên từ ánh mắt đến trái tim là một khoảng cách rất gần
mà cũng rất xa. Trái tim con người thật khó hiểu. Khi mở ra thì bao
la ngàn trùng. Nhưng khi khép lại thì vô cùng chật hẹp. Một hạt bụi
cũng khó lọt qua. Khi thao thức thì vô cùng nhanh nhậy, chỉ một
thoáng nhìn, chỉ một âm thanh mơ hồ cũng đã đủ làm xao xuyến, rộn
ràng. Nhưng khi ngủ yên thì vô cùng chai cứng, chậm chạp, dù có đập
vào mắt, dù có la vào tai, cũng lạnh lùng dửng dưng. Trái tim Chúa
Giêsu luôn thao thức về con người, luôn rộng mở đón nhận con người,
nên dễ chạnh lòng thương trước cảnh bơ vơ, khốn cùng của con người.
Tình thương của Chúa Giêsu không phải là thứ tình mơ mộng viển vông,
than mây khóc gió, nhưng là một tình thương mãnh liệt dẫn đến những
hành động cụ thể. Khi nhìn thấy đám đông tất tưởi, bệnh tật, đói
khát, Người lập tức an ủi, chữa lành, nuôi dưỡng. Việc Người an ủi,
chữa lành, nuôi dưỡng đám đông không chỉ là những hoạt động do cảm
tính nhất thời, nhưng là cả một kế hoạch rộng lớn, lâu dài. Chính vì
thế, Người đã chọn mười hai Tông đồ, huấn luyện, sai họ đi nối tiếp
sứ mệnh của Người.
Với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy tôi ba bài học.
Bài học thứ nhất: hãy biết nhìn người khác bằng ánh mắt cảm
thông. Ở Việt Nam phong trào đô thị hoá ngày càng mạnh. Các
thành phố ngày càng phình ra vì dân cư từ quê đổ ra tỉnh tìm đường
làm ăn sinh sống. Thành phố trở nên đông đúc chật chội. Người sống
trong thành phố đang trở thành những con số vô danh, chìm mất giữa
đám đông vội vã. Không ai biết ai. Không ai nhìn ai. Không ai quan
tâm tới ai. Vì ai cũng bận lo cho bản thân mình. Hãy nhìn các đám
đông trong chợ búa, ở trường học, ở công sở. Hãy quan sát đám đông
trongvùng kẹt xe hay ở ngã tư đèn đỏ. Có biết bao linh hồn cô đơn
buồn khổ. Có biết bao thể xác đang bị bệnh tật bào mòn. Có biết bao
trái tim đang tan nát vì thất vọng. Hãy nhìn và hãy cảm thông như
Chúa Giêsu nhìn đám đông và cảm thương họ.
Bài học thứ hai: hãy có một trái tim biết cảm thương.
Đời sống ngày càng vất vả. Nhu cầu ngày càng nhiều. Vì thế con người
ngày càng ích kỷ, chỉ lo cho bản thân hoặc gia đình mình. Chính vì
thế trái tim thường dễ khép lại, trở thành lạnh lùng, xơ cứng. Khi
trái tim xơ cứng, ta không thể đón nhận được những thông tin từ ánh
mắt đem lại. Và con đường từ ánh mắt đến trái tim trở thành muôn
trùng diệu vợi. Hãy mở lòng ra. Hãy biết rung động. Hãy để lòng mình
thổn thức nỗi đau của người. Hãy biết khóc thương những số phận hẩm
hiu. Hãy âu lo cho những cuộc đời bế tắc. Hãy để cho niềm cảm thương
dâng tràn trái tim như trái tim Chúa Giêsu đã cảm nghiệm.
Bài học thứ ba: công cuộc truyền giáo phải bắt đầu bằng tình
thương. Đức Chúa Cha, vì cảm thương thân phận tội lỗi đau
khổ của loài người đã sai Chúa Giêsu xuống trần gian. Chúa Giêsu, vì
cảm thương đám đông tất tưởi, bơ vơ, đã sai các môn đệ ra đi, tiếp
tục sứ mệnh gieo rắc tình thương khắp nơi. Việc truyền giáo như thết
là kết quả của lòng thương yêu vô biên của Thiên Chúa. Tình yêu
thương khởi đầu nơi trái tim Thiên Chúa phải được tiếp nối, đẩy
mạnh, nhân rộng trong cuộc đời. Vì thế người làm nhiệm vụ truyền
giáo không bắt đầu bằng rao giảng, cũng không bắt đầu bằng cử hành
bí tích mà phải bắt đầu bằng yêu thương. Cứ yêu thương rồi tình yêu
sẽ hướng dẫn ta biết phải làm gì.
Tất cả chúng ta là những người con của Chúa. Tất cả chúng ta được
Chúa mời gọi làm nhân chứng cho Chúa. Ta hãy học theo gương của chúa
Giêsu biết nhìn người khác với ánh mắt cảm thông, biết cảm thương
những con người đau khổ. Như thế chúng ta đã bắt đầu làm việc truyền
giáo rồi.
Lạy trái tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin uốn lòng con
nên giống trái tim Chúa. Amen.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Bạn có để giờ nhìn kỹ những người thân trong gia đình không? Bạn
có thực sự hiểu hết những uẩn khúc trong tâm hồn những người thân
yêu không?
2) Mỗi khi gặp một hoàn cảnh đáng thương, bạn có cụ thể làm ngay một
việc gì để giúp đỡ không?
3) Sống chan hoà yêu thương là truyền giáo. Bạn nghĩ gì về điều này?

Để hiểu đoạn Phúc Âm này, chúng ta hãy phân tích làm ba phần. Trước
hết Chúa Giêsu cho các môn đệ Ngài cảm nhận rằng những người được
Thiên Chúa thương xót, giống như một mùa gặt bao la, nhưng thợ gặt
lại thiếu, sau đó Ngài lại sai các môn đệ đi làm mùa gặt ấy. Cuối
cùng Ngài dạy cho các ông biết phải làm gì. Chúng ta xét phần thứ
nhất:
1) Lúa chín đầy đồng,
nhưng thợ gặt thì ít…
Theo thói quen, Chúa Giêsu dùng một hình ảnh thông thường để giảng
dạy một giáo lý cao siêu. Mùa màng tốt đẹp là một ơn lành quý giá
đối với người Do thái và để mất một vài nắm hạt cũng được gọi là một
thiệt hại đáng tiếc. Vì vậy lúc đó cần có nhiều nhân công để thu
hoạch cho đúng thời. Nhân loại giống như mùa gặt ấy và các nhân công
tinh thần có bổn phận tập họp người ta vào Vương Quốc thì ít. Do đó
cần phải xin Chủ mùa, Cha nhân loại, sai các nhân công cần thiết là
các tông đồ đến với nhân loại ấy.
2) Vậy hãy cầu xin Chủ
mùa sai thợ đến gặt đồng lúa của Ngài.
Tại sao Chúa Cha không tự mình sai nhân công đi? Có lẽ vì hai lý do:
trước hết vì Chúa đã quyết định rằng ơn cứu độ phải chuyển qua trách
nhiệm của con người, nghĩa là thông qua dân Do thái trước kia, thông
qua Giáo Hội ngày nay. Giáo Hội chịu trách nhiệm về ơn cứu độ, ý
thức tầm mức bao la của công việc, nên cầu xin Thiên Chúa cho có
nhiều thợ loan truyền sự cứu chuộc. Ở đây chúng ta gặp mầu nhiệm của
lời kinh cầu bầu. Giáo Hội liên kết với Chúa Giêsu để xin Chúa Cha
ban ơn cứu độ cho mọi người. Lý do thứ hai, Chúa Cha muốn cho lời
kinh của chúng ta tạo được một kết quả mà chúng ta ít khi nghĩ đến.
Lời kinh giúp ý thức mạnh mẽ hơn tầm quan trọng của điều khẩn cầu và
chuẩn bị chúng ta thực hiện điều ấy. Khi cầu xin Chúa Cha sai các
môn đệ đến thế gian, chúng ta hiểu được việc ấy hết sức quan trọng
và chúng ta mở lòng ra để biết rằng, chính chúng ta phải làm tông
đồ. Như thế người ta càng cầu xin, và càng là tông đồ càng cảm thấy
cần cầu xin.
3) Phải mau lẹ thu mùa
màng về, thời giờ thúc bách.
Trong Kinh Thánh có nhắc đến bằng nhiều cách bổn phận phải biết dùng
thời giờ để hoàn thành công việc của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc
nhở: Nước Thiên Chúa đã gần kề. Phải xin Chủ mùa sai thợ đến không
những vì mùa màng đầy tràn, mà còn vì thời giờ cấp bách, hạn kỳ ngắn
ngủi. Các vị tông đồ chân chính buồn lòng khi thấy trong Giáo Hội số
thời giờ bỏ phí để bàn luận mọi thứ vấn đề ít hay nhiều giả tạo,
trong khi nhân loại là một mùa gặt đang sắp hư hại. Một lần nữa lại
thấy nhu cầu phải cầu nguyện, vì chỉ có sự cầu nguyện cho thấy các
khẩn cấp chân chính. Chúng ta không xét đoán giá trị thực của những
tìm kiếm và thử nghiệm mục vụ, nhưng cần tự hỏi chúng ta có lo cầu
xin Chúa Cha sai những tông đồ đến thế giới chúng ta không? Lời cầu
nguyện có biến đổi chính chúng ta nên những tông đồ ý thức rằng thời
giờ thúc bách hay không?

“Đây là tên của mười hai tông đồ...”. Chúng ta biết bốn vị được ưu
đãi: Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Những vị khác rất quen thuộc đối
với chúng ta là: Philipphê, Tôma, Matthêu, Giuđa. Nhưng còn
Batôlômêô, Tađêô, con của Anphê, người yêu nước cuồng nhiệt.
Đàng khác, tất cả các tông đồ đều bị lu mờ do tính cách của Chúa
Giêsu và sự say mê của riêng họ: họ chỉ nhìn thấy Ngài, cách Ngài
yêu thương, nhất là yêu thương trẻ nhỏ. Cái nhìn của mười hai tông
đồ vào Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết về Ngài, và về sự phục sinh
của Ngài. Chúng ta là một Giáo Hội “tông truyền”.
Từ đó phát sinh sự vững vàng và nóng bỏng của đức tin chúng ta.
Những tôn giáo khác có những bản văn đẹp, những truyền thuyết hay,
nhưng duy chỉ người Kitô hữu mới có thể nhìn xem và lắng nghe Thiên
Chúa, được làm cho thấy rõ nhờ một người đã sống ở chỗ nọ, vào thời
kỳ đó và đã nói những điều hết sức rõ ràng. Nhờ các tông đồ, tức
mười hai nhân chứng, chúng ta mới biết được Con Người đó. Chúng ta
có thể nuôi dưỡng đức tin của chúng ta không phải ở nơi nào khác, mà
chính là bằng cách không ngừng đi lại con đường của chính họ. Con
đường đó đi từ Chúa -Giêsu-con-người đến Chúa-Giêsu-Thiên-Chúa: Ngài
đã như thế này, Ngài đã hành động theo cách này, Ngài đã nói...
Cũng nhờ nhóm Mười Hai mà chúng ta mới đi vào trong Giáo Hội, một
tập thể đông đúc mà ngày nay chúng ta thích gọi là Dân Chúa hơn. Mỗi
Chúa nhật chúng ta lại tiếp xúc với khía cạnh chủ yếu của đức tin
chúng ta, đó là sống thành một dân tộc, trong và nhờ Giáo Hội của
Chúa Kitô cũng là Giáo Hội của các tông đồ: “Tôi tin Giáo Hội tông
truyền”.
