Chúa nhật 12 Thường Niên A

Lời Chúa: Hs. 6, 3-6; Rm. 4, 18-25; Mt. 9, 9-13

MỤC LỤC

 

1. Đừng sợ

2. Biết sợ – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

3. Các con đừng sợ

4. Sự hăm dọa gây ra sợ hãi

5. Suy niệm của JKN

6. Sống trong tin tưởng

7. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

8. Đừng sợ

9. Đừng sợ – Fernandez

10. Chứng nhân Tin Mừng

11. Quan phòng

12. Anh em đừng sợ

13. Anh em đừng sợ

14. Thiên Chúa quan phòng

15. Sợ hãi

1. Đừng sợ

Có một cậu bé được cha mẹ gửi học trong một trường nội trú. Ngay buổi tối đầu tiên, trước khi lên giường đi ngủ, cậu bé đã quì gối xuống và cầu nguyện. Thế là một chiếc giày bay vèo qua đầu cậu bé và tiếp theo là những tiếng cười giễu cợt.

Tối hôm sau, cậu bé cũng lại quì gối và cầu nguyện. Những em khác trong phòng thì chờ đợi để chế nhạo. Thế nhưng khi nhìn thấy dáng bộ trang nghiêm và sốt sắng của cậu bé., các em khác tỏ vẻ dè dặt, rồi im lặng và thán phục. Sau cùng, những em khác cũng đã bắt chước, quì gối và cầu nguyện trước khi đi ngủ.

Câu chuyện trên làm cho chúng ta nhớ tới lời nói của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay:

- Các con đừng sợ. (Mt 10,26).

Chúa Giêsu không nói tới một sự sợ hãi chung chung, nhưng Người nói rõ về một sự sợ hãi đặc biệt mà người Kitô hữu cảm thấy trong việc sống đức tin của mình. Chúng ta thường e dè, thường do dự mỗi khi nói những lời giống lời của Chúa, làm những việc giống việc của Chúa, bởi vì chúng ta sợ người khác chê cười, châm chọc. Chúng ta sợ bị chê là quê một cục, bị gọi là kẻ lên mặt đạo đức, hay là bị ngược đãi, như chiếc giày bay vèo qua đầu cậu bé.

Chúa Giêsu không phải là không biết đến những lý do của sự sợ hãi. Bởi vì có những người đã phải mất bạn bè, mất việc làm, mất địa vị và rất có thể mất cả mạng sống vì niềm tin nơi Ngài. Thế nhưng, bên trên những thiệt hại tạm bợ này là niềm hạnh phúc vĩnh cửu Chúa đã hứa ban cho những ai trung thành với Ngài.

Trong cuộc sống, có những lúc hình như chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi. Sợ đọc kinh cầu nguyện trước mặt người khác. Sợ gặp phải những khó khăn khi trung thành sống đức tin của mình. Sợ làm dấu thánh giá trước bữa ăn. Sợ ngả mũ nón khi đi ngang qua nhà thờ. Sợ đổi đề tài khi có người kể những câu chuyện tầm phào và tục tĩu. Sợ không dám từ chối khi bè bạn rủ rê ăn nhậu và cờ bạc. Chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi khi Giáo hội bị nhạo cười, bị tấn công.

Trong tất cả những trường hợp ấy, chúng ta hãy nhớ tới lời khuyên của Chúa:

- Các con đừng sợ.

Đồng thời, chúng ta cũng hãy khắc ghi lời Chúa đã nói: “Ai xưng tụng Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ xưng tụng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời. Còn ai chối bỏ Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ chối bỏ nó trước mặt Cha ta ở trên trời” (Mt 10, 32-33).

Như thế có nghĩa là, nếu chúng ta chối bỏ Đức Kitô thì Ngài cũng sẽ chối bỏ chúng ta.

Ước mong rằng trong suốt cả cuộc đời, chúng ta sẽ trung thành với Chúa mãi mãi, bởi vì, “ai bền đỗ đến cùng, thì người đó sẽ được cứu thoát”.

 
 

2. Biết sợ – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 10, 26-33

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.

Trước hết, Người dạy ta biết phân định giá trị. Sự sống là quí giá ta phải trân trọng. Mất sự sống là mất tất cả. Tuy nhiên sự sống có nhiều cấp độ. Có sự sống thân xác nhưng cũng có sự sống linh hồn. Có sự sống đời này nhưng không có sự sống đời sau. Sự sống đời này là chóng qua. Sự sống đời sau vĩnh cửu. Sự sống thân xác mau tàn. Sự sống linh hồn bất diệt. Ta phải yêu quí cả hai sự sống. Nhưng khi không thể giữ gìn vẹn toàn cả hai thì phải biết chọn sự sống cao quí, vĩnh cửu, đó là linh hồn, là sự sống đời sau.

Người cũng dạy ta phân định thời cơ. Thời cơ chỉ đến một lần. Lỡ thời sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Lỡ thời có thể hỏng cả cuộc đời. Có thời cơ để rao giảng Lời Chúa. Hiện nay, Lời Chúabị che giấu, chỉ thì thầm bên tai, còn nhiều người chưa biết. Ta được cơ hội đóng góp phần mình vào việc rao truyền Lời Chúa. Nhưng sẽ đến ngày mọi sự kín đáo sẽ tỏ lộ. Lời Chúa sẽ được mọi người nhận biết. Bấy giờ cơ hội sẽ hết. Có thời cơ tuyên xưng danh Chúa. Khi còn ở trần gian, giữa những người chưa biết Chúa, giữa những thế lực thù địch, trong cơn gian nan, chính là cơ hội cho ta tuyên xưng danh Chúa. Khi cuộc đời trần gian chấm dứt, cơ hội đó sẽ không còn.

Và sau cùng là phân định nguyên lý. Thiên Chúa là chủ mọi loài. Thiên Chúa nắm quyền sinh tử. Thiên Chúa an bài mọi sự. Con người chỉ là quản lý của Chúa trong một thời gian, trong một vài lĩnh vực. Khi thời gian chấm dứt, chính Thiên Chúa xét xử và thưởng công, trừng phạt.

Khi đã có những phân định rõ ràng ta sẽ biết sợ và biết không sợ.

Biết sợ Chúa là Chủ tể mọi loài, mọi sự. Không những làm chủ thân xác mà còn làm chủ cả linh hồn. Không những làm chủ đời này mà còn làm chủ cả cuộc đời sau.

Biết sợ mất linh hồn. Linh hồn là món quà cao quí nhất Thiên Chúa tặng cho con người. Sự sống của linh hồn là sự sống Thiên Chúa ban, hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Mất linh hồn là mất tất cả. Như Chúa Giêsu vẫn nhắc nhở: “Được lời lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn thì nào được ích gì?”.

Biết sợ lỡ thời cơ. Hãy biết làm việc khi còn ban ngày, khi trời còn sáng, khi ta còn sống. Thời cơ chỉ đến một lần, nếu ta không tận dụng sẽ lỡ cả một đời. Như những cô trinh nữ khờ dại chỉ còn đứng ngoài cửa Thiên đàng mà than khóc. Như người đầy tớ lười biếng chôn giấu nén bạc phải khóc lóc nghiến răng.

Khi đã biết sợ như thế, ta sẽ không sợ người đời, vì người đời chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ta sẽ không sợ mất mạng sống, vì sự sống thân xác nay còn mai mất, chẳng tồn tại lâu dài. Ta sẽ không sợ hình khổ hạ thân xác, vì khổ hình rồi cũng sẽ qua.

Nói không sợ cũng không đúng hẳn. Đau đớn khổ cực ai mà không sợ. Nhưng như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, dù sợ vẫn cứ bước vào cuộc khổ nạn, Người môn đệ vẫn can đảm tuyên xưng danh Chúa, vẫn kiên trì rao giảng Lời Chúa, chấp nhận tất cả những khó khăn hiểm nguy đe doạ, rình rập, chấp nhận những đau đớn thua thiệt chóng qua đời này, với niềm tin vững chắc rằng chính Thiên Chúa là Cha nhân lành an bài mọi sự, Người sẽ ban thưởng cho ta phần thưởng không gì so sánh được, đó là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Bạn đã từng bị những nỗi sợ nào đè nặng. Những nỗi sợ đó có chính đáng không?

2) Sống đạo là chấp nhận thiệt thòi. Bạn có dám chấp nhận thiệt thòi vì Chúa không?

3) Muốn trung thành với Chúa, bạn làm cách nào để tránh được những nỗi sợ do người đời đem đến?