Lập tức, Chúa Giêsu đã muốn điều này: tái lập một dân tộc. Việc chọn
mười hai bạn đồng hành gợi lại mười hai người con của Giacóp và mười
hai chi tộc Israel, nghĩa là toàn thể mọi người. Chúa Giêsu đã đến
vì mọi người. Lệnh ban ra cho các tông đồ: “Hãy đi tới với các chiên
lạc nhà Israel” đơn giản đánh dấu bước đầu của sự quy tụ, đánh dấu
lời kêu gọi dân cũ sẽ phải nhanh chóng tạo lập dân mới. Nhưng câu
cuối của Tin Mừng mở cửa toàn thể thế giới cho các tông đồ: ”Các môn
đệ thuộc tất cả các dân tộc”.
Khi tìm kiếm một người thay thế Giuđa, Phêrô đã nói: “Chúng ta hãy
chọn một trong những người đã đi theo chúng ta trong suốt thời gian
Chúa Giêsu thường lui tới với chúng ta cho đến ngày Ngài lên trời.
Người này sẽ cùng chúng ta làm chứng Ngài đã sống lại” (Cv 1,
21-22). Lời này mở rộng nhóm mười hai. Không phải họ là những người
duy nhất vây quanh Chúa Giêsu. Cho nên Tin Mừng cũng nói đến 72
người. Nếu vai trò của nhóm mười hai là duy nhất theo tư cách là nền
tảng của Giáo Hội, thì chính khái niệm tông đồ được mở rộng ra cho
mọi Kitô hữu, và bao gồm hai tính chất chủ yếu, đó là cùng đồng hành
với Chúa Giêsu và đức tin thông truyền do sự Phục sinh: “Ngài đã
sống lại!”
Chúng ta thuộc về động thái phát sinh vào ngày mà Chúa Giêsu muốn
nhóm mười hai sống với Ngài. Nếu chúng ta không hài lòng về Giáo
Hội, về Giáo Hoàng, về các Giám Mục và về cha sở của chúng ta, chúng
ta hãy xem xét vấn đề... cùng với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể phê
bình và đôi khi chúng ta phải làm như thế vì là một thành phần sống
động trong Giáo Hội. Nhưng điều cũng làm cho chúng ta quan tâm đó là
toàn thể Giáo Hội là một tập thể rất sống động chung quanh Chúa
Giêsu và là một lời loan báo Tin Mừng của Ngài rất sống động.
Khi tình yêu Giáo Hội và nhiệt tình truyền giáo hiện diện nơi một
Kitô hữu thì người đó đang đi theo bước chân các tông đồ và Chúa
Giêsu xem người đó là người thân của Ngài.

SỨ MỆNH CỦA NHÓM MƯỜI
HAI
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Thấy dân chúng, Người
chạnh lòng thương họ": khởi
điểm sứ mệnh tạm thời của nhóm 12 và khởi điểm toàn thể sứ mệnh của
Giáo Hội là lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu... Đây là một thứ tình cảm
sâu đậm (chữ Hy lạp gợi lên hình ảnh tâm thần xao xuyến) mà Cựu Ước
đã gán cho chính Thiên Chúa (Xh 34, 6; Tv 103, 8-13; Hs 2, 2-3; Gr
31, 20; Is 54, 7) và các Tin Mừng dành riêng cho Chúa Giêsu (Mt 14,
14; 15, 32; 20, 34; Mc 6, 34; 8, 2; 9, 22; Lc 7, 13) hay cho các
nhân vật dụ ngôn tượng trưng Người hay Thiên Chúa (Lc 15, 20; Mt 18,
27; x. Lc 10, 35).
"Vì họ bơ phờ vất vưởng
như chiên không người chăn giữ”
ở đây điều làm Chúa Giêsu âu yếm xót thương là tình cảnh quẫn bách
của những đoàn lũ "bơ phờ", "yếu liệt", "nằm sòng sãi", như một đàn
chiên không có chủ chăn. Hình ảnh thôn dã này mượn từ Cựu Ước, mà
bản văn gần giống nhất là Ds 27, 16-17: “Môisen thưa với Giavê rằng:
Lạy Giavê, xin Ngài đặt một ai đó trên cộng đoàn, để ra trước chúng
và vào trước chúng để đem chúng ra và đem chúng vào, hầu cộng đoàn
của Giavê khỏi như chiên không người chăn giữ". Đàn chiên của Thiên
Chúa, trong suốt giòng lịch sử, đã từng bị những tên lái buôn "bóc
lột và phân tán” (Dcr 11, 7. 11; x. 1V 22, 17; Gr 23, 1-2; 50, 6; Ed
34, 1-10; Is 56, 11); và bây giờ vẫn còn những kẻ hướng đạo đui mù
(Mt 15, 14; 23, 16.24) dùng môn học thuyết sai lạc của họ (16,12)
làm lạc hướng đàn chiên, vẫn còn những hạng chăn thuê vô liêm sỉ làm
chiên tan tác (Ga 10, 12tt). Vì thế Chúa Giêsu, chủ chăn vương giả
mà Êdêkien loan báo (34, 23tt), mục tử tuẫn nạn mà Dacaria đã thoáng
thấy mơ hồ (13, 7 = Mt 26, 31), sắp ủy thác cho nhóm 12 trách vụ quy
tụ đàn chiên từ mọi chuồng chiên khác (Ga 10, 16) như ngày xưa
Môisen đã ủy thác dân cho môn đồ mình là Giosuê chăm nom (Ds 27,17).
Đây thật là một vinh dự lớn lao và cũng là một trách nhiệm nặng nề
cho nhóm 12 môn đồ của Môisen mới…
"Mùa màng nhiều, thợ
gặt ít”:
Mùa gặt là một hình ảnh
cổ điển Cựu Ước thường dùng để chỉ cuộc Chung thẩm của Thiên Chúa
(Is 27, 12; Ge 4, 13 v.v...). Trong Tân Ước mùa gặt này thường phân
làm hai, gồm giai đoạn đầu được đánh dấu bởi thời gian của Chúa
Giêsu và của Giáo Hội và giai đoạn hay lịch sử chấm dứt, lúc Con
Người sẽ thu lúa vào lẫm (Mt 13, 30) và đốt cỏ lùng (13, 30. 41tt):
đó sẽ là mùa gặt sau hết (Mc 4, 29; Kh 14, 14tt), là “ngày tận thế"
(Mt 13, 39), ngày chung thẩm (25, 31-46) và bấy giờ thợ gặt sẽ là
chính Chúa Kitô với các thiên thần của Người (13, 39; x. Kh 14,
14-19). Nhưng trong khi chờ đợi ngày tận cùng đó, thì kể từ cuộc
giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Kitô, rõ ràng phải cần một vụ gặt
qua sự kiện là đã có sự phân biệt giữa hạt giống tốt và xấu, khi Tin
Mừng đòi buộc con người phải tuyên bố theo hay chống Chúa Kitô (Mt
10, 13 -16. 40; Ga 3, 18tt). Đấy là công việc chuẩn bị trong đó Chúa
Giêsu đã đóng vai trò gieo giống (Mt 13, 1-8ss; 13, 37; Ga 4, 36tt),
còn nhóm 12 sẽ là những người thu hoạch.
Chính mùa gặt tiên trưng này là mùa mà nhóm 12, khi thụ hưởng các
thành công đầu tiên của Chúa Giêsu, thấy mình được Người ủy thác cho
tại Galilê, và chính về nó mà ta có thể áp dụng trước tiên câu nói
của Chúa Giêsu trong Gioan: "Thầy đã sai các con đi gặt nơi các con
đã không vất vả làm ra: có những kẻ khác đã vất vả rồi, còn các con
chỉ đến thừa hưởng công lao của họ" (Ga 4, 38). Tuy nhiên sứ vụ ở
Galilê chỉ là mào đầu và là hình ảnh của những mùa lúa chín vàng (Ga
4, 35) và phì nhiêu (Mt 9, 37) mà các sứ đồ cùng bao thợ khác của
Tin Mừng, thừa hưởng công lao khó nhọc và hoa quả của hy tế Chúa
Giêsu (x. Ga 4, 6; 12, 24), sẽ thu vào lẫm (so sánh Ga 4, 37tt và Cv
8, 15tt) từ ngày Hiện xuống.
“Chữa mọi tật nguyền
bệnh hoạn":
Ở đây Matthêu dùng lại
cùng những hạn từ đã sử dụng để nói lên quyền năng tràn đầy mà chính
Chúa Giêsu đã được trao ban (9, 35); qua cách đó ông cho thấy các sứ
đồ hoàn toàn in hệt Người và họ phải trở nên như cánh tay nối dài
của Người vậy. Họ sẽ hoàn tất các công việc và thành quả giống như
của Người và Ngài củng cố lời rao giảng của họ bằng cách làm phép
lạ. Uy quyền của Chúa Giêsu được chuyển qua cho môn đồ của Người.
"Mười hai sứ đồ ": Đây là lần duy nhất Matthêu dùng
thành ngữ này; nơi khác, ngoài thành ngữ "Nhóm mười hai" (10, 5; 20,
17; 26, 14. 20. 47), ông viết "Mười hai môn đồ" (10, 1; 11, 1; x.
28, 16) hay “các môn đồ" (13, 10; 14, 15; 26, 8. 56 v.v. ..), vì hơn
Maccô và Luca, Tin Mừng thứ nhất ưa lẫn lộn môn đồ và sứ đồ với
nhau. Kiểu nói bất thường của đoạn văn chúng ta sử dụng chữ "sứ đồ"
theo chính xác được dùng trong Giáo Hội sơ khai để chỉ nhóm Mười Hai
và một vài nhân chứng chính thức khác của việc Chúa phục sinh.
“Đừng lên đường đến các dân ngoại": Mấy chữ này rõ
ràng là kiểu nói cổ xưa (như kiểu nói "thành của người Samari" để
chỉ tỉnh Samari), có căn ngữ Aram (kết quả nghiên cứu Schurmann,
Cerfàux) cũng chắc chắn phát xuất từ một nguồn trước Matthêu; và bởi
thế ta hiểu được rằng Maccô và Luca đã dùng đến vì nể các độc giả
lương dân của họ. May thay còn lại các chữ đó, vì chúng là bằng
chứng cho thấy các Kitô hữu đầu tiên đã xem việc truyền giáo ở
Galilê là một sự kiện lịch sử, đáng ghi nhớ. Ông không xem đó như là
lời phát biểu một nguyên tắc ngàn đời của việc truyền giáo, vì như
vậy mâu thuẫn với mệnh lệnh sau cùng mà ông có ghi lại: “các con hãy
đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân" (28, 19), nhưng xem như là lời
diễn tả một kế hoạch tạm thời, mà tất cả thái độ của Chúa Giêsu đã
làm chứng cho thấy, một kế hoạch mà theo đó Tin Mừng phải được dành
riêng cho "con cái của Vương quốc” (8, 12) Trong một thời gian đầu,
nghĩa là cho đến cuộc chiến thắng phục sinh, cái biến cố sẽ tạo nên
khí cụ cứu rỗi cho tất cả mọi người, tạo nên chủ đề chính yếu của
lời rao giảng và khởi điểm của việc rao giảng khắp vũ hoàn. Matthêu
đã nghĩ rằng độc giả của ông đủ thông minh để phân biệt, trong mớ
tài liệu sưu tập của chương 10, cái gì đã chỉ có giá trị đối với
việc truyền giáo ở Galilê và cái gì áp dụng được cho mọi thời đại
của Giáo Hội.