 


 

3. Các con đừng sợ

Đâu là những nỗi sợ của chúng ta? Đứng trước những lời “Các con đừng sợ, hãy sợ, chớ sợ” của bài học ngày hôm nay, làm sao không nghĩ đến những người anh em của chúng ta đang sống tại các nước độc tài hoặc tại Châu Mỹ La tinh đang bị đe dọa và bách hại? Hiện nay có nhiều vị tử đạo hơn là vào thời kỳ đầu của Giáo hội. Đây là một điều người ta cố quên tại những nước mà việc tỏ ra mình là người Kitô hữu không nguy hiểm bao nhiêu. Trước hết bài suy niệm của chúng ta phải hướng về những người có lý do để hết sức sợ hãi, và về những người có thể chế ngự nỗi sợ của mình, đó là những người rao giảng Tin Mừng một cách anh hùng.

Nhưng trong khi cầu nguyện cho những người anh em bị bách hại của chúng ta và trong khi ngưỡng mộ họ, chúng ta đừng từ chối một câu hỏi có thể là khó chịu: ‘tôi có sợ hãi không?’

Đây không phải là những nỗi sợ của “cá nhân” của chúng ta: sợ đau khổ, sợ già hoặc sợ bom hạt nhân. Tin Mừng nói về những nỗi sợ trước điều mà đức tin đòi hỏi: sợ di luỵ đến bản thân, sợ dấn thân trong việc dạy giáo lý hoặc trong việc tông đồ khó khăn, sợ mất thời giờ, tiền bạc hay có lẽ linh hồn của mình vào đó. Khi Matthêu viết những câu vừa đen tối vừa làm hứng khởi này, Giáo hội của ngài đã nếm trải đủ loại khó khăn ở bên trong và những bách hại ở bên ngoài. Ba ngọn cờ ngài giương lên rất cao, nếu cần, sẽ làm cho chúng ta can đảm.

Sự khuyến khích đầu tiên: các con đừng sợ rao giảng Tin Mừng. Trong cuộc sống công khai của mình, Chúa Giêsu không thể mạc khải tất cả. Người ta không hiểu đó là cái gì và sứ điệp của Ngài tiến triển trong bóng tối. Nhưng đã có lễ Phục sinh và lễ Hiện xuống. Những người sợ hãi của ngày thứ sáu tuần thánh đã trở thành những người linh hoạt các đám đông. Không có lời mời gọi can đảm nào mạnh mẽ cho bằng bài đọc trong sách Công vụ Tông đồ. Chúng ta phải thường xuyên đi vào trong bầu không khí xác tín và can đảm của các Kitô hữu đầu tiên. Một sự sợ hãi kỳ lạ đã xâm chiếm chúng ta kể từ công đồng Vatican II, đó là sợ trở thành những kẻ “háo thắng”. Chắc chắn phải tìm lại sự đơn sơ và sự kín đáo, nhưng không phải để đắm chìm trong một Kitô giáo toàn những người câm. Giữa các tiếng la của thế giới, chúng ta phải nghe tiếng la của Tin Mừng: “Các con hãy đi loan báo Tin Mừng giữa ban ngày, trên mái nhà!”. Đó là một cuộc chiến tôn trọng con người. Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ đứng trước những kẻ tra tấn cương quyết bắt chúng ta chà đạp Thánh giá, nhưng khi chúng ta bị cám dỗ xấu hổ vì Chúa Kitô tại nơi làm việc chẳng hạn, thì ước gì lời cảnh báo của Ngài làm cho chúng ta trấn tỉnh đúng lúc: “Nếu các con nói về Thầy, Thầy cũng sẽ nói về các con; nếu các con chối Thầy, Thầy cũng sẽ chối các con”.

Sự khuyến khích thứ hai đối với những người anh em chúng ta bị đe doạ tra tấn và chết chóc: “Các con đừng sợ những kẻ giết hại thân xác các con, các con hãy sợ Đấng có thể giết chết linh hồn các con”. Đây là một nguyên tắc quan trọng và sáng chói để phân biệt giữa những nỗi sợ tốt và những nỗi sợ xấu. Cuối cùng chỉ có một điều cần phải sợ mà thôi, đó là người ta giật chúng ta ra khỏi Chúa Kitô, giật chúng ta ra khỏi sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa. Nhưng các bạn đã biết tiếng la chiến thắng chống lại mọi nỗi sợ hãi này rồi: “Nếu Thiên Chúa thân với ta, ai dám nghịch với ta?” (Rm 8,31). Không bị đe doạ lắm, có lẽ chúng ta cần phải xác minh những nỗi sợ hãi của chúng ta: chúng ta có sợ nhất những gì và những người có thể làm suy yêú đức tin của chúng ta hay không?

Sự khuyến khích thứ ba: chúng ta có một người Cha trên trời, Chúa Giêsu nói điều đó với những ẩn dụ dí dỏm Ngài dùng để truyền đạt một chân lý quan trọng: “Không có con chim sẻ đáng giá một xu nào rơi xuống đất mà không ngoài ý Cha các con trên trời, tóc trên đầu các con Ngài cũng đã đếm hết”.

Tốt hơn là người ta có thể nói đến sự quan phòng hay không? Đây không phải là sự siêu tổ chức của một Thiên Chúa có bộ óc điện toán. Đây là sự quan tâm chú ý của một người Cha nói với chúng ta qua Con của Ngài: “Con biết, đối với Ta Con đáng giá hơn tất cả các con chim sẻ trên thế giới này”.

 


 

4. Sự hăm dọa gây ra sợ hãi

Sợ hãi có thể làm tê liệt chúng ta. Nó có thể làm cho chúng ta cứng đờ và trở nên bất động. Nó có thể ngăn cản cả việc suy nghĩ lẫn hành động theo niềm tin Công giáo của chúng ta.

Một hình thức thiệt hại nghiêm trọng của sợ hãi đến từ sự hăm doạ. Đó là một loại sợ hãi mà nó có liên quan đến Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay. Khi Chúa Giêsu nói: “Đừng để cho người ta hăm dọa ngươi”, có lẽ người đang nghĩ đến vị tiên tri cao cả là Giêrêmia. Con người của Thiên Chúa này bất chấp sự đe doạ bằng cách tấn công những âm mưu làm hại mạng sống của ông, vì thế ông không sợ phát ngôn nhân danh Thiên Chúa.

Giêrêmia đã tố cáo tội lỗi của dân tộc ông, cho biết họ đã chống lại Chúa đang ở trên họ. Ông nhấn mạnh rằng tội chống đối nhau giữa họ cũng là chống đối lại Thiên Chúa. Ông kết án việc trông cậy vào sức mạnh quân đội hơn là vào sức mạnh Thiên Chúa và ông tiên báo thành Giêrusalem sẽ bị phá huỷ (điều này đã xảy ta vào năm 587 BC).

Giêrêmia đã bị kẻ thù cưỡng bách đi lưu đày ở Ai Cập. Theo truyền thống, ông đã bị giết chết bởi chình những người đồng hương của mình. Những kẻ xấu thì không còn nhớ giao ước với Thiên Chúa nữa, nhưng Giêrêmia vẫn nhớ. Ông sống không phải chỉ trong những trang Thánh Kinh nhưng với Chúa Giêsu trên thiên đàng, Đấng Mêsia mà ông chưa hề biết khi ở trần gian này nhưng ông đã trung thành với Đấng ấy mặc dù không biết điều ấy.

Những người khác đến sau Giêtêmia đang hiểu biết và yêu mến Chúa Giêsu cũng đã đạt đến chiều cao lớn lao của hành động anh hùng là sinh lại trong niềm tin sâu xa. Chỉ trong một thế kỷ XX này mà thôi cũng có rất nhiều mẫu gương như thế. Tổng giám mục Oscar Romero ở El Salvador là một vị tử đạo vì sự công bình xã hội. Ngài đã bị những kẻ vô lương giết chết khi thấy sự bảo vệ người nghèo của vị Tổng giám mục là một đe dọa cho những tham vọng của họ. Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, thánh Maximilian Kolbe, một linh mục Balan bất chấp sự đe dọa của những người lính phát xít đã hiến mạng sống mình để đổi mạng cho một người bạn tù, là người chồng và là cha của nhiều đứa con, và người sĩ quan chỉ huy của trại tập trung đã cho thi hành án.

Một cô gái trẻ ở Ý đã bất chấp sự đe dọa của một người đàn ông, khi ông đe dọa sẽ giết cô ta nếu cô từ chối quan hệ tình dục với ông ta. Và ông đã giết cô vì cô đã chống cự mãnh liệt, hôm đó là ngày 6 tháng 6 năm 1902. Maria Goretti đã được Đức Thánh Cha Piô XII phong thánh vào năm 1950. Mẹ của cô và Alexander Sereneli, người đàn ông đã giết thánh nhân, cùng hiện diện trong cuộc lễ tuyên phong hiển thánh này.

Những người đã dâng hiến và vô số những người nam và người nữ giống như họ đã có mặt suốt chiều dài của lịch sử, đã tin vào lời của Chúa Giêsu: “Bất cứ ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời thì Ta cũng sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời cũng như vậy”.

Ngày hôm nay chúng ta đang bị đe dọa bởi những phong trào trong xã hội của chúng ta. Chọn trước những người ủng hộ sẽ làm cho chúng ta cảm thấy rằng chúng ta xâm phạm quyền bình đẳng của người phụ nữ khi chúng ta nhấn mạnh phá thai là một tội ác không thể nào chịu nổi. Chủ nghĩa cá nhân đang ăn mòn và là sức mạnh chống lại sự quan tâm đến những người nghèo khổ, những người không nhà và những người đói khát. Chủ nghĩa bài ngoại và tham lam sẽ trút cơn giận dữ của họ lên những người nhập cư, chính vì những điều đó mà Giáo hội luôn bênh vực cho những quyền lợi của con người.

Chúa Giêsu nói với chúng ta khi chúng ta họp nhau lại để thờ lạy Người: “Thầy thấy các con đang hiện diện nơi đây trong nhà thờ này như là dân Thiên Chúa. Thầy sẽ tiếp tục tuyên xưng các con trước mặt Cha Thầy trên trời bao lâu các con còn tiếp tục theo sát giáo huấn của Thầy, chứ không theo những người chống đối Phúc âm. Cũng đừng để họ đe dọa các con”.

 
 

5. Suy niệm của JKN

CÂU HỎI GỢI Ý:

1) Phải can đảm thì mới làm ngôn sứ được, hay là phải quyết tâm làm ngôn sứ thì mới phát sinh lòng can đảm? Câu nào đúng hơn?

2) Bạn có quan tâm đến nghĩa vụ ngôn sứ (=làm chứng cho Thiên Chúa, cho Đức Giêsu, cho chân lý, công lý và tình thương) trong đời sống không?

3) Làm sao để đừng sợ khi phải làm chứng cho Thiên Chúa, cho chân lý, công lý và tình thương?

SUY TƯ GỢI Ý:

Bài Tin Mừng hôm nay nói về đức "vô úy" (không sợ) hay "can đảm" mà người Kitô hữu sẽ có khi quyết tâm thi hành nghĩa vụ vương đế (làm chủ) và ngôn sứ (làm chứng) mà họ đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội. Bài Tin Mừng hôm nay nói rất mạnh đến sứ mạng của chúng ta là làm chứng cho Đức Giêsu: "Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng". Sứ mạng ấy không phải là ta muốn làm hay không tùy ý ta, mà nó có thể đem đến những kết quả tốt: "Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy", hoặc hậu quả xấu: "Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy".

1) Nghĩa vụ ngôn sứ trong đời sống Kitô hữu

Đây là một nghĩa vụ quan trọng nhưng người Kitô hữu thường lãng quên, phần lớn là do những người có trách nhiệm giáo dục trong Giáo Hội chưa quan tâm nhắc nhở hay nhấn mạnh đủ. Nói chung, người ta có khuynh hướng giản lược Kitô giáo vào nghĩa vụ tư tế (làm lễ, hay thờ phượng Chúa) mà bỏ quên hai nghĩa vụ còn lại là:

- vương đế (làm chủ bản thân, gia đình, xã hội và Giáo Hội), và

- ngôn sứ (làm chứng cho Thiên Chúa, cho chân lý, công lý và tình thương bằng lời nói và nhất là bằng đời sống).

Thật vậy, người ta thường coi việc đọc kinh, cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích quan trọng hơn cả việc sống cho có tình có nghĩa với người khác. Nhiều mục tử coi bổn phận cử hành các bí tích cho con chiên còn quan trọng hơn cả việc làm chứng cho chân lý, công lý và tình thương, hơn cả nghĩa vụ bênh vực con chiên mình khi họ bị ức hiếp, đối xử bất công. Thậm chí hai nghĩa vụ sau không còn được coi là nghĩa vụ nữa. Hành xử như thế, người Kitô hữu đang trình bày cho thế giới bằng chính đời sống mình một thứ Kitô giáo què quặt, biến dạng, méo mó, một thứ Kitô giáo "thuốc phiện", đầy tính ru ngủ… Kitô giáo đó khác hẳn với thứ Kitô giáo do Đức Giêsu thiết lập, một Kitô giáo coi trọng sự thật, công lý, tình thương, mang nặng tính dấn thân và phục vụ.

Chúng ta cùng xét lại xem trong ba nghĩa vụ ấy Đức Giêsu coi nghĩa vụ nào là quan trọng ưu tiên. Ngài nói: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế" (Mt 9,13); "Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự chân thật" (Mt 23,23b); "Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình" (Mt 6,23-24); Ngài còn nhấn mạnh: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13,35), chứ không phải ở dấu thánh giá, hay việc cầu nguyện, đi lễ, rước lễ, mặc dù những việc này không được bỏ hay coi thường (Mt 23,23c).

Bổn phận ưu tiên phải làm chứng cho tình yêu, nghĩa là phải thật sự yêu thương anh chị em mình - là hiện thân của Đức Giêsu - cũng được Thánh Gioan Kim Khẩu nhấn mạnh: "Anh em có muốn tôn kính thân thể Chúa Kitô không? Vậy thì đừng bỏ qua Ngài khi thấy Ngài trần truồng. Đừng tôn vinh Ngài với đủ gấm vóc lụa là trong đền thờ, trong khi lại bỏ mặc Ngài đang run lạnh và trần truồng ngoài trời. Đấng đã từng nói "Đây là mình Thầy" cũng chính là Đấng sẽ nói "Các ngươi đã thấy ta đói mà không cho ăn"… Có ích gì khi bàn Thánh Thể thì chất nặng những chén lễ bằng vàng, trong khi Đức Kitô đang hấp hối vì đói khát? Hãy cho Ngài hết đói khát đã, rồi mới lấy những gì còn lại mà trang hoàng bàn thờ!" (Tông huấn Giáo Hội tại châu Á, số 41§2). Có phải nhiều người chúng ta trong thực tế đã quan niệm và hành xử khác hẳn không?

Dù vô tình hay cố ý, sự giản lược hay bỏ quên hai nghĩa vụ sau rất dễ hiểu, vì trong bất kỳ tôn giáo nào, việc thờ cúng hay cầu xin thần linh cũng hứa hẹn nhiều lợi lộc (về thiêng liêng cũng như vật chất) cho người thi hành nó. Động lực thúc đẩy người ta thờ cúng hay cầu xin nhiều khi là vị kỷ, vì ích lợi cá nhân cho dù là thiêng liêng. Và sự quan trọng hóa việc thờ cúng thần linh chẳng những không làm mất mát gì cho giới tăng lữ mà còn đem lại cho họ rất nhiều quyền và lợi. Còn hai nghĩa vụ kia mang tính vị tha, đòi hỏi tất cả những ai muốn thi hành nó phải xả thân, hy sinh, chấp nhận mất mát, thiệt thòi. Tuy nhiên, hai nghĩa vụ này rất cần thiết cho quyền lợi chung của con người, của xã hội và Giáo Hội. Muốn thi hành hai nghĩa vụ này, cần phải "dám", phải "vô úy", "không sợ", phải can đảm chấp nhận đau thương. Đừng nghĩ rằng có đức "vô úy" rồi thì ta mới thi hành được nghĩa vụ ngôn sứ, mà hãy nghĩ rằng ta sẽ có nhân đức này khi quyết tâm thi hành nghĩa vụ ấy. Đừng sợ rằng mình không có can đảm, hãy sợ rằng mình không muốn can đảm.