“Hãy loan báo ... hãy chữa lành”: Việc rao giảng của
Chúa Giêsu và của các sứ đồ ở Galilê đã quy hướng cái nhìn của
Israel về sự can thiệp dứt khoát cận kề của Thiên Chúa, được hứa
thực hiện trong thời sau hết (Is 52, 7; Dcr 14, 9; Đn 2, 44 v.v...).
Và các phép lạ cùng các việc trừ quỷ của Chúa Giêsu, đi đôi với lời
người rao giảng (Mt 4, 23; 9, 35; Lc 9, 11...) làm nên khởi nguyên
(Mt 12, 28; Lc 17, 20) cũng như dấu chỉ của Vương quyền cứu độ này
của Thiên Chúa. Đó cũng là vai trò của các phép lạ và việc trừ quỷ
do nhóm 12 thực hiện. Ngoài ra Matthêu còn ghi thêm lệnh phục sinh
kẻ chết và tẩy sạch người phung hủi; như thế ông đã đưa ra được bản
liệt kê các dấu chỉ Thiên sai, cảm hứng từ Isaia, gần giống với bản
liệt kê trong câu Chúa Giêsu trả lời cho Gioan Tẩy giả (11, 4).
Sau này, các sứ đồ sẽ tiếp tục rao giảng Nước Trời (Cv 19, 8; 20,
25; 28, 23. 31), nhưng sẽ thêm vào đó (Cv 8, 12) tên của Đấng đã
chết để giải thoát ta khỏi ách kìm kẹp của satan, tội lỗi và sự
chết, đã được tôn phong làm Chúa trên trời (Cv 2, 30-36; Pl 2, 11;
Kh 19, 16) và sẽ trở lại hoàn thành Vương quốc (1Cr 15, 20-28. 50;
Cv 3, 21…). Để củng cố lời rao giảng Tin Mừng (Mc 16, 15-18; Cv 4,
29tt), họ sẽ tiếp tục chữa lành bệnh tật (Cv 3, 1-10; 5, 15tt; 8, 7;
9, 32-35; 19, 12), phục sinh kẻ chết (Cv 9, 36-42; 20, 7-12), xua
trừ ma quỷ (Cv 8, 7; 16, 16) và tỏ ra bất vụ lợi hoàn toàn (1Tx 2,
2-12; Cv 8, 19tt). Tiếp tục trách vụ của họ, Giáo Hội truyền giáo sẽ
không thể tách rời việc rao giảng Tin Mừng với các hoạt động bác ái
vô vụ lợi, vì cả hai đều ban phát cho mọi người ơn cứu độ hoàn toàn
Chúa Giêsu đã đạt được.
KẾT LUẬN
Chúa Giêsu đã động lòng xót thương đàn chiên bơ vơ lạc lõng trước
mặt Người, cũng như các con chiên bơ vơ Người thoáng thấy trong muôn
thế hệ về sau. Trước khi hiến thân để chỉ còn "một đàn chiên, một
chủ chiên" (Ga 10, 16), Người đã chọn và sai nhóm Mười Hai, thủ lãnh
của một dòng dõi những kẻ phục vụ Tin Mừng, để họ rao giảng Tin
Mừng, xua đuổi tà thần, chữa lành bệnh tật, nghĩa là ban phát cho
toàn thể con người ơn cứu độ mà Người đã tạo được nhờ lao nhọc gieo
vãi và cứu chuộc. Giáo Hội, thành thánh đặt cơ sở trên 12 móng, mỗi
móng mang tên của một trong 12 sứ đồ của Con Chiên (Kh 21,14), có
trách vụ tiếp tục cho đến tận thế sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và ân
cần chăm sóc hết những ai đau khổ. Nhưng vì thợ gặt ít, nên Chúa
Giêsu xin ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy sai thợ gặt đồng lúa của
Ngài!
Ý
HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Khi hạn định sứ mạng của mình trước tiên cho người Do
thái, Chúa Giêsu đã tuân theo một trật tự, một tiến trình cứu rỗi đã
được tiên liệu chiếu theo quyết định của Thiên Chúa: bắt đầu từ dân
Do thái đi đến dân ngoại. Người đã hiểu sứ mệnh mình như thế và đã
nghiêm túc tuân theo. Có lẽ Người đã đau khổ vì sự hạn chế này. Sự
vâng phục này nằm trong sự từ bỏ sâu xa và hoàn toàn của Con Thiên
Chúa, mà nhờ đó ta được cứu chuộc. Giữa bao lao nhọc truyền giáo và
mục vụ, ta chớ bao giờ quên rằng: điều quan trọng không phải là số
lượng công việc đã làm, đường xa đã đi, số người đã ảnh hường, tính
cách bao la của công trình, nhưng là thi hành thánh ý Thiên Chúa
trong các giới hạn mà thánh ý Ngài đã ấn định.
2) Thiên Chúa đã muốn cần đến con người để tiếp nối hành động
Ngài trong thế gian. Ngài có thể bất cần sự hợp tác đó thế nhưng
Ngài đã muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai (việc
rao giảng Tin Mừng làm lại con người một cách khác từ cái chết do
tội) sau khi đã kết nạp họ vào cuộc tạo dựng thứ nhất ("Hãy nên đầy
dấy trên đất và hãy bá chủ nó", St 1, 28).
3) Những kẻ Thiên Chúa gọi, thì Ngài gọi cách tự do, chứ
không chiếu theo danh nghĩa đặc biệt nào (giai cấp xã hội, quốc
tịch, chính kiến, thông minh...). Tuy nhiên Ngài ưu tiên lưu tâm đến
những người đơn sơ chất phác, nghèo hèn, ít học... Điều Ngài đòi hỏi
là sự cởi mở, quảng đại, sẵn sàng. Nếu có các đức tính đó, Ngài có
thể làm những việc kỳ diệu, dù họ vẫn còn nhiều khuyết điểm và yếu
đuối của con người.
4) Lòng thương xót trắc ẩn của Chúa Kitô thúc bách Người lắng
lo cho các chiên không chủ chăn thời đó. Ngày nay phải chăng đã đổi
hoàn cảnh? Không! Đọc bất cứ tờ báo nào, nghe bất cứ đài phát thanh
nào, ta đều chứng kiến bao cảnh biểu lộ sự bối rối hay thất vọng
trước nỗi khó khăn, phi lý của cuộc đời. Nhìn đám đông trong thành
phố, dưới vỉa hè hay trên xe cộ, hình như ta cũng có cùng cảm thức
như Chúa Giêsu khi đứng trước đám người Do thái ở Galilê. Đôi lúc
chính các Kitô hữu ngày nay không còn biết tin tưởng vào ai, theo vị
thầy nào. Chúa Kitô sai Kitô hữu đến thế gian để tiếp nối sứ vụ chủ
chiên nhân lành của Người bên cạnh con người thế kỷ XXI.
5) Vào mỗi thời kỳ khó khăn hay chuyển hướng của lịch sử Giáo
Hội, thì chủ mùa gặt, để đáp lại lời cầu xin của biết bao người hèn
mọn, yếu đuối, vô danh, đã luôn làm chỗi dậy nam nữ sứ đồ. Những kẻ
này xuất hiện như là những vị giảng đạo của thời đại, những chứng
nhân cho một Vương quốc duy nhất có thể biểu lộ sức mạnh của mình
bằng nhiều cách. Nhưng chỉ nhờ lời cầu nguyện mới có các chứng nhân
đó.

Một giai đoạn mới của Tin Mừng Thánh Matthêu bắt đầu từ hôm nay. Sau
giai đoạn đầu tiên tập trung xung quanh Bài Giảng Trên Núi, trong đó
Đức Giêsu đã trình bày những nền tảng sứ điệp của Người và bắt đầu
biểu lộ quyền bính độc nhất mà người có khi thực hiện một vài "dấu
chỉ mầu nhiệm" đặc thù... Giờ đây là một giai đoạn mới tập trung
xung quanh Bài giảng về sứ mệnh truyền giáo mà Đức Giêsu sẽ kêu gọi
con người cọâng tác vào sứ vụ của Người.
Đức Giêsu thấy đám
đông, Người chạnh lòng thương
Đôi mắt của Đức Giêsu! Cái nhìn của Đức Giêsu! Cái nhìn tuyệt vời ấy
mà một số ảnh thánh đã vẽ lại trong đôi mắt to. Có nhiều cách
"nhìn". Một nhân viên vô danh của một thương xá, đã quen với cái
nhìn lãnh đạm, nói với một bà khách hàng: "Bà đã nhìn tôi không như
mọi người, tôi đoán rằng có "cái gì đó" trong lòng bà...".
Đức Giêsu "chạnh lòng thương". Động từ Hy Lạp
“esplanchmzô" có nghĩa đen là "xao xuyến trong gan ruột" và gợi lại
một từ ngữ Do Thái rất quan trọng "rahamim", thể hiện vừa "lòng mẹ"
vừa "tình yêu” . Trong Tin Mừng, từ ngữ ấy dành riêng cho Thiên Chúa
và Đức Giêsu (Lc 10,33; 7,13; 15,20; Mc 9,22; Tv 51,3; Gr 31,20; Is
54,7 Ds 27,16-17). Đức Giêsu để mình xúc động đến ruột gan: Tại sao?
Người đã thấy cảnh tượng gì làm cho đôi mắt to của Người bao phủ
bóng mờ của lòng thương cảm?
…vì họ lầm than vất
vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.
Đôi khi lầm than vất vưởng còn được dịch là mệt mỏi, lả đi. Những
con người kiệt sức, không còn có thể làm được gì! Một sự chán nản to
lớn, sự chán ghét sâu xa trước cuộc đời phi lý không có ý nghĩa gì.
Những đám đông không có mục tử. Những con người không có Thiên Chúa.
Một nhân loại kiệt sức một cách vô ích trên những nẻo đường không
dẫn đến đâu cả… như một bầy chiên đi lang thang bất định...
Phải chăng thân phận của người nghèo trên thế giới đã thay đổi nhiều
từ thời Đức Giêsu? Cái nhìn hiện nay của Đức Giêsu trên nhân loại
phải chăng rất khác với cái nhìn lúc đó? Còn chúng ta thì sao? Chẳng
phải chúng ta được mời gọi để nhìn đến những đám đông đó sao? Những
nỗi thống khổ mênh mông của hàng tỉ con người và những trẻ em thiếu
ăn trên hành tinh chúng ta. Những nỗi khổ tinh thần của tất cả những
người đã thất bại, đã bị bỏ rơi, không cảm thấy mình được yêu
thương. Sự suy sụp của những người sống buông xuôi, sử dụng ma túy,
hóa rồ dại và tự hủy hoại mình dần dần...
Lạy Chúa! Xin giúp các môn đệ của Chúa chấp nhận cái nhìn của Chúa!
Toàn thể thế giới từ nay ở dưới ánh mắt chúng ta qua màn hình của vô
tuyến truyền hình. Những cuộc du hành của chúng ta trong những nước
thuộc thế giới thứ ba không chỉ là du lịch. Và trong những thành phố
lớn, ngay trước cửa nhà chúng ta, có một thế giới thứ tư của những
con người bị đè bẹp. Chúng ta hướng về các thực tại ấy với cái nhìn
nào?
Có phải chúng ta sẽ ở trong số những người… dửng dưng, chán chường,
thụ động không? Và Đức Giêsu làm gì trước những cảnh tượng đó?
Bấy giờ, Người nói với
môn đệ rằng: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặp lại ít”.
Đức Giêsu không phải là một người chán chường. Người nhìn nhân loại
như một cánh đồng lúa chín dập dờn dưới làn gió mùa hè. Mùa gặt kia
rồi, tất cả đã sẵn sàng. Người ta vui mừng vì mùa gặt đến, nhưng thợ
gặt lại ít. Đức Giêsu thừa nhận công việc của Người rất nhiều. Người
muốn có những người cộng tác. Ai sẽ đứng dậy để hành động với Người?