2. Tại sao lại "đừng sợ"?

Đức Giêsu đưa ra một số lý do để khuyên ta đừng sợ:

a) Phải sợ Thiên Chúa hơn sợ người ta

Ngài đã đưa ra một nỗi sợ lớn hơn để tiêu diệt nỗi sợ nhỏ hơn. Ngài nói: "Đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục". Thật vậy, rất có thể một ngày nào đấy Vua Giêsu nói với ta: "Quân bị nguyền rủa kia, hãy đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn…" (Mt 25,41tt). Hoặc "Phường hèn nhát kia, hãy xéo khỏi mặt Ta, vì các ngươi đã không dám làm chứng, không dám nói sự thật để bênh vực công lý, bênh vực Ta khi Ta bị đàn áp, bách hại, hàm oan…". Bài Tin Mừng cũng nói: "Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy". Nghĩ như thế, ta sẽ có thêm can đảm để nói và làm những gì cần phải nói phải làm. Không chịu chấp nhận tai họa nhỏ để rồi phải chấp nhận một tai họa lớn gấp bội thì thật là ngu xuẩn!

b) Phải tin vào phẩm giá cao quý của mình và tình thương quan phòng của Thiên Chúa

Con người - nhất là người Kitô hữu - là "con cái Thiên Chúa" (Mt 5,15; Rm 8,14.16; Gl 3,26; 4,6), được dựng nên "giống như Ngài" (St 1,26), "theo hình ảnh của Ngài" (1,26.27), được "thông phần bản tính Thiên Chúa" (1Pr 1,4), được Thiên Chúa yêu thương (Ga 3,16; 1Ga 3,1). Như vậy, con người có một phẩm giá hết sức cao quí. Cao quí đến nỗi Thiên Chúa đã phải sai Con Một mình xuống thế chịu chết cho con người (Rm 5,6-8; 1Cr 15,3). "Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào", thế mà "không một con nào rơi xuống đất ngoài thánh ý Thiên Chúa". Là con cái Thiên Chúa, được thông phần bản tính Ngài, ta quí giá hơn chim sẻ hàng tỷ lần: "anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ", đến nỗi "tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi"! Như vậy, có chuyện gì xảy đến với ta khi ta làm chứng cho Ngài lại không do thánh ý Ngài?

3. Xét mình

Như vậy, nếu có đức tin, ta sẽ không sợ. Nhưng liệu ta có đủ đức tin để không sợ hầu làm chứng cho Thiên Chúa, cho chân lý, công lý chăng? Rất có thể ngoài miệng ta tuyên xưng đức tin rất mạnh mẽ, đồng thời sẵn sàng kết án những kẻ tuyên xưng khác với ta. Nhưng nếu thành thực xét lại niềm tin của ta vào sự quan phòng của Thiên Chúa để dám dấn thân thật sự, rất có thể ta lại thấy đức tin ta còn yếu kém hơn cả những kẻ ta kết án! Và để khỏi phải dấn thân như đức tin và lương tâm đòi hỏi, ta thường nại vào sự khôn ngoan và thận trọng. Nhưng quả thật khó mà xác định được lằn ranh giữa khôn ngoan và hèn nhát! Ta có thể nhân danh sự khôn ngoan để có thể hèn nhát "một cách có lý" hầu không ai chê trách được! Và cũng như thầy tư tế, thầy Lê-vi và người Do Thái trong dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,30-37), ta có thể nhân danh nghĩa vụ tư tế (làm lễ) để khỏi phải làm nghĩa vụ ngôn sứ (làm chứng) của mình. Đó quả là vấn đề tế nhị của lương tâm mà mỗi Kitô hữu cần năng tự vấn!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con là người nhút nhát, nhưng con lại không muốn sống hèn nhát, không muốn trở nên một thằng hèn. Xin ban cho con thật nhiều tình yêu đối với Cha và tha nhân, vì chỉ có tình yêu mới làm cho con can đảm thật sự. Cũng như người mẹ vì yêu thương con mà trở nên vô cùng can đảm, sẵn sàng chấp nhận đau khổ và cả cái chết khi con mình gặp nguy hiểm. Xin hãy ban cho con nhiều tình yêu hơn nữa!

 


 

6. Sống trong tin tưởng

Giáo đề cho một toàn bộ những giáo huấn mà các môn đệ phải dựa theo để đào tạo cá tính và hành động của mình: Có một lối xử sự của riêng Phúc âm. Người môn đệ cần thầm nhuần để nên giống Thày. Đàng khác gương mẫu sống động không ai ngoài chính Chúa. Vì thế như Chúa Giêsu đã gặp những chống đối, các môn đệ cũng sẽ bị chống đối nhưng họ không có gì phải sợ. Trước hết, họ hãy giữ niềm tin tưởng rằng chân lý cuối cùng sẽ tỏ rạng mặc dầu quyền lực của dối trá thống trị, họ chớ sợ tiếp nối công trình của Thày để loan truyền Tin Mừng. Chúa Giêsu nói rằng Ngài dạy trong bóng tối, điều ấy có nghĩa là Ngài trao truyền sứ điệp trong vòng các người thân tín, trong khung cảnh giới hạn và tối tăm của miền Galilêa. Ngài hành động như thế là vì thận trọng và vì muốn tôn trọng các dự định quan phòng giao phó việc rao truyền sứ điệp cho những vị khởi sự Giáo Hội. Những vị ấy sẽ phải nói trên mái nhà. Việc này nhắc đến một tập tục đặc biệt của miền Trung Đông. Buổi chiều, khi trời hạ cơn nóng, người ta hay tụ tập trên sân thượng. Nhà này nối qua nhà khác, cho nên các mái nhà làm thành một thứ công trường. Nói trên mái nhà tương đương với loan báo Tin Mừng sẽ gây ra nhiều chống đối hung bạo, Chúa dạy như thế. Từ lời cảnh cáo này, Ngài bảo các môn đệ cách thức định giá sự vật và phải đặt lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa ra sao.

1) Đừng sợ những kẻ giết được thân xác… Điều này có nghĩa là sự sống con người có những kích thước vượt quá phạm vi thể xác. Các quyền lực thế gian có thể làm hại thể xác nhưng đấy không phải là phần chính yếu của con người. Chúng không thể nào phá hủy con người trong những gì là nhân bản nhất, căn cốt nhất, những gì bất tử. Bản chất linh thiêng, nơi phát xuất những quyết định hữu trách và những khả năng chân chín hưởng nhận hạnh phục, đó mới là kho tàng đích thật của con người. Điểm thấm nhập của Phúc âm vào trong con người là linh hồn tự do, hữu trách, bất tử, được gọi tới hưởng hạnh phúc sung mãn. Người môn đệ của Đức Kitô phải biết rằng bản thể linh thiêng đáng cho ta hy sinh bản thể nhục phàm. Có thể xảy ra những trường hợp đặc biệt và các thánh tử đạo xưa và nay chứng tỏ điều ấy. Nhưng cũng có một vấn đề mà chúng ta phải nghĩ tới và có thể đặt ra bằng câu hỏi sau đây: trong cuộc sống thường ngày chúng ta có đặt vị trí ưu tiên cho các giá trị siêu nhiên không?

2) Không có một con chim sẽ nào rơi xuống ngoài ý Cha các ngươi. Các khó khăn, các cơn cám dỗ, các chướng ngại, các vấn đề, các sự trục trặc của chúng ta,… Thiên Chúa đều thấu tỏ. Giữa các khó khăn, dầu thế nào mặc lòng chúng ta luôn làm đúng khi quy hướng về Chúa Cha! Ngài canh phòng cho con cái Ngài và Ngài không để cho chúng chịu thử thách quá sức. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa cam kết sẽ can thiệp ngay trong mỗi trường hợp để giải thoát chúng ta. Chúng ta lệ thuộc vào thế giới như mắc cửi và Thiên Chúa là Đấng đã làm nên sẽ không phá bỏ đi. Nhưng chúng ta có được một phương kế phi thường: mọi khó khăn nhỏ nhặt nhất có thể làm đề tài nói chuyện riêng tư với Chúa vì Ngài biết sự khó khăn ấy. Không có gì xảy đến cho chúng ta mà Ngài không thấu tỏ. Mà Chúa Cha muốn điều tốt lành cho chúng ta. Do đó nếu chúng ta phó thác tất cả cho Thiên Chúa, mọi sự đều góp phần mưu ích cho chúng ta.

 

 


 

7. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

MẠNH DẠN TUYÊN XƯNG

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Vậy đừng sợ chúng": Chữ "vậy" liên kết cc. 26-27 với những gì đi trước. Tuy thế nó không loan báo một kết luận đương nhiên nhưng là khai mào cho một lời khích lệ mới dựa trên điều đã nói. Ý nghĩa chẳng phải như thế này: đừng sợ chúng vì chúng không làm gì chống lại các con được, song là: đừng sợ chúng vì các con không thể đòi hỏi một số phận ít đau khổ hơn số phận của Thầy các con (c. 24-25). Các kẻ bách hại thật đáng sợ đấy nhưng phải biết khắc phục nỗi sợ hãi này và tuyên xưng niềm tin mới. Thành ra các chữ đầu tiên đây có nghĩa: ước gì nỗi sợ hãi của các con (mà người đời có thể hiểu được cc 17-25) không ngăn cản việc các con làm chứng về Thầy.