Vậy anh em hãy xin chủ
mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.
Sự cầu nguyện là hành động truyền giáo đầu tiên. Tại sao?
Tại sao "chủ mùa gặt" tức Thiên Chúa không trực tiếp sai các thợ gặt
cần thiết? Tại sao Người yêu cầu chúng ta cầu nguyện"? Người tôn
trọng trách nhiệm to lớn của con người: Thiên Chúa cần đến những con
người! Mầu nhiệm to lớn của việc cần thiết phải can thiệp bằng sự
cầu nguyện, mở ra cho chính chúng ta công việc phải làm ở cánh đồng
đó. Nếu bạn cầu nguyện thì người thợ găït đầu tiên mà Thiên Chúa có
ngay trong tay Người, chính là bạn. Bạn không chỉ cầu nguyện để gởi
những người khác đến công trường, mà bạn hãy đi đến đó! “Lạy Chúa,
này tôi đây, tôi xin Chúa hãy sai tôi” (Is 6,8). Người ta lo lắng
rất nhiều về trách nhiệm to lớn của việc Tin Mừng hóa. Trên hết,
người ta quan tâm về các phương pháp. Nhưng trước khi để cách làm
“thế nào" thôi miên, chẳng phải trước tiên người ta cần ý thức lại
bản chất sâu xa của “sứ vụ” đó sao. Nhiệm vụ làm tông đồ của chúng
ta tùy thuộc vào Đấng Tha Thể Tuyệt Đối (Đấng Khác) sai chúng ta đi…
Đó không phải công việc "của chúng ta". Chúng ta không làm việc bởi
sức mình. Chúng ta ở trong cánh đồng của Thiên Chúa, trong mùa găït
của Người, "Đấng muốn rằng nhân loại được cứu” (1Tm 2,4). Từ đó, có
sự ưu tiên của việc cầu nguyện trên mọi phương pháp. Và phải chăng
khủng hoảng của ơn gọi thực ra chỉ là một khủng hoảng của sự cầu
nguyện?
Rồi Đức Giêsu gọi mười
hai môn đệ lại ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các
ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.
Đức Giêsu không có ý định một mình thực hiện công việc của Thiên
Chúa: Người trao dự án và quyền bính của Người cho "một ít người",
mười hai người mà Người chọn trong số hàng trăm môn đệ đi theo
Người: Chức tư tế thừa tác bắt nguồn từ đây, trong ý muốn tổ chức
Giáo Hội của Người.
Con số "mười hai" là con số tượng trưng. Nó ám chỉ mười hai bộ tộc
của Israel tạo thành "dân Thiên Chúa" và bảo đảm việc phụng tự mỗi
tháng, trong mười hai tháng của năm âm lịch. Vì thế con số mười hai
này biểu thị toàn bộ miền "đất hứa", vì toàn bộ "thời gian".
Sau đây là tên của mười
hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là Phêrô, rồi đến ông
Anrê, anh của ông; sau đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê, và ông
Gioan, em của ông, ông Philípphê, và ông Batôlômêô; ông Tôma và ông
Mátthêu người thu thuế, ông Giacôbê con ông Anphê và ông Tađêô; ông
Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giuđa Iscarios chính là kẻ nộp
Người.
Các sách Tin Mừng đưa ra cho chúng ta danh sách này bốn lần: với một
vài sự khác nhau nhỏ nhưng với sự phù hợp tối đa. Matthêu đã tập họp
tất cả các tên ấy “từng đôi một". Đây không phải là chuyện ngẫu
nhiên. Việc thành lập "đội quân" của Đức Giêsu rất có ý nghĩa: Người
đã chọn làm những người cộng tác mật thiết cùng lúc một người ‘thu
thuế’ bởi nghề nghiệp mà thỏa hiệp với quân chiếm đóng La Mã… và một
người thuộc nhóm ‘quá khích’, theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và
chống lại người La Mã. Một sự phối hợp dễ bùng nổ, Matthêu nhấn
mạnh: đây không phải do sự ngẫu nhiên…
Chẳng phải là Giáo Hội chủ yếu phải "đa nguyên", để có thể đảm đương
những điểm khác nhau và những xung đột của thế giới… để: giải quyết
chúng trong một sự hiệp thông cao cả hơn. "Nếu anh em chỉ chào hỏi
anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Còn Thầy, Thầy
bảo thật anh em: "Hãy yêu kẻ thù” (Mt 5,43-48). Sau hết, chúng ta
cũng đoán ra Giáo Hội phải có sự khiêm nhường nào. Trong những người
có trách nhiệm, Giáo Hội lúc đó bao gồm "người' đứng đầu", Simon
Phêrô, người đã chối Đức Giêsu, và "người đứng cuối", Giuđa, là
người đã nộp Chúa cho các đao phủ. Quả là một đội quân đáng thương.
Nó chỉ mạnh bởi sự chọn lựa mầu nhiệm mà Chúa Giêsu đã thực hiện:
"Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu” (Ga
15,15).
Đức Giêsu sai mười hai
ông ấy đi và chỉ thị rằng: "Anh em đừng đi về phía các dân ngoại,
cũng đừng vào thành nào của dân Samari. Tốt hơn là hãy đến với các
con chiên lạc anh nhà Israel”.
Đức Giêsu sai họ đi! Nào anh em hãy đi! Hãy lên đường! Nhưng chúng
ta nhận thấy rằng "môi trường hoạt động" rất hạn chế, trái ngược với
sứ vụ bao quát cả hoàn vũ mà Người sẽ truyền lệnh sau khi Người sống
lại: "Vậy anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép
rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt
28,19). Tại sao sứ vụ đầu tiên này ở Galilê có những sự hạn chế? Có
lẽ để nói rằng Thiên Chúa trung tín với điều hứa của Người và Israel
phải là người đầu tiên đón nhận Tin Mừng (đó là điều Thánh Phaolô sẽ
làm). Nhưng cũng bởi vì xét về phương diện con người, người ta không
thể làm tất cả mọi sự: phải bắt đầu và không được ẩn náu trong sự to
lớn của nhiệm vụ để không làm gì cả!
Nào anh em hãy đi! Hãy lên đường! Anh em được sai đi. Mỗi sự quy tụ
của các Kitô hữu phải hoàn thành trong sự sai đi này: Ite, missa
est! Cộng đoàn Giáo Hội, dưới khía cạnh phụng vụ, là một cuộc tập
hợp tạm thời phải được chuẩn bị để đi vào thế giới ngõ hầu cùng với
mọi người, tín hữu hoặc không phải là tín hữu, tạo thành một "cộng
đoàn nhân loại". Giáo Hội được quy tụ vì Thánh Thể có tính chất
"ngôn sứ": Giáo Hội "nói lên" dự án của Thiên Chúa là "quy tụ lại
trong sự hiệp nhất mọi con cái của Thiên Chúa đã bị phân tán". Giáo
Hội nói lên rằng nhân loại từ nhiều phải được làm nên một, theo hình
ảnh của Ba Ngôi. "Để tất cả nên một như Chúng Ta, như vậy thế gian
sẽ tin" (Ga 17,21). "Sứ vụ”, "sự sai đi" là yếu tính của Giáo Hội.
Nhiệm vụ đầu tiên của Giáo Hội không phải là tuyển mộ: "Anh em hãy
đến gặp chúng tôi!" mà là công bố: "Nước Trời ở đây rồi”; “Thiên
Chúa ở với anh em, nơi anh em đang ở". Trước tiên, phải Tin Mừng
hóa, phải rao giảng Tin Mừng.
Dọc đường hãy rao giảng
rằng: "Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm
cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh và khử trừ
ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.
Đây là những công thức tượng trung để diễn tả "Dự án" của Thiên
Chúa. Mọi đời sống con người đã được Thiên Chúa cư ngụ và có được
một ý nghĩa vượt qua chính nó: “bạn sẽ không chết”. Cưới nhau và
sinh con cái chính là tin rằng sự sống vượt qua sự chết. Triều đại
của Thiên Chúa "đã bắt đầu". Sự khác nhau giữa người tín hữu và kẻ
vô thần, đó là người tín hữu lắng nghe ở đáy lòng, "ý nghĩa" của
điều mình sống, và người ấy biết điều đó dẫn đến đâu. Người ấy "tin
rằng" Thiên Chúa hướng dẫn lịch sử và người ấy tham gia vào lịch sử
ấy với nhiều ý thức nhất khi làm cho sự sống chiến thắng.

(ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN
CHÚA – Fernandez)
1) Tinh khẩn thiết của
sứ mạng tông đồ: mùa màng thì nhiều mà thợ gặt lại ít
Bài Tin mừng trong Thánh lễ hôm nay vẽ ra một cảnh tượng mà chắc
chắn đã thường xuyên xảy ra mỗi khi Chúa Giêsu rảo bước qua các
thành thị và làng mạc để rao giảng Nước Trời đang đến gần. Khi nhìn
đám đông, Người chạnh lòng thương; Người đã xúc động trước cảnh ngộ
khốn khổ của họ vì thấy họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không
người chăn dắt (Mt 9,36). Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa
chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai
thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37). Ngày nay hoàn cảnh cũng tương tự như
thế, có quá ít nhân lực để thực hiện một công trình to tát. Hoa mầu
có thể thất thu vì không có người ra đồng mà gặt. Vì thế có một nhu
cầu thúc bách các Kitô hữu sống trung tín đơn thành hiệu quả và vui
tươi với Hội Thánh và ý thức được những việc cần phải làm. Tất cả
chúng ta đều can dự vào công việc này, vì Thiên Chúa đang cần những
công nhân, sinh viên đem Đức Kitô đến công trường hay vào giảng
đường bằng uy tín và tinh thần tông đồ của họ. Thiên Chúa cần những
giáo viên sống mẫu mực, truyền bá nhân sinh quan Kitô giáo, những
giáo viên biết tận tụy dành thời giờ cho sinh viên, những giáo viên
chính hiệu. Thiên Chúa cũng cần những bậc làm làm mẹ biết quan tâm
đến việc giáo dục và đức tin của con cái và đóng một vai trò tích
cực trong hội đồng nhà trường, các ủy ban và hiệp hội địa phương.
Khi chúng ta thấy nhiều người đang đi vào con đường sai trái, cuộc
đời họ luôn thiếu vắng Thiên Chúa và trong lòng chỉ quan tâm tới của
cải vật chất hay khao khát muốn chiếm hữu những của cải ấy, chúng ta
không thề cứ ù lì, bất động, “bình chân như vại” mãi được. Vì mặc dù
bề ngoài họ có vẻ dửng dưng, nhưng thâm sâu trong tâm hồn, họ vẫn
khát khao tìm Thiên Chúa. Họ mong muốn có ai đó nói với họ về Thiên
Chúa và những chân lý cứu độ. Nếu các Kitô hữu không lấy tinh thần
hy sinh ra mà giải quyết vấn đề này, thì những lời tiên tri của ngôn
sứ Giôen ngày xưa sẽ trở thành sự thật mất thôi: Đồng ruộng bị tàn
phá, đất đai cũng u sầu như thể chịu tang, vì lúa mì bị tàn phá,
rượu mới đã cạn khô, dầu tươi chẳng còn nữa. Hỡi nhà nông, hãy thẹn
thùng xấu hổ, kẻ trồng nho, hãy rú lên nào, tiếc cho lúa miến, lúa
mạch, vì đồng ruộng chẳng còn gì để gặt hái. Nho cằn cỗi, vả héo
tàn, cả lựu, cả chà là lẫn táo, mọi cây cối ngoài đồng đã chết khô.
Thế là đã cạn hết niềm vui của con cái loài người (Ge l,1-12). Thiên
Chúa mong mỏi hoa mầu được thu hoạch nhưng chúng lại thất thoát chỉ
vì sự chểnh mảng của đám thợ gặt mà thôi.
Những lời Chúa Giêsu nói, lúa chín thì nhiều nhưng thợ gặt thì ít,
đáng cho chúng ta hôm nay suy gẫm, và hàng ngày xét mình xem: hôm
nay chúng ta đã làm cho Danh Chúa được tỏ hiện cho mọi người chưa ?
Tôi đã nói với ai về Đức Kitô chưa? Tôi đã làm được một việc tông đồ
nào chưa? Tôi có quan tâm đến ơn cứu độ của bằng hữu và đồng nghiệp?
Tôi có nhận thức rằng nhiều người có thể đến gần Thiên Chúa hơn nếu
như tôi dạn dĩ hơn và gương mẫu hơn trong việc chu toàn những nghĩa
vụ bổn phận hàng ngày?
2) Không được viện cớ
thoái thác.
Thiên Chúa kêu gọi mọi người làm tông đồ. Cầu nguyện là phương thế
cần thiết và hiệu nghiệm nhất để thực thi sứ mạng ơn gọi này.
Người ta có thể đưa ra nhiều lời bào chữa cho việc đã không mang Đức
Kitô đến với tha nhân - nào là thiếu nhiều phương tiện, chưa chuẩn
bị tương xứng, không có thời giờ, nào là vì chúng ta đang sống ở xó
xỉnh này có quen biết được bao nhiêu người đâu hay vì chúng ta sẽ
phải đi thật xa, hay cho dù ngay trong vùng chúng ta đang sống cũng
phải đi thật nhiều. Tuy nhiên Thiên Chúa tiếp tục nhắc nhở tất cả
chúng ta, và đặc biệt hơn trong thời đại mà người ta quá dửng dưng
với tôn giáo này, rằng mùa màng thì nhiều mà thợ gặt lại ít. Hoa màu
không thu hoạch kịp sẽ bị hư thối. Những lời vàng ngọc của thánh
Gioan Kim khẩu sau đây cũng có thể giúp chúng ta thấy được là trong
khi cầu nguyện, chúng ta có quá dễ dàng thoái thác lời kêu gọi cao
quý đến nỗi từ chối làm tông đồ theo như thánh ý Chúa. Không có ai
lạnh lùng nn tâm hơn một Kitô hữu mà chẳng biết quan tâm đến ơn cứu
độ của tha nhân. Anh em không được dùng sự nghèo khổ mà biện bạch.
Bà góa dâng cúng vào đền thờ vài xu kia sẽ tố cáo bạn cho mà xem.
Chính thánh Phêrô cũng nói: "Vàng bạc thì Ta chẳng có " (Cv 3,6).
Còn Thánh Phaolô còn nghèo đến độ lắm phen phải chịu cảnh đói khát
thiếu thốn mọi phương tiện cần thiết để sống, Đừng viện cớ hoàn cảnh
khiêm hạ bình dân để biện minh chữa mình. Các Ngài cũng xuất thân từ
đám người khiêm hạ nhất đấy thôi. Cũng đừng phân trần kêu ca mình
thiếu kiến thức này kia. Các Ngài cũng mù chữ thất học cả đấy. Dù có
là nô lệ tôi đòi, hay là khách kiều cư di dân lập nghiệp, anh em
phải làm tất cả những gì có thể làm. Ônêsimô trước vẫn thế, và hãy
khôn ngoan trong ơn gọi của mình... Đừng kêu ca ốm đau bệnh hoạn để
biện minh chữa mình. Timôthê cũng thường xuyên đau ốm đấy thôi...
Mỗi người trong chúng ta đều có thể có ích cho những người chung
quanh nếu như chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể làm.
Chúng ta muốn trung tín với Thiên Chúa. Chúng ta sẽ mãi tín trung
với Ngài nếu chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể.
Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Thánh Gregoriô chú giải thế
này: Khi nghe câu này, chúng ta không thể không cảm thấy buồn, vì
chúng ta biết rằng có nhiều người muốn nghe Tin mừng, nhưng cái đang
thiếu là thiếu những người đi loan báo cho những tin vui này.
Vì thế để có nhiều người vai kề vai, mỗi một người trong vị trí
riêng của mình, cùng nhau làm việc trên thế giới này, chúng ta chỉ
có một cách là đi theo con đường chính Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng
ta: Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về (Mt 9,37).
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cầu xin Thiên Chúa đánh thức ước muốn,
trong nhiều tâm hồn, được góp phần to lớn hơn vào công cuộc cứu độ.
Cầu nguyện là những phương tiện hiệu quả nhất để thu phục những tông
đồ mới và giúp con người khám phá ra ơn gọi của mình. Trong kinh
nguyện dâng lên Thiên Chúa, ước muốn có thêm những tông đồ phải được
chúng ta bộc bạch với Ngài trước mọi điều khác: nài xin khiêm tốn,
tín thác và liên lỉ. Tất cả mọi Kitô hữu cần cầu xin Thiên Chúa sai
thợ ra gặt lúa về. Nếu chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn gọi,
thì chính chúng ta sẽ cảm thấy thôi thúc hơn, bạo dạn hơn trong công
tác tông đồ của chúng ta, vì thế cũng có thể thu hút thêm nhiều thợ
gặt mới cho vụ mùa.
3) Cầu xin Thiên Chúa
ban nhiều ơn gọi
Bằng cách sai các môn đệ đi trước, Chúa Giêsu đã chuẩn bị xa cho
những chuyến đi của Người tới những làng mạc thị thành khác. Công
việc ấy mới chỉ là chuẩn bị nhưng cũng là công tác tông đồ cả đấy.
Các tông đồ đã đi vào các làng mạc nơi chính Chúa Giêsu sẽ đến. Mọi
công tác tông đồ chẳng qua đều là nhắm đến mục tiêu chuẩn bị cho
người ta đón nhận Thiên Chúa đến với họ.
Lúa chín vẫn cứ nhiều... chúng ta cứ phải tiếp tục cầu xin Thiên
Chúa đánh thức tâm hồn mọi Kitô hữu nam cũng như nữ để họ nhận ra
được ý nghĩa ơn gọi trong cuộc đời mình. Họ sẽ nhận thức rằng mình
không chỉ muốn sống lương thiện tốt lành, mà còn phải tập tành làm
thợ gặt trong cánh đồng của Thiên Chúa, mỗi khi quảng đại đáp lại
lời mời gọi của Chúa Giêsu. Nam hay nữ, trẻ hay già đều sống tận
hiến cho Thiên Chúa trên đời này; nhiều người độc thân làm tông đồ;
cả những Kitô hữu bình thường, trong khi cùng sinh hoạt với mọi
người trong xã hội, lại là những người mang Đức Kitô vào tận giữa
lòng cuộc đời này.
Hãy cầu xin chủ mùa gặt... chúng ta cũng phải cầu xin cho có nhiều
ơn gọi linh mục và tu sĩ, những ơn gọi đầy hân hoan thánh thiện và
trung tín, những ơn gọi rất đỗi cần thiết cho Hội Thánh.
Chúa Giêsu, một mình Người vẫn có thể thực hiện trọn vẹn ơn cứu độ
trên thế gian này, nhưng lại muốn cậy dựa vào các môn đệ đi trước
mình vào các làng mạc thị thành, và nay là các đại học, các công
trường nhà máy, để loan báo những kỳ công, dấu lạ, điềm thiêng và
những yêu sách đòi hỏi của Vương quốc Thiên Chúa đang ngự đến. Rõ
ràng là Hội Thánh Mẹ chúng ta đang cần những người dấn thân vào con
đường tận hiến thánh thiện này. Các Đức giáo hoàng Rôma đã không
ngừng nhắc nhở chúng ta nhớ đến nhu cầu khẩn thiết cần có những ơn
gọi làm tông đồ, vì công cuộc phúc âm hóa thế giới này đang nằm
trong tay những ơn gợi ấy.
Hãy cùng tôi kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, các linh hồn!... các tâm hồn
tông đồ! HoÏ thuộc về Chúa, họ sống cho Chúa, cho Vinh Danh Chúa”.
Cuối cùng anh em sẽ thấy Ngài sẽ nhậm lời chúng ta.
Phần tôi, tôi đang làm gì để thu nhận những ơn gọi này? Những ơn gọi
này sẽ xuất hiện giữa con cái, anh em, chị em, họ hàng, bằng hữu và
người quen biết của chúng ta. Chúng ta đừng quên Thiên Chúa muốn gọi
nhiều người. Chúng ta hãy xin Ngài ban ơn thúc đẩy và khuyến khích
ơn thiên triệu cho những người chúng ta tiếp xúc hằng ngày.
Chúng ta cũng cầu xin Đức Maria giúp chúng ta lắng nghe nghiêm túc
Lời Chúa hôm nay và quyết tâm làm tất cả những gì chúng ta có thể,
với ý thức khẩn trương và liên tục nhờ vậy để chúng ta sẽ được thấy
nhiều thợ gặt đến làm việc trong cánh đồng Thiên Chúa. Chúng ta hãy
cầu xin Ngài ban cho mình niềm vui được làm dụng cụ cho Chúa Giêsu
mời gọi người khác. "Tin vui đây: một "gã khùng” khác sắp vào nhà
thương điên đây... Và tất cả mọi chuyện đều trở nên hồ hởi phấn khởi
qua lời lẽ của anh thuyền chài nọ... Xin Thiên Chúa làm cho những mẻ
lưới của anh em đầy tràn."
Thiên Chúa không bao giờ quên được ‘anh chàng thuyền chài’ đó đâu.

(FICHE DOMINICALE)
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1) Một sứ mạng bắt
nguồn từ “lòng thương xót” của Đức Giêsu.
Sau những hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu tại Galilê, câu 35 cho
một cái nhìn tổng quát về hoạt động này: "Đức Giêsu rảo khắp các
thành phố, làng mạc, rao giảng trong các hội đường. Công bố Tin Mừng
Nước Thiên Chúa, chữa mọi bệnh hoạn, tật nguyền, nay đến giờ tổng
kết, để tạo một đà lực mới cho sứ mạng. Nguồn mạch của đà lực mới
cho sứ mạng này phát xuất từ cái nhìn của Đức Giêsu, từ trái tim Mục
Tử nhân hậu của Người, từ "lòng thương xót" của Người đối với "đám
đông mệt mỏi rã rời", tệ hơn nữa, bị những người có trách nhiệm
hướng dẫn - Luật sĩ và Biệt phái - bỏ rơi vì những vị này khép lòng
lại trước tính chất mới mẻ của Nước Chúa. Họ bơ vơ như đàn chiên
không người chăn dắt. Thấy nhiệm vụ quá lớn lao mà phương tiện lại
nghèo nàn, trước khi cất tiếng kêu gọi và sai các tông đồ lên đường
sứ mạng, Đức Giêsu hướng tầm mắt các môn đệ về phía "ông chủ mùa
gặt": “Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến” .
2) Một sứ mạng không
khác sứ mạng của Đức Giêsu
Nhân việc Đức Giêsu kêu gọi "mười hai môn đệ", tác giả Phúc âm phong
cho họ tước hiệu "tông đồ" nghĩa là "được sai đi". Simon được gọi là
"Phêrô" đứng đầu, Matthêu người thu thuế “ở chương 9,9; "Giuđa", “kẻ
nộp Người".