"Bị bại lộ ... bị thấu biết": Chủ từ không nói ra của hai động từ ở thể thụ động này là Thiên Chúa. Bây giờ Thiên Chúa muốn cho mọi người biết mầu nhiệm Nước Trời nhờ chứng tá các môn đồ. Lời khuyên đừng sợ hãi lần lượt dựa trên nhiều lý do. Trước tiên đừng sợ vì sứ điệp vĩ đại của Nước Thiên Chúa sắp được tỏ lộ... Bước đầu của “các điều mới" do Chúa Giêsu đem đến thật khiêm tốn vô cùng. Ai nấy đều tưởng dễ nghiền nát hạt giống nhỏ bé đó. Nhưng cái hiện nay đang sống trong âm thầm và thinh lặng, ngày kia sẽ được tỏ lộ cách vinh quang. Chúa Giêsu thực hiện sự nghiệp Người trong tư thế một tôi tớ khiêm hạ của Thiên Chúa... thế nhưng, Người sẽ tự mặc khải như niềm hy vọng của muôn dân (12, 17-21). Người nói trong bóng tối, nhưng đòi sứ đồ mình phải tuyên ra nơi ánh sáng. Điều Người rỉ bên tai, nghĩa là khuất mắt quần chúng (vì đám đônng không thể quán triệt sứ điệp Người trước cuộc Tử nạn Phục sinh và Hiện xuống), sứ đồ phải công khai loan báo trước mặt mọi người. Chúa Giêsu bất cần biết họ có được người chấp nhận hay không. Chính lời giảng dạy của họ sẽ luôn làm chứng về Tin Mừng cho Người; và Tin Mừng cuối cùng sẽ vinh thắng và chiếu sáng rạng ngời, như mặt trời buổi bình minh.

"Những kẻ giết được xác": Lý do đừng sợ thứ hai là sự sống đích thực của con người không thể bị xâm phạm. Các kẻ bách hại chỉ có thể giết (apokteinai) nhưng mình Thiên Chúa mới có thể diệt (apolosai) toàn thể con người. Sự sống thật (xác và hồn) thoát khỏi mọi cuộc tấn công. Nó được Thiên Chúa bảo đảm dứt khoát và không thể bị người đời giảm bớt hay cướp mất đi, ngay cả bằng việc tiêu trừ sự sống thân xác.

“Ngoài ý Cha các con": lý do đừng sợ thứ ba là: Thiên Chúa quan phòng hằng chăm sóc mọi tạo vật, kể cả những thứ vô nghĩa như loài chim sẻ. Nhưng sự quan phòng đó không phải là một định luật vô ngã của vũ trụ, song là sự trông coi có tính cách hữu ngã của Thiên Chúa hằng sống, Cha các con. Tuy nhiên, nếu chứng tá các môn đồ có thể đưa đến cái chết, thì đó không phải là ngoài ý muốn của Chúa Quan phòng, như thể Thiên Chúa, dầu âu yếm đứng bên giờ chết của vị tử đạo, vẫn không thể cứu thoát vị ấy được, nghĩa của đoạn này hoàn toàn khác. Matthêu muốn nhấn mạnh: dù đang chứng kiến cái chết của vị tử đạo? Thiên Chúa cũng không muốn tách cái chết đó ra khỏi thánh ý Ngài: sở dĩ Thiên Chúa phù giúp vị tử đạo chính là vì xét cho cùng, Ngài muốn cái chết đó. Hãy nói cho rõ hơn: Ngài không chấp nhận cái chết cách chung chung, lý thuyết, vì Ngài muốn con người sống và được cứu thoát; nhưng chính vì mong mọi người lắng nghe Tin Mừng, mà Ngài muốn có những Đấng tử đạo, là những kẻ Ngài hứa ban trong cùng một lúc cái chết bi thảm và ơn cứu rỗi.

"Ta cũng xưng kẻ ấy ra": Điểm đáng lưu ý là ở đây Chúa Giêsu không xuất hiện như là Thẩm Phán ngày sau hết, nhưng như Trạng sư biện hộ cho các tín hữu Người trước mặt Thiên Chúa Thẩm phán. Cả hai vai trò đều liên kết trong bản thân Người. Chúa Cha đã trao quyền xét xử cho Người (25, 31tt; 7, 23), nhưng chính Người lại đồng hóa với những kẻ tin tưởng cùng đi theo Người đến nỗi Người có thể đại diện cho họ (x. 10, 40; 18, 20; 25, 35tt).

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đã hơn một lần dùng kiểu nói đề phòng sau đây: "Hãy coi chừng” (7, 15; 10, 17...). Nhưng Người cũng bảo, như trong các câu này (3 lần): “đáng sợ". Cả hai chuyện đều cần thiết phải sáng suốt và khôn ngoan để nhận ra đối phương, phải khách quan lượng giá nguy hiểm đang đến; nhưng sau đó đứng vững giữa mọi cám dỗ và mọi cuộc tấn công. Đức tin xua đuổi sợ hãi và niềm ý thức rằng mình thuộc về Đấng Messia, mình phải chịu đựng số phận của mình như Đấng Messia sẽ giúp ta can đảm và vững lòng.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Trên đường đức tin, phải biết sẵn sàng đón nhận sự chống đối, phân rẽ, công kích, tố cáo. Phải biết thẳng tay loại bỏ những mộng ước dễ dãi về một công cuộc Phúc âm hóa đầy may mắn và tốt đẹp. Đừng sợ, nghĩa là phải chống đối, đấu tranh, kiếm tìm. Có trăm ngàn lý do để sợ: tiến bộ hay thủ cựu, khuynh hữu hay khuynh tá, bạo lực hay yếu hèn ... Tất cả đều hợp lực làm lu mờ chân lý. Giữa bao cảnh bạo tàn và gian manh láo khoét ấy, vang dội lời này: “Các con đừng sợ chúng".

2) Người ta có thể chất vấn mọi Kitô hữu: bạn lo sợ cho Nước Trời hay lo sợ cho xác thân, cho cuộc sống bạn? Nỗi lo âu của bạn là lòng nhiệt thành nung nấu hay ưu tư về chính bản thân? Sau cùng bạn quan tâm lo lắng cho tha nhân hay băn khoăn về cuộc đời của bạn? Nói cách khác, bạn sợ hay tin. Vì ở đâu còn sợ, ở đấy chưa có đức tin. Ở đâu còn nghi ngờ về tương lai, ở đó còn có sự nghi ngờ triệt để này? Thiên Chúa có thể cứu ta thực không? Phải chăng Ngài đã chết? Chắc gì Ngài lưu tâm đến ta? Không sợ là vững tin giữa cơn nguy hiểm rằng ngay cả tóc trên đầu ta cũng được đếm cả rồi.

3) Trong cuộc sống cụ thể mà Kitô hữu phải làm chứng về niềm tin mình mỗi ngày, thật khó phân biệt giữa sự gan dạ cần thiết với sự táo bạo nguy hiểm vô ích. Ta quá biết rằng mọi thái độ, cử chỉ đều có thể bị chỉ trích vì không gì tốt hảo hoàn toàn. Có thể đôi khi nên thinh lặng hơn là tuyên bố chẳng đúng thời đúng lúc; nhưng đừng thinh lặng vì sợ cho bản thân, vì sợ nguy hiểm cho thanh danh mình hay cho sự thoải mái bên trong. Hôm nay được gặp Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể, ta hãy xin Người giải thoát ta khỏi mọi sợ hãi và củng cố niềm tín thác cậy trông mà chỉ mình Người mới có thể ban được.

4) Việc Chúa quan phòng chăm sóc ta không có nghĩa là Ngài cất khỏi ta mọi khó khăn, nhưng là giúp đỡ ta qua mọi khó khăn gặp phải, để biến ngay cả cái chết thành một khúc ca tình yêu.

 


 

8. Đừng sợ

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1) Được tiếp đón hay bị từ chối như Thầy...

Thấy đám đông, Đức Giêsu động lòng thương xót, họ mệt mỏi rã rời như dẫn đàn chiên không người chăn người liền kêu gọi 12 môn đệ mà Người gọi là tông đồ (nghĩa là được sai đi).