Việc kêu gọi đi liền với việc sai đi truyền giáo được diễn tả dưới
hình thức diễn từ, đó là diễn từ thứ 2 trong 5 diễn từ quan trọng
của Phúc âm thứ 1 mà ta sẽ đọc Chúa nhật XII và Chúa nhật XIII sắp
tới. Đoạn Phúc Âm hôm nay trả lời hai vấn nạn: Họ được sai đến với
ai ? Sứ mạng của họ là gì ?
Đến với ai? Với cuộc hẹn cuối cùng tại Galilê, Đức Giêsu phục sinh
đã mở chân trời truyền giáo ra tới "mọi dân tộc" (28,19). Còn hiện
tại, những người được sai đi trước hết: "với những chiên lạc nhà
Israel".
Sứ mạng gì? Y hệt sứ mạng của Đức Giêsu. Như Người họ sẽ loan báo
việc Nước Thiên Chúa đến. Họ sẽ thực hành những cử chỉ nhân hậu của
Chúa, những dấu chĩ mà tác giả Phúc âm, ở 11,2, gọi là "những công
việc Đức Giêsu”. Khi nhớ lại rằng họ chỉ hành động như vậy nhờ Đức
Giêsu ban các quyền năng của Người cho họ một cách nhưng không, họ
đã đi đến một thái độ sống nghèo "Anh em đã lãnh nhận nhưng không,
hãy ban nhưng không”.
BÀI ĐỌC THÊM
1) Chính nơi trái tim
Đức Giêsu ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta
(Mgr. L. Daloz, le Règne
de Diêu s'est approché DDB).
Cho tới nay, Đức Giêsu chưa trao cho những kẻ kêu gọi một nhiệm vụ
nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, Matthêu
đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ: Thấy đám đông, Người
động lòng thương, vì họ mệt mỏi rã rời như bầy chiên không người
chăn dắt. Rất nhiều lần, Phúc âm đã nói về lòng thương của Đức Giêsu
đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo
là tình thương của Đức Giêsu, tình thương mà ta gọi là lòng thương
xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy
đám đòng mệt mỏi rã rời" và Đức Giêsu đã xúc động… Từ ngừ Hi Lạp còn
nói mạnh hơn: Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Đức Giêsu,
nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm
thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta. Có lẽ ta nghĩ rằng lời
kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì
có quá ít thợ ! Nhưng Đức Giêsu lại không nói điều đó với các môn
đệ. Hãy nghe Người: Các con hãy xin Chủ ruộng sai thợ gặt đến. Tự
nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu
của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. "Lòng thương xót" của Đức Giêsu
diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng,
thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước
Trời, làm chứng Phúc âm, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt
động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Đức Giêsu.
Hiểu biết Đức Giêsu, nhận biết Người là Đấng Cứu Thế, Đấng đến nhân
danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm người, năng lui
tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động
không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc
động vì "thương xót" đến mức nào, thổn thúc vì khổ đau của nhân
loại... và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên
Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy bỏng: Thiên Chúa muốn nhân
loại vào một cuộc xuất hành khác với cuộc xuất hành do Mosê hướng
dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn! Đó là
tất cả điều kiện của một sứ mạng thực sự, không phải là trước khi
lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây,
không biết diều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con
người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm
hành động. Điều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh
Thần Thiên Chúa. Nhưng Phúc âm còn đưa ta đi xa hơn: Nó mạc khải
tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không
mỏi mệt. Đời sống và cái chết của đức Giêsu là bằng chứng hùng hồn
về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy làm tôi tớ phục
vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động vì Người sai ta
đi truyền giáo truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không
do sáng kiến của ta truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm
trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa.
Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện: Hãy cầu nguyện xin chủ
ruộng sai thợ gặt đến.
2. Chúng ta là Giáo Hội
(L. Sintas, Parole de Diêu pour la
méditation ét lhomélie, Médias Paul).
Sứ mệnh trao ban cho các tông đồ cũng là sứ mệnh trao ban cho ta hôm
nay. Giáo hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan
báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa
đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề
nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương quốc sự dữ khi ta
gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tương, ích kỷ, hoặc trở nên chứng
nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men
bình an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhở những gì Thiên
Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích
giúp ta kiên vững trong sứ mệnh là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh
và hiệp thông. Muốn là Kitô hữu, phải làm cho cách hành động của ta
phù hợp với niềm tin. Đó là cách duy nhất để trở thành tông đồ, làm
cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thực vậy, đối với
những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình
của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Kitô hữu cụ thể ở làng ta,
trong khu phố ta ở. Là chính chúng ta. Chính ta có trách nhiệm tạo
cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi
cuốn mọi người sống quanh ta. Đó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến
3. Cầu nguyện và truyền
giáo (Mgr. R. Coffy, cine Ezlta qui
célêber ét quiprie, Le Centurion ).
Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là
hành động nhân danh Đấng sai đi. Được sai đi chính là hành động nhân
danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người
sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt
động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên
hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa
Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu
nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thực của sứ mạng.

Nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu đã động lòng thương xót và Ngài đã
đưa ra hai hình ảnh để nói lên tình trạng đáng thương của họ. Đó là
hình ảnh đàn chiên và hình ảnh cánh đồng lúa chín.
Trước hết là hình ảnh đàn chiên. Thực vậy, đàn chiên mà thiếu vắng
người chăn, thì rồi sẽ như thế nào? Những con chiên ấy làm sao biết
được con đường dẫn tới đồng cỏ non và dòng suối mát. Những con chiên
ấy làm sao chống trả được với nanh vuốt sói rừng. Những con chiên ấy
làm sao tìm được nơi nghỉ ngơi an toàn qua đêm. Phải, nếu không có
người chăn, chắc chắn đàn chiên sẽ bị tan tác.
Tiếp đến là hình ảnh cánh đồng lúa chín. Thực vậy, lời cảnh báo của
Chúa Giêsu, từ ngàn xưa và cho tới ngày hôm nay, vẫn còn là một sự
thật:
-
Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ sai
thợ đi gặt lúa về.
Trong những năm gần đây, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thay thế
lúa mùa bằng lúa thần nông. Mà đã cấy lúa thần nông, thì hầu như vào
cùng một thời điểm, nhà nhà đều xuống giống và nhà nhà đều thu
hoạch. Vì thế, kiếm được thợ để xuống ruộng gặt lúa, đôi khi đã trở
thành một vần đề nan giải. Lúa đã chín mà không có thợ, bị rơi rụng
trên ruộng đồng, nhìn thấy mà xót xa.
Dĩ nhiên qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói đến một mùa
gặt thiêng liêng, cũng như muốn nói đến những người thợ vừa thành
tâm, vừa thiện chí, lại vừa có đủ khả năng để đem lại những lợi ích
cho các linh hồn. Bởi đó, chúng ta hãy cầu xin để có được nhiều
người nhiệt tình đáp trả lời mời gọi của Chúa trên cánh đồng truyền
giáo.
Tôi nghĩ rằng ơn gọi thì không thiếu. Cái thiếu duy nhất đó là sự
quảng đại của con tim để đáp trả. Nhu cầu truyền giáo mỗi ngày một
khẩn thiết, bởi vì rất nhiều người sẽ bị hư đi chỉ vì thiếu vắng các
mục tử, các chủ chăn.
Hoàn cảnh hôm nay của chúng ta thật khác xa với hoàn cảnh của các
môn đệ ngày xưa. Thực vậy, ngày xưa chính Chúa Giêsu đã qui tụ các
ông, sai các ông đi và trao ban cho các ông những quyền hành đặc
biệt, để được dễ dàng hơn trong việc thi hành sứ mạng của mình.
Đúng thế, chính Ngài đã phán:
-
Các con hãy làm cho những người bệnh được khỏi, hãy làm cho những
người chết được sống lại, hãy làm cho những người phong cùi được
lành sạch và hãy xua trừ ma quỉ…
Sở dĩ như vậy là để mọi người có thể nhận ra rằng sứ mạng của các
ông là sứ mạng xuất phát từ trời cao, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu
như ngày hôm nay, các linh mục, tu sĩ hay các nhà truyến giáo cũng
có được những quyền hành như thế, chắc hẳn việc rao giảng Tin Mừng
sẽ dễ dàng hơn và sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp. Thế
nhưng, đó chỉ là một giấc mơ, hay chỉ là một phép lạ. Đúng thế, đừng
mơ mộng nữa mà phải trở về với thực tế. Thời buổi buổi bây giờ phép
lạ rất họa hiếm và chỉ xảy ra trong những trườn họp đặc biệt mà
thôi.
Trở lại với các môn đệ. Trước hết Chúa Giêsu sai các ông đến với
những người Do Thái, những con chiên lạc của nhà Israen, rồi sau đó,
đến với các dân tộc. Các ông đã lên đường và hăng hái rao giảng:
-
Nước Trời đã đến gần.
Trải qua hai ngàn năm, sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin
Mừng vẫn còn là một sứ mạng cấp bách, bởi vì trên toàn thế giới mới
chỉ có hơn 30% dân số nhận biết Đức Kitô, trong đó người công giáo
chỉ chiếm có 17% mà thôi. Còn tại Việt Nam, số người công giáo chưa
được 10%.
Sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mùng không phải là một sứ
mạng được dành riêng cho các linh mục và tu sĩ. Trái lại, phải là
một sứ mạng chung của mọi Kitô hữu. Bởi vì đã là Kitô hữu, chúng ta
đều có bổn phận phải làm cho thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô, tức
là Giáo Hội, được phát triển, được lớn lên. Tuy nhiên, chúng ta đã
thực thi sứ mạng trọng đại ấy như thế nào? Chúng ta đã góp phần vào
công cuộc truyền bá đức tin của Giáo Hội ra làm sao? Đừng hỏi rằng
Giáo Hội đã làm được những gì cho tôi, nhưng hãy tự vấn lương tâm
xem tôi đã làm được những gì cho Giáo Hội?

Một chàng thanh niên quí phái đang thong thả bước đi trên một con
đường tại vùng quê nước Ý, đi ngược chiều, có một bà già quê ăn mặc
rách rưới. Cảm động vì thân hình tiều tụy ấy, chàng thanh niên bước
tới ân cần nhã nhặn an ủi, rồi chàng lấy ví ra tặng cho bà cụ tất cả
số tiền mang theo. Cử chỉ nhân ái và món quà của chàng thanh niên đã
khiến bà cụ xúc động, và khi được biết chàng thanh niên đó là người
Công giáo, bà hứa mỗi ngày đọc một tràng chuỗi cầu nguyện cho anh
được làm linh mục. Ngày tháng trôi qua, chàng thanh niên đã quên
hẳn, không còn nhớ gì chuyện gặp bà cụ ấy, nhưng ít năm sau, lời cầu
nguyện chân thành của bà cụ nghèo khổ ấy đã được Chúa chấp nhận. Anh
trở thành linh mục, và còn hơn thế nữa, trở thành một Đức Giáo Hoàng
thời danh, đó là Đức Lê-ô XIII.
Kể lại câu chuyện trên tôi muốn nói rằng: tất cả chúng ta hãy cầu
nguyện, hãy cầu xin Chúa ban nhiều thợ gặt, vì lúa chín đầy đồng mà
thợ gặt lại ít. Hơn nữa, chúng ta cũng cầu xin cho các thợ gặt của
Chúa trở thành những thợ gặt lành nghề, những thợ gặt nhiệt tâm làm
cho nhiều người biết Chúa và đưa nhiều linh hồn về kho lẫm Nước
Trời.
Quả thật, cánh đồng lúa thật bao la mênh mông, hàng triệu triệu
người chưa biết Chúa, nhưng ai sẽ đem Tin Mừng cứu rỗi cho những
người ấy? Ai sẽ mang Chúa đến cho những tâm hồn chưa biết Chúa ấy?
Ai sẽ là chứng tá sống động của Thiên Chúa giữa một thế giới ngày
càng lãnh đạm đối với những lời giảng dạy của Chúa? Chúng ta hãy cầu
xin chủ ruộng gửi thêm thợ gặt. Thiên Chúa là chủ ơn cứu chuộc. Muốn
có nhiều người xung phong vào cánh đồng phì nhiêu kia, Chúa bảo
chúng ta phải cầu nguyện. Cầu nguyện để Chúa ban nhiều thợ gặt và
nhiều thợ gặt lành nghề, đó là công việc của mỗi người. Chúng ta có
thể làm công việc đó bất cứ lúc nào và không bao giờ có gì giới hạn
cả. Hơn nữa, chúng ta phải coi việc cầu nguyện này như một bổn phận
thường xuyên, một nhiệm vụ hàng ngày của chúng ta.
Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa vì đã có những người ưng thuận làm
linh mục, làm thừa sai để giúp đỡ chúng con, nếu các vị đó cũng
thích đời sống dễ dãi, thích có một gia đình ấm cúng như chúng con,
thì không biết hiện giờ thân phận linh hồn chúng con sẽ ra sao? Và
nếu đâu đâu cũng vậy, thì thế giới này sẽ như thế nào?
Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa đã ban cho các linh mục ý chí can
đảm để sẵn sàng hy sinh, nhờ các ngài mà chúng con có bánh trường
sinh nuôi dưỡng linh hồn, nhờ các ngài mà chúng con thành lập được
những gia đình vững chắc, nhờ các ngài mà chúng con được tẩy sạch
trong bí tích Giải tội, nhờ các ngài mà chúng con được chết bình an.
Lạy Chúa, chúng con cầu cho công việc của các linh mục. Xin Chúa cho
các ngài thành công, nhưng đừng cho các ngài khải hoàn. Nếu các ngài
có gặp thất bại, xin Chúa đừng để các ngài thất chí, bởi vì biểu
hiệu một công việc đẹp lòng Chúa không phải tại thành công hay thất
bại, nhưng chính là tình yêu Chúa. Xin Chúa gìn giữ các linh mục
trong tình yêu Chúa.
Lạy Chúa, chúng con xin Chúa cho các linh mục trở thành những nhà mô
phạm đối với trẻ em, những nhà chuyên môn về vấn đề gia đình, những
nhà tâm lý uyên thâm đối với thanh thiếu niên, những nhà thông thái
và đầy kinh nghiệm trong tòa giải tội. Xin cho các linh mục biết đáp
lại tất cả mọi lời chào, không phân biệt của ai, khi gặp họ ở đường
phố, và nhất là biết trả lời cho tất cả mọi người với nụ cười luôn
nở trên môi, cho dù trong lòng đang xao động vì phong ba và thể xác
đang rã rời vì công vụ.
Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con biết phê bình các linh mục với tất
cả tấm lòng quảng đại, vì công việc của các ngài quá nhiêu khê, phức
tạp. Xin Chúa ban cho chúng con ơn biết tha thứ những khi các ngài
lầm lỗi và thông cảm những khi các ngài nóng nảy, gắt gỏng.
Lạy Chúa, xin cho chúng con bền chí cầu nguyện cho các linh mục, bởi
vì cầu nguyện cho các ngài là ơn quí trọng nhất đối với chúng con và
hữu ích nhất đối với các ngài.

Suy Niệm
Đức Giêsu thấy đám đông theo Ngài, vất vưởng bơ vơ như chiên không
người chăn dắt. Người chạnh lòng thương.
Lòng thương bắt nguồn từ con tim biết nhói đau trước nỗi khổ của
người khác.
Đức Giêsu đã làm tất cả để xoa dịu, đỡ nâng và mời gọi các môn đệ
cộng tác trong công cuộc ấy.
Trước một thế giới buồn, Ngài sai họ rao giảng Tin Mừng về Nước Trời
gần đến.
Trước một thế giới bệnh hoạn, Ngài cho họ khả năng chữa lành.
Trước một thế giới bị nô lệ cho thần ô uế, Ngài cho họ quyền đem lại
tự do.
Trước một thế giới đầy chết chóc, Ngài cho họ quyền trả lại sự sống.
Đức Giêsu sai các môn đệ đi vào cuộc đời, đi hai người một để nâng
đỡ nhau. Ngài không chọn những người giỏi giang, học thức, nhưng
chọn những người đánh cá đơn sơ và quảng đại.
Trước hết, Ngài sai họ đến với chính dân tộc của họ, để rồi sau này
đến với cả thế giới.
Đức Giêsu muốn họ cho đi tất cả những gì đã nhận mà không đòi hỏi
chút quyền lợi hay đặc ân nào.
Hôm nay, Đức Giêsu mời chúng ta nhìn thấy đám đông gần 6 tỉ người
trên mặt đất. Ngài mời chúng ta thấy 50 ngàn trẻ em chết đói mỗi
ngày. Từ 12-18 triệu người chết đói một năm. 1,3 tỉ người sống trong
cảnh đói nghèo cùng cực. 800 triệu người thất nghiệp, một tỉ người
lớn mù chữ.
Ngài mời chúng ta thấy những trẻ em bị sida ở Châu Phi, những người
trẻ trí thức bị bơ vơ ở Nhật, những sa đọa và hưởng thụ, ma tuý và
tội ác, những hố sâu hơn giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa
người giàu và người nghèo, ngay cả trong các nước tiên tiến.
Ngài mời chúng ta nhìn thế giới này bằng đôi mắt của Ngài, nhìn thấy
mà chạnh lòng thương. Chính cái nhìn đầy chạnh thương đưa ta lên
đường.
Thế giới hôm nay cũng như hôm qua, vẫn là một thế giới cần đến ơn
cứu độ. Người nghèo cần được tôn trọng phẩm giá, người giàu cần mở
ra để thấy đời mình có ý nghĩa.
Chúng ta không bi quan trước thế giới hôm nay mênh mông nỗi đau,
tràn ngập sự ác.
Tôi phải làm gì để chữa lành một thế giới bị thương?
Tôi phải nói gì với một thế giới không biết mình nô lệ?
Chỉ xin lên đường với Chúa Giêsu trong tin yêu, và xin Cha cho có
nhiều người cùng tiếp bước.
Gợi Ý Chia Sẻ
Thế giới hôm nay là một thế giới mang nhiều vết thương và đổ vỡ. Bạn
phải làm gì để hàn gắn và chữa lành chúng trong khả năng của bạn?
Khoa học kỹ thuật giải quyết được một số vấn đề, nhưng lại đưa đến
những vấn đề mới, phức tạp hơn. Bạn có thấy như vậy không? Làm sao
để sự tiến bộ về vật chất không làm bạn bị thụt lùi về tinh thần?
Cầu Nguyện
Lạy Cha, thế giới hôm nay cũng như hôm qua
vẫn có những người bơ vơ lạc hướng vì không tìm được một người để
tin;
vẫn có những người đã chết từ lâu mà vẫn tưởng mình đang sống;
vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế, ô uế của bạc tiền, của
tình dục, của tiếng tăm;
vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn, bệnh hoạn trong lối nhìn,
lối nghĩ, lối sống;
vẫn có những người sống bên lề xã hội, dù không phải là người
phong...
Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ và biết chạnh lòng thương như Con
Cha.
Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy chính bản thân chúng
con.

Ruddell Norris là một chàng trai cần mẫn, nhưng lại có tính nhút
nhát. Nói chuyện với kẻ khác chàng đã thấy khó khăn rồi, huống chi
phải bàn chuyện tôn giáo với họ. Thế rồi một ngày kia, chàng nảy ra
một ý kiến.
Ruddell đọc sách khá nhiều và chàng biết có nhiều cuốn sách nói về
đức tin Công giáo. Vì vậy chàng quyết định dành ra một phần tiền
tiết kiệm hàng tuần để mua những cuốn sách ấy. Ruddell để những cuốn
sách ấy ở những nơi mà chàng nghĩ người ta có thể cầm lên đọc để
giết thời giờ. Chẳng hạn như ở những phòng đợi khám bệnh và phòng
tiếp khách.
Ngày kia, có một phụ nữ vốn là bạn của gia đình chàng kể cho cha mẹ
chàng biết vợ chồng cô ấy đã theo đạo Công giáo như thế nào. Cô nói:
“Tất cả bắt đầu do một cuốn sách nhỏ mà tôi đã tìm thấy tại phòng
đợi ở bệnh viện”.
Có nhiều linh mục, tu sĩ và ngay cả giáo dân, thay vì tặng quà hay
phát thưởng bằng những món quà vật chất, họ lại trao gởi những cuốn
sách thiêng liêng, sách đạo đức, sách giáo dục như những món quà đầy
ý nghĩa và hữu ích cho đời sống tâm linh của con người. Đó là một
trong những cách hữu hiệu để thi hành sứ mệnh truyền giáo mà hôm nay
Đức Giêsu kêu gọi: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em
hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Qua lời Đức Giêsu dạy,
thì cầu nguyện chính là nguồn mạch, là nền tảng, và là công việc
truyền giáo đầu tiên. Nếu chúng ta cầu nguyện cho việc truyền giáo,
thì những thợ gặt đầu tiên mà Thiên Chúa có trong tay, chính là
chúng ta. Như ngôn sứ Isaia, chúng ta cũng thưa cùng Chúa: “Lạy
Chúa, này con đây, xin Chúa hãy sai con”.
Không chỉ xin Chúa sai chúng ta đi truyền giáo mà thường xuyên chúng
ta phải cầu xin Chúa thôi thúc các bạn trẻ quảng đại dấn thân trong
ơn gọi linh mục và tu sĩ.
Không chỉ xin Chúa ban thêm nhiều người tận hiến mà thường xuyên
chúng ta cầu xin Chúa thôi thúc các gia đình rộng tay giúp đỡ tài
chánh cho các công cuộc truyền giáo.
Không chỉ xin Chúa mở rộng đôi tay mà còn tha thiết xin Người mở
rộng trái tim mọi thành phần dân Chúa, để có nhiều nhà truyền giáo
tình nguyện dấn thân mở mang nước Chúa.
Nếu cầu nguyện là nguồn mạch của công việc truyền giáo, có nghĩa là
nó phải được ưu tiên trên bất cứ chương trình, kế hoạch hay phương
pháp truyền giáo nào.
Nếu cầu nguyện là nền tảng của hoạt động truyền giáo, thì chúng ta
phải xem sự khủng hoảng ơn gọi chính là vì thiếu sự chuyên tâm cầu
nguyện.
Nếu cầu nguyện là việc đầu tiên của công cuộc truyền giáo, thì chúng
ta phải hiểu là sứ vụ tông đồ chỉ có hiệu quả khi chúng ta biết
không ngừng cầu nguyện cho những người mà chúng ta muốn lôi cuốn.
Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành
phải truyền giáo”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết:
“Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức
nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là loan
báo Đức Kitô cho mọi dân tộc” Sứ mạng truyền giáo ấy, hôm nay đã
được Đức Giêsu trao cho 12 tông đồ, cột trụ của Giáo Hội, để tiếp
tục sứ mạng cứu rỗi của Người. Chính vì thế mà thánh Phaolô Tông đồ
luôn tự nhắc nhở mình rằng: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng
Tin Mừng”.