Nhưng trước khi sai họ đi "đến với những chiên lạc là Israel", Người còn nói với họ một "diễn từ sai đi", là diễn từ thứ 2 trong số 5 diễn từ chính của Đức Chúa Giêsu trong Phúc Âm thứ nhất. Sách Bài đọc chia ra hai bài, hôm nay và Chúa nhật tuần tới, nhưng không chia ra hoạt những nhắn nhủ các nhà truyền giáo:

Một đàng là những nhắn nhủ về sự dứt bỏ vô vị mà họ phải làm chứng, về cách họ phải cư xử khi được đón tiếp hay bị chối từ khi loan Tin Mừng (câu 9-15).

Đàng khác là những cảnh báo liên hệ đến sự bắt bớ mà họ sẽ phải chọn (câu 16-23) vì Thầy, nếu họ trung thành với sứ điệp của Người (câu 24-25): "Nếu chủ nhà đã bị coi là Belzebu, thì những người trong nhà sẽ còn bị xử tệ hơn". Hai câu cuối cùng này là cao điểm của bài diễn từ Cl Tassin bình luận: "Hai câu này nhìn sứ mạng " Kitô hữu như đồng bộ với thái độ của Đức Giêsu: cũng Người hiến mình cho đoàn chiên mệt mỏi lang thang, và chấp nhận những thử thách như Người, đó là sứ mạng đích thực của mọi Kitô hữu. Mười hai tông đồ vẫn là những mẫu mực không so sánh được về truyền giáo, không phải do những thành công, nhưng do các Ngài đã cùng Đức Giêsu cảm nghiệm đến cùng cảm tính định mệnh của các ngài.

2) Những người được sai đi của Đức Giêsu không được sợ nói.

Sau khi đã loan báo cho các môn đệ biết sự bắt bớ đang chờ họ và họ thấy rõ nguyên nhân của sự bắt bớ - căn tính sâu xa giữa Người và các môn đệ - Đức Giêsu hướng dẫn họ thái độ phải có khi gặp thử thách. Một tư tưởng hướng dẫn chạy xuyên suốt các lời Thầy, một điệp khúc tạo nên dấu chấm câu: “Các con đừng sợ!... Đừng sợ ! Đừng sợ gì cả…”

Đừng sợ, dám nói, vì lời họ nói không phải là lời của riêng họ nhưng là lời Đức Giêsu, lời có hiệu quả của lời Thiên Chúa. Do đó, môn đệ đừng mất can đảm nếu thành công trong hiện tại còn mỏng manh, thậm chí còn chưa thấy; như mặt trời mọc lên chiến thắng đêm đen, sứ điệp rồi cũng sẽ xuyên thủng tăm tối. Đừng sợ khi bị bắt bớ, vì nếu những kẻ bắt bớ chỉ có quyền trên sự sống dương trần (thân xác) chỉ mình Thiên Chúa nắm giữ đời sống vĩnh cửu và phán quyết của Người có thể huỷ diệt trần thế con người (cả xác lẫn hồn). Đừng sợ, vì Thiên Chúa, Đấng xét xử ta cũng là "Người Cha" chăm sóc mọi người, dù bé nhỏ đến đâu, và yêu thương từng người con bằng sự âu yếm của người mẹ: "Các con đáng giá hơn những con chim sẻ nhiều". Đối với những ai gắn bó sự nghiệp của họ với sự nghiệp của Người đến liều cả mạng sống, Đức Giêsu cũng hứa sẽ gắn bó với họ trong ngày phán xét. Người sẽ là luật sư biện hộ cho họ "Ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời, Ta sẽ tuyên xưng họ trước mặt Cha Ta trên trời”.

BÀI ĐỌC THÊM:

1) Trong bàn tay Thiên Chúa. (Mgr. L. Daloz, Le Règne de Cieux Siest approehé, DDB).

Với môn đệ được sai đi, Đức Giêsu không hứa hẹn một đời sống dễ dãi. Nhưng Người cũng không để các ông trắng tay. Người bảo đảm cho các ông có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Người cũng trấn an các ông rằng từ nay các ông được Chúa Cha gìn giữ nên họ sẽ không lo gặp sự dữ. Chúng ta sống trong bàn tay của Thiên Chúa hằng sống, Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Loan báo Phúc âm đâu phải là của riêng của những bậc anh hùng, những con người có óc phiêu lưu mạo hiểm! Loan báo Phúc âm đòi có sự can đảm, có sức mạnh, nhưng không phải sự can đảm hay sức mạnh của riêng ta. Ta tìm thấy sự bảo đảm vẹn toàn ấy ở nơi Thiên Chúa. Dù bản chất ta yếu ớt, nhát sợ, ta vẫn có chỗ trong việc truyền giáo. Các tông đồ đã chẳng nhát sợ đó sao? Chính Thánh Thần Thiên Chúa trong ngày Lễ Hiện xuống đã ban cho họ sức mạnh để họ ra khỏi nhà, đến với mọi người. Thánh Phaolô tự phụ vì những yếu đuối của Ngài, vì qua những yếu đuối ấy, quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện. Ta là con của Người Cha trên trời, của Thiên Chúa sáng tạo và giữ gìn tạo vật của Người. Là con Thiên Chúa thì khác hẳn với chỉ là tạo vật "Người ta chẳng bán hai chim sẻ một đồng đó sao ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất là không do ý Cha. Còn các con, ngay cả tóc trên đầu các con cũng đã được đếm rồi". Ta có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người yêu ta như cha, như mẹ ta. Vì thế, Đức Giêsu luôn khuyên ta đừng sợ hãi . "Đừng sợ, các con có giá trị hơn chim sẻ kia nhiều".

Tuyên xưng niềm tin khi ta sống giữa những người đồng đạo, trong một cộng đoàn Kitô giáo thì thật dễ. Cho dù ở trong cộng đoàn, ta vẫn có tự do. Nhưng điều tối quan trọng, cực kỳ khó khăn đó là ta dám hành xử, ăn nói theo đức tin giữa một thế giới lãnh đạm, nghi kỵ hoặc thù ghét. Đức Giêsu đòi hỏi ta điều đó. Đức Giêsu sai môn đệ để họ đi rao giảng Nước Trời cho thế gian, chứ đâu phải chỉ để họ rao giảng cho nhau. Không đủ nếu ta chỉ mời người khác đến tham dự các buổi họp, thánh lễ vì ở đó, ta vẫn thường nói về Đức Giêsu Kitô, ta chẳng phải liều lĩnh gì cả, ta vẫn ở "nhà" ta, trong khuôn viên của ta. Nhưng cũng không cần phải ra ngoài đường phố mà rao giảng. Tuy nhiên, khi dám nói một lời trong xã hội ta sống, trong gia đình, với các bạn bè, các đồng nghiệp, "tại nhà họ", không khiêu khích, nhưng cũng không sợ hãi, đó là gieo hạt giống Nước Trời vào thúng bột trần gian . . . Đó là một liều lĩnh, nhưng lười biếng, im lặng còn là một liều lĩnh lớn hơn . . .

Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ chúng con trong trung tín với Chúa. Chúng con chỉ đứng vững nhờ sức mạnh Chúa ban. Chúa là sự vững mạnh, là tảng đá cho chúng con nương tựa. Xin cất khỏi chúng con mọi sợ hãi loài người. Xin hãy tuyên xưng chúng con trước mặt Cha để Người ban cho chúng con đủ sức tuyên xưng Chúa trước mặt người đời. Xin cho chứng từ của chúng con là một bằng chứng cho mọi người thấy rằng Chúa chính là bảo đảm cho chúng con trước mặt Chúa Cha. Xin cho lời tuyên xưng đức tin của chúng con cho mọi người biết Chúa là Con yêu dấu của Chúa Cha. Khi chúng con sợ chống đối hay chế diễu, không dám tuyên xưng danh Chúa, xin hãy tha thứ cho chúng con, như Chúa đã tha thứ cho Phêrô. Nếu chúng con phản bội, thì Chúa vẫn một mực trung tín. Xin nâng đỡ chúng con để dù chúng con sợ hãi, tình yêu của Chúa vẫn là mạnh nhất. Để qua sự yếu đuối của chúng con, chúng con biết làm chứng về sức mạnh của ơn Chúa tha thứ.

2) Im hay nói ( G. Bessierè, Diêu si proche, DDB).

Ngày nay Kitô hữu nói về Thiên Chúa ít hơn xưa. Tuy nhiên, Đức Giêsu yêu cầu ta: "Hãy la lớn trên "mái nhà" điều gì đã "thì thầm vào tai”. Lời chúc dữ của Người: "Ai từ chối Ta trước mặt người đời, ta cũng sẽ từ chối họ trước mặt Cha Ta trên trời".

Im hay nói? Có nhiều loại im lặng. Im lặng sợ hãi, im lặng lãnh đạm, im lặng phản bội. Cũng có những im lặng mừng vui, im lặng sung mãn, im lặng yêu thương, im lặng dấu kín một bí mật. Những phút mãnh liệt nhất trong đời là những lúc "Không còn lời lẽ". Lúc ấy im lặng còn diễn tả hơn mọi lời lẽ: nó cho ta nghe thấy điều không diễn tả được. Làm sao trẻ em, và giới trẻ biết được Đức Giêsu nếu ta cứ im lặng mãi? Ta đề nghị niềm hy vọng nào nếu ta lặng thinh? Im lặng cần có từ ngữ mới có sức mạnh: nếu không có bản giao hưởng, làm sao nghe được sự im lặng tràn ngập căn phòng sau hợp âm cuối cùng?

Đức Giêsu đã chẳng nói đó sao: "Tất cả những gì che giấu sẽ được tỏ lộ. Tất cả những gì giấu giếm rồi mọi người sẽ biết. Phải chăng ta không cần như thánh Phaolô, nói "vào lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện" để rao giảng Phúc âm cho cả nhân loại qua mọi thế hệ?

Cần phải loan báo thứ sứ điệp vượt quá mọi từ ngữ và mọi giáo thuyết. Nhà khôn ngoan lớn tuổi viết sách Giảng Viên đã nói: "Có thời đã nói, có thời để im lặng. Những thời điểm này tiếp nối nhau trong cuộc đời con người cũng như trong Giáo Hội từ ngàn đời. Vì đôi khi ta nói quá nhiều, rồi sẽ tới ngày những từ ngữ biến nghĩa và chẳng còn "nói lên được điều gì nữa". Chính sự sống và sự im lặng để làm chín muồi những lời lẽ mới mẻ và tươi trẻ.

Ta đang ở vào một mùa lịch sử mà nhiều từ ngữ không nói lên điều gì nữa: vì đôi khi trong quá khứ người ta đã dùng sai từ ngữ, và vì ta đã bước vào một lối hiện hữu mới nơi mọi người đang thay đổi lối sống, lối suy nghĩ, diễn tả và truyền đạt. Mong sao Kitô hữu cố gắng mỗi ngày sống Phúc âm hơn. Thánh Thần của Đức Giêsu sẽ khơi dậy trong họ sự im lặng hoặc từ ngữ. Lời đầu tiên của họ vẫn luôn luôn là sự sống của họ. Còn những lời khác sẽ không ngừng tái tạo, từ thời đại này qua thời đại khác, mà không bao giờ bị sa lầy trong những từ ngữ bị thói quen làm cho lu mờ.

  


 

9. Đừng sợ – Fernandez

1) Dũng cảm trong đời thường

Trong bài Tin Mừng Thánh lễ hôm nay (Mt 10,26-33), Chúa Giêsu nhắn nhủ chúng ta đừng sợ, nhưng hãy sống như con cái Thiên Chúa. Nhiều khi chúng ta tình cờ gặp những người luôn bị cuộc sống nhọc nhằn này đè nặng. Nghịch cảnh và trở ngại hình như cứ chực giăng mắc bủa vây những khi người ta chỉ dựa vào sức riêng con ngưới để thắng vượt chúng. Chúng ta cũng cũng thường gặp những Kitô hữu hay xấu hổ khi phải nói về Chúa hay phải nói không với cái xấu và trong những lúc cần phải xưng mình là những môn đệ trung thành của Đức Kitô. Họ sợ những lời người ta nói ra nói vào, sợ luôn những nhận xét phê bình, sợ phải lội ngược dòng đời hay bị nhòm ngó để ý. Chắng lẽ giữa môi trường ngoại giáo nơi mà người ta thường đề cao những giá trị tiền tài của cải một Kitô hữu lại không thể để cho người ta chú ý đến mình hay sao?

Chúa Giêsu nói chúng ta đừng quan tâm đến phê bình chỉ trích hay vu khống. "Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết” (Mt 10 26-33). Thật là xấu hổ nếu như có ai khám phá ra chuyện chúng ta e ngại loan báo khắp năm châu bốn bể cho mọi người biết chân lý mà Thiên Chúa đã ký thác cho chúng ta! Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai thì hãy lên mái nhà rao giảng. Nhiều khi chúng ta giữ yên lặng vì đó là hành động tốt nhất phải làm, có thể là vì những lý do khôn ngoan siêu nhiên hay động cơ đức ái nhưng không bao giờ được viện cớ sợ hãi hay nhút nhát. Là những Kitô hữu, chúng ta không được làm bạn với bóng tối hay trở thành những xó xỉnh ẩn nấp; chúng ta là bạn hữu của ánh sáng, của công khai cởi mở trong ngôn từ và hành động. Thời đại chúng ta đang sống đây lại càng tới mức cần chúng ta công bố chân lý sự thật một cách rõ ràng minh bạch. Sự giả dối và ngộ nhận hiện đang dẫn đưa nhiều tâm hồn tới chỗ lầm đường lạc lối. Có vẻ là phi lý, nhưng nhiều khi ngay cả học thuyết đúng đắn, những quy tắc ưlng xử luân lý (vốn thường theo sát lương tâm người ta trong lao động và trong cuộc sống gia đình, là lẽ thường tình của lương tri) lại bị coi nhẹ kém cả học thuyết sai lầm kỳ quặc mà người ta coi là “tiên tiến” hay “tiến bộ”.

Chúng ta không nên sợ mất những uy tín hào nhoáng giả tạo, hay bị chỉ trích phê bình hay thậm chí có khi bị sát hại vì chúng ta lội ngược dòng hay đi ngược lại những gì đang được coi là thịnh hành. Chúa Giêsu quả quyết rằng: "Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thằy, Đấng ngự trên trời". Người vẫn hằng ban thưởng cho chúng ta một cách trọn vẹn cho tất cả những lần chúng ta bị người đời hiểu lầm vì chúng ta đã sống dũng cảm trong cuộc đời này, trong một thế gian thường xuyên mất khả năng hiểu biết mọi điều trừ ra những giá trị vật chất. Thánh Phaolô nói rằng: "Tôi coi mọi sự khổ đau đời này không ra gì so với vinh quang đã được tỏ hiện cho chúng ta" (Rm 8,18). Vì thế, thánh Gioan Kim khẩu chú giải thêm rằng, ai mà lại không ra sức đạt được vinh quang cao cả ấy, để sống thân thiết bằng hữu với Thiên Chúa, mang lấy Đức Kitô trong mình, nhận lãnh những phần thưởng từ Thiên Chúa ban sau bao nỗi đớn đau âu lo của trần thế. Nếu những người lính chiến trần gian này vinh quang trở về cố hương sau khi đã chiến thắng quân thù, thì còn gì vinh hiển và đáng ca ngợi hơn một khi chúng ta khải hoàn trở về thiên quốc sau khi đã chế ngự được quỷ dữ... ; giương cao dấu hiệu chiến thắng...; được ngồi bên hữu Thiên Chúa khi Người đến xét xử, được đồng thừa tự với Đức Kitô; được xếp hàng với các thiên thần, với các Tổ Phụ, các Tông đồ và các tiên tri; được hân hoan vui mừng vì có Nước Trời là của mình.

2) Sức mạnh của chúng ta là biết mình trở nên con cái Thiên Chúa

Dù sống hay chết cũng không sợ, nhưng luôn luôn vui tươi khi phải giáp mặt với những khó khăn trầm trọng nhất, kiên trì đương đầu với những trở ngại đòi hỏi nhiều nỗ lực hy sinh, bình thản chịu đựng bệnh tật. Yên tâm trước một tương lai bấp bênh... Thiên Chúa muốn chúng ta sống như thế đó. Những khi có thể đươc, chúng ta nên thường xuyên mỗi ngày nhớ rằng chúng ta đã là con cái Thiên Chúa, đặc biệt là kẻ hi chúng ta bị những âu lo tương lai đen tối bủa vây tấn công. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không ? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

Như thế Thiên Chúa đã tỏ rõ tình cảm vĩ đại Ngài dành cho chúng ta và cái giá trị to lớn Ngài đã đặt nơi con người. Thánh Hiêrônimô đã chú giải đoạn Tin Mừng này như sau: Nẻo những con chim sẻ rê mạt kia vẫn luôn nhờ sự Quan Phòng của Thiên Chúa mà chẳng hề con nào rơi xuống, anh chị em là những thụ tạo đã được phú ban một định mệnh vĩnh cửu nhờ có linh hồn bất tử làm sao có thể lo sợ Đấng mà anh chị em tôn kính là Cha sẽ không chăm lo săn sóc cho anh chị em cách riêng hay sao?

Việc được làm con cái Thiên Chúa sẽ củng cố tăng cường sức mạnh cho chúng ta khi những yếu đuối bản thân bủa vây tư bề và những trở ngại giăng mắc trên đường đời; khi phải đương đầu với những khó khăn giữa một môi trường luôn luôn thù nghịch với Thiên Chúa và nhiều khi đối nghịch thô bạo với những lý tưởng Kitô giáo. Trong bài đọc thứ nhất tiên tri Giêrêmia ngỏ lời với chúng ta nhưng Đức Chúa ở bên tôi như người chiến binh oai hùng. Đây chính là tiếng kêu thống thiết của tiên tri trong cảnh lẻ loi bị quân thù bao vây tư bề. Những khi nguy hiểm cận kề, hay mây mù bão tố giăng kín, chúng ta có thể lập đi lặp lại những lời tự nhủ mình như thế này Thiên Chúa, là Cha tôi, Ngài luôn ở bên tôi như người chiến sĩ oai phong. Có Chúa là ánh sáng và là ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ gì ai ? Dominus, illuminatio mea et salus mea, quem timebo? (Tv 27,1)

Và đây là điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta (1Ga 5,4), Thánh Gioan tông đồ đã tuyên bố như thế giữa lúc bao nhiêu khó khăn đang ập tới ào ạt từ một thế giới ngoại giáo. Chính trong thế giới đó người Kitô hữu, vẫn là những công dân bình thường, đã lao động trong những ngành nghề khác nhau và thực hiện sứ vụ tông đồ một cách có hiệu quả. Và nền tảng vững chắc của một đức tin không hề lay chuyển tạo đà phát triển cho một niềm tin không mơ hồ hay ngây ngô chút nào, nhưng là một niềm kiên vững hân hoan của Kitô hữu, mặc dù có nhiều giới hạn và sự xấu xa bản thân, luôn biết rằng Đức Kitô đã nhờ Cây Thập Giá và Sự Sống lại của Người mà chiến thắng vinh quang. Có Chúa là ánh sáng và là ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ gì ai ? Lạy Chúa, con còn sợ gì nữa? Con còn sợ ai nữa? Vì Chúa là ngườl canh giữ bảo vệ của cuộc đời con.

3) Can đảm và tín thác vào Thiên Chúa giữa mọi thử thách lớn nhỏ trong đời sống thường ngày

Chúa Giêsu khuyên chúng ta đừng sợ gì cả, ngoại trừ tội lỗi là nguyên nhân phá hủy tình thân hữu với Thiên Chúa và dẫn chúng ta tới chỗ bị án phạt đời đời. Khi đối diện những khó khăn, chúng ta phải tỏ ra mạnh mẽ và can đảm, như những người con đích thực Thiên Chúa. Chúa Giêsu thường bảo chúng ta đừng sợ những ai chỉ giết được thân xác anh em nhưng không thể huỷ diệt linh hồn; anh em nên sợ người có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác anh em trong hỏa ngục. Kính sợ Thiên Chúa là một trong bẩy ơn Chúa Thánh Thần, sẽ giúp chúng ta chiến đấu một cách kiên quyết hơn với tội lỗi, với tất cả những gì có thể chia rẽ chúng ta với Thiên Chúa. Đức kính sợ ấy sẽ nhắc nhở chúng ta xa tránh những dịp tội lỗi chớ quá tự tin vào chính mình, hãy luôn nhớ rằng bản thân chúng ta có một đôi chân đất sét, mỏng dòn dễ vỡ. Những sự dữ phần xác, ngay cả cái chết, cũng không thấm tháp gì khi so sánh với những sự dữ phần hồn, với tội lỗi.

Chúng ta không nên lo lắng bất cứ chuyện gì trừ ra lo sợ đánh mất Thiên Chúa. Nỗi lo sợ canh cánh này chính là tâm tình con thảo không muốn làm mất lòng Chúa. Nhiều lúc trong cuộc đời, chúng ta có thể trải qua nhiều thử thách lớn lao. Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta nhiều ơn cần thiết để chúng ta chịu đựng vượt qua và lớn lên mãi trong đời sống nội tâm. Ơn của Ta đủ cho các con, Chúa Giêsu đã bảo chúng ta như thế.

Đấng đã giúp thánh Phaolô xưa kia thì nay cũng giúp đỡ chăm sóc chúng ta những khi chúng ta chạy đến kêu cầu Thiên Chúa, khiêm tốn và tin tưởng: Lạy Chúa, xin Chúa đừng tin con. … nhưng con đây, con đặt hết lòng tin vào Chúa. Rồi khi chúng ta cảm thấy trong trái tim này cái nhìn yêu thương cảm thông và dịu dàng của Đức Kitô - vì Người không bao giờ bỏ rơi chúng ta – chúng ta sẽ hiểu ra đầy đủ ý nghĩa của những lời thánh Phaolô tâm sự: ‘virtus in infirmitate perficitur’. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh. (2Cor 12,9). Nếu chúng ta có đức tin vào Chúa Giêsu, mặc dù đã bao lần chúng ta làm lỡ - hay, đúng hơn, mặc dù chúng ta có biết bao lầm lỡ - chúng ta vẫn cứ trung thành với Thiên Chúa Cha chúng ta: quyền năng thần linh của Ngài sẽ chiếu sáng trên chúng ta, và luôn nâng đỡ những yếu đuối của chúng ta.

Tuy nhiên, trong đời thường chúng ta sẽ phải sống mạnh mẽ và dũng cảm cả trong những chuyện nho nhỏ: những khi chúng ta lịch sự nhưng cương quyết từ chối một lời mời đi đến những chốn mà một Kitô hữu đàng hoàng sẽ cảm thấm bứt rứt khó chịu, những khi chúng ta phải mạnh dạn góp ý cho các giáo viên đang dậy dỗ con em chúng ta; những khi chúng ta phải cắt ngang câu chuyện nào đang đến hồi rẽ sang chuyện đáng ngờ hay những khi thấy có một cơ hội mời người bạn nào đó đi nghe hội thảo về đức tin, hay gợi chuyện dẫn tới cơ hội khéo léo khuyên nhủ ai đó đi xưng tội. Công việc tông đồ đầy tham vọng của chúng ta thường bị trì trệ hay đình đốn chỉ vì cái tính rụt rè nhút nhát trong những chuyện nho nhỏ như thế thôi. Và cũng chính nhờ những can đảm trong những việc nho nhỏ như thế mà cuộc sống chúng ta thêm nhiều hoa trái.

Trong giờ phút bị bỏ rơi bên thập giá, Đức Nữ Trinh Maria đã đứng đó bên Con mình, sẵn lòng cùng chung một số phận với con. Chúng ta hãy xua tan nỗi sợ sệt không dám sống như những Kitô hữu có trách nhiệm những lúc môi trường chúng ta đang sống không còn dễ dàng thuận lợi. Những lúc ấy Đức Maria sẽ đứng bên chúng ta, giúp đỡ chúng ta trong mọi cơn khốn khó.

 


 

10. Chứng nhân Tin Mừng

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu như muốn khuyên nhủ chúng ta rằng:

- Đừng sợ hãi khi phải nói lên sự thật. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và ngài sẽ ân thưởng cho chúng ta, nếu nếu chúng ta luôn trung thành với Ngài.

Đồng thời, Ngài cũng truyền dạy chúng ta:

- Đừng sợ hãi, trái lại hãy can đảm công bố Tin Mừng cho muôn dân. Hãy kêu to trên mái nhà và đừng giấu kín sự gì. Bởi vì một ngày kia, tất cả đều được bật mí, tất cả đều được phơi bày.

Đừng sợ hãi khi phải đứng trước mặt thiên hạ, bởi vì sự ác và đau khổ sẽ bị giới hạn trong thời gian và không thể nào giết hại được linh hồn chúng ta.

Trái lại, nếu chúng ta không trung thành với sứ mạng Chúa đã trao phó, thì chỉ nên sợ hãi trước Đấng có thể ném cả thân xác lẫn linh hồn chúng ta xuống hỏa ngục mà thôi, bởi vì những kẻ độc ác nhất trên trần gian cũng không thể nào sát hại được linh hồn chúng ta.

Đừng sợ hãi con người, bởi vì con người không thể nào cướp mất khỏi tâm hồn chúng ta niềm vui mừng và hy vọng.

Trong khi đó, Thiên Chúa luôn yêu thương và chăm sóc đến mỗi người chúng ta. Ngài đã nuôi từng con chim sẽ và đã đếm từng sợi tóc