Nhưng phải rao giảng những gì? Cho ai? Và bằng cách nào? Đức Giêsu
dạy: “Hãy đi rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa
lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi
được sạch bệnh và khử trừ ma quỉ. Anh em đã được cho không, thì cũng
phải cho không như vậy”. Như thế, nội dung của sứ điệp là Nước trời,
hành trang là Lời Chúa, đối tượng là người nghèo khổ, bị bỏ rơi bên
lề xã hội, phương pháp là yêu thương và cho đi. Thật vậy, chính sự
cho đi vô vụ lợi, yêu thương mà không mong đền đáp là bí quyết thành
công trong việc truyền giáo. P. Babin đã nói: “Người ta chỉ có thể
tin vào Đức Giêsu Kitô khi người ta tin vào tình yêu của những kẻ
loan báo Người”.
Ý
thức được sứ mạng truyền giáo ấy, trong sứ điệp kết thúc hội nghị
Hồng Y đoàn lần thứ sáu, ngày 24 tháng 05 năm 2001, đã nhấn mạnh:
“Cần xây dựng một Giáo Hội cầu nguyện nhiều hơn, truyền giáo nhiều
hơn, nghèo khó hơn, liên đới với nhân loại hơn, cách riêng với những
người đau khổ, túng cực, bị loại ra ngoài lề xã hội”.

Chỉ cần một buổi tối theo dõi chương trình thời sự quốc tế, thời sự
trong nước và thời sự các địa phương trên đài truyền hình, chúng ta
sẽ thấy được rất nhiều vấn đề lớn nhỏ đang xảy ra trên toàn thế
giới. Nào là chiến tranh, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị màu da,
ngôn ngữ, kỳ thị tôn giáo. Nào là các thứ tệ đoan và tội ác. Nào là
đói nghèo, bệnh tật và chết chóc... Tất cả những điều đó như là
những bóng tối che phủ cuộc sống của con người. Tất cả những thảm
họa đó là những chứng từ cho thấy sự hiện diện và hoạt động tích cực
của ma quỉ. Không phải chỉ hôm nay, nhưng ngay từ thời Chúa Giêsu,
thậm chí ngay từ thuở ban đầu của cuộc tạo dựng, ma quỉ đã có mặt và
không ngừng hoạt động để phá hủy công trình tạo dựng của Thiên Chúa
và lôi kéo con người chống lại Người. Con người đang trở thành những
kẻ nô lệ khốn khổ cho quỉ dữ mà vẫn tưởng mình đang tự do. Con người
đang là những công cụ đắc lực trong bàn tay ma quỉ mà vẫn tưởng mình
là chủ nhân của thế giới này. Con người đang sống trong lầm than mà
vẫn không hay biết gì.
Nhưng Chúa Giêsu thấy và biết tất cả. Người xúc động và xót xa cho
số kiếp lầm than, khốn khổ của con người. Thánh Matthêu đã viết:
“Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương vì họ lầm than vất
vưởng như chiên không người chăn dắt”. Chính vì thế, dù ở đâu hay đi
đến đâu, Người cũng vẫn luôn ra tay cứu gỡ con người khỏi ách thống
trị của ma quỉ và của quyền năng sự dữ. Người đã chữa lành các bệnh
tật đang hủy hoại con người và xoa dịu những khổ ải đang đè bẹp con
người.
Tất nhiên chỉ một mình Chúa Giêsu cũng có thể làm tất cả những gì
Người muốn để giải thoát con người. Nhưng Người đã không làm một
mình. Người muốn con người cộng tác vào sứ mệnh giải thoát ấy. Người
muốn con người bày tỏ sự tự do trong việc đón nhận ơn giải thoát cho
chính mình, đồng thời ý thức trách nhiệm liên đới trong việc giải
thoát anh chị em mình. Để thực hiện ý muốn này, Người đã chọn 12
tông đồ và sai các ông ra đi. Người ban cho các ông quyền năng trên
ma quỉ và chữa lành các bệnh tật. Điều đó cũng có nghĩa là Người
trao ban cho các ông sứ mạng đẩy lùi sự xấu và sự ác, cũng như đẩy
lùi khổ đau đang hoành hành trên mặt đất này. Sứ mạng ấy, ơn gọi ấy
không chỉ được trao ban cho 12 tông đồ mà còn cho mỗi người chúng
ta. Chúa Giêsu đã nói: “Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít. Vậy anh
em hãy xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về”.
Thật vậy, Chúa Giêsu đã gọi đích danh chúng ta và trao cho chúng ta
sứ mạng ban phát ơn cứu độ mà Người đã thiết lập. Ban phát ơn cứu độ
cũng có nghĩa là mỗi người cần nỗ lực đẩy lùi sự dữ, sự ác trong môi
trường sống của mình và ra tay giúp đỡ để anh chị em mình bớt khổ
đau. Là một nông dân trên ruộng đồng hay là một công nhân bốc vác
trong nhà máy, là một tài xế hay là một giáo viên trong nhà trường,
là một học sinh trong lớp hay là một y tá, một bác sĩ trong bệnh
viện, là một người gác cổng cơ quan hay là một thư ký trong văn
phòng... tất cả đều nhận được một sứ mệnh như nhau. Sứ mệnh ấy là
làm cho Tin Mừng của Chúa Kitô thấm nhập vào từng con người, vào mỗi
công việc, và vào mọi nơi mọi chốn. Tin Mừng càng lan rộng bao nhiêu
thì sự dữ càng bị thu hẹp lại bấy nhiêu.
Đừng ai nói mình không có trách nhiệm làm tông đồ. Đừng ai nói mình
không có khả năng. Đừng ai nghĩ mình không có kiến thức. Đừng ai nói
mình nghèo khổ. Đừng ai nói mình không phải là thánh nên không thể
rao giảng Tin Mừng. Nói như thế, nghĩ như thế là thoái thác trách
nhiệm. Các tông đồ ngày xưa cũng chỉ là những con người đơn sơ bé
mọn, nghèo khó, có khi là những con người tội lỗi nữa. Nhưng trừ một
mình ông Giuđa, tất cả những người còn lại đã không phụ tình Chúa
yêu thương và sự tín nhiệm của Người.
Lời kết thúc thánh lễ: “Thánh lễ đã xong, chúc anh chị em ra đi bình
an” không chỉ là một lời chúc nhưng còn là một lệnh truyền, một bài
sai ra đi gieo rắc Tin Mừng bình an.

Trong cuốn sách nổi tiếng, Anh em nhà Karamazov nhà văn Nga
Dostoevsky cho chúng ta một bức chân dung của Đức Kitô. Bối cảnh xảy
ra ở Seville thời kỳ Pháp đình tôn giáo. Đức Kitô đã đến thăm dân
Người trong cảnh khổ đau. Mới ngày hôm trước, một trăm người dị giáo
đã bị thiêu sống theo lệnh của Hồng Y, Đại Pháp quan.
Mặc dù Đức Giêsu đã đến không kèn không trống nhưng dân chúng lập
tức nhận ra Người. Họ xúm lại xung quanh Người. Người bước đi ở giữa
họ với một sự biểu lộ cao thượng trên khuôn mặt Người. Người đưa tay
ra và chúc phúc cho họ. Nhiều người được lành bệnh khi sờ vào áo
Người.
Người dừng lại ở tam cấp của nhà thờ lớn khi một cỗ quan tài còn mở
nắp với thi thể của một cô gái nhỏ được đưa ra khỏi nhà thờ. Một sự
im lặng bao trùm lên đám đông. Rồi một tiếng thì thầm nổi lên:
“Người sẽ làm cô bé sống lại”. Và Người đã làm. Tuy nhiên ngay sau
đó, vị Đại Pháp quan đã đến quảng trường. Khi ông thấy sự việc xảy
ra như thế, ông ra lệnh bắt giữ người lạ mặt và nhốt vào nhà tù. Đêm
hôm ấy, Đại Pháp quan vào xà lim thăm tù nhân của mình “Có phải ông
là Chúa thật không?” ông ta hỏi Người. Người không đáp, ông ta liền
nói: “Ông không cần phải nói thêm điều gì cả. Trước đây ông đã nói
tất cả rồi. Tôi không biết ông có phải là Chúa thật không. Mọi điều
tôi biết là ngày mai ông sẽ bị thiêu sống như một tên dị giáo tệ hại
nhất, và người nào hôm nay đã hôn chân ông, ngày mai sẽ bị ném sống
vào lửa. Ông có biết điều đó không?”Ông ta chờ đợi một câu trả lời
nào đó, nhưng không có. Bấy giờ người lạ mặt đến gần ông và với một
sự cao thượng tuyệt vời, ôm chầm lấy ông. Đó là câu trả lời của
Người. Vị Đại Pháp quan già nua bối rối trong một lúc. Nhưng ông ta
liền lấy lại sự bình tĩnh ông bước đến cửa xà lim, mở ra và nói cùng
Người. “Ông hãy đi đi, và đừng bao giờ quay trở lại, đừng bao giờ!”.
Rồi ông để cho Người đi ra và Người biến mất trong những đường phố
tối tăm của thành phố ngủ yên.
Chúng ta có thể quên Đức Kitô giống gì. Giáo Hội có thể quên. Giáo
Hội Có thể đặt học thuyết và tín lý luật lệ cùng qui định của Giáo
Hội trước dân chúng. Cá nhân có thể đặt lòng sùng tín riêng tư của
mình theo cách sống của Đức kitô. Ngày nay, có một mối quan tâm ngày
càng tăng đối với những mạc khải và sự hiện ra. Dù thế nào, ngày nay
cũng có một khát vọng về Đức Kitô của Tin Mừng.
Chúng ta cần nhớ lại Đức kitô như thế nào lúc chúng ta trở lại với
Tin Mừng. Tin Mừng trong thánh lễ hôm nay cho chúng ta một hình ảnh
đẹp về hành động thương xót của Đức Kitô.Các nhà lãnh đạo tôn giáo
đã không đem lại điều gì cho dân thường trong cảnh khổ của họ –
không có sự hướng dẫn, cả an ủi lẫn sức mạnh. Thật vậy, họ không
quan tâm đến dân chúng. Nhưng Đức Giêsu hoàn toàn khác. Khi Người
nhìn đến dân thường, Người không nhìn thấy một đám đông nhưng là một
tập thể những cá nhân, mỗi người có những vấn đề và lo lắng vui mừng
và sầu khổ. Và không hề khinh miệt họ. Người tỏ lòng thương xót họ,
một cách chính xác hơn bởi vì họ bị tổn thương và cần được giúp đỡ.
Trước hết, Người ban chính Người cho họ. Nhưng biết rằng mùa gặt rất
lớn nên Người quyết định kêu gọi các người phụ giúp. Từ những môn đệ
của Người, Người chọn ra mười hai người để họ trở thành những bạn
đồng hành theo những phương thế đặc biệt. Người gọi họ là những tông
đồ – những người được sai đi. Họ thuộc về những tầng lớp khác nhau
và không một ai đã qua đào tạo. Mỗi người có cá tính riêng, có những
điểm yếu, điểm mạnh, những sự yếu đuối. Ở giữa họ, đã có những ganh
tị, căng thẳng.
Đức Giêsu yêu thương họ và ngược lại họ yêu mến Người, Người huấn
luyện họ tuy nhiên không phải theo hình thức mà bằng cuộc sống của
Người với họ, Người đồng hành với họ và trở thành một gương mẫu cho
họ. Họ học làm những việc Người làm. Rồi Người sai họ đến với những
người khác. Họ biết sứ vụ của họ là gì: họ là nhân tố của lòng
thương xót của Người cho những người khác, đặc biệt cho những người
nghèo và những người đau khổ.
Ngày
hôm nay, Đức Giêsu trông mong ở chúng ta. Để trở thành một tông đồ
của Chúa, chúng ta không cần phải trở thành một người đặc biệt, tức
là còn thua xa một vị thánh (ít ra lúc mới đầu là thế). Tất cả điều
mà con người cần có là sự tự nguyện và một tấm lòng rộng mở.
 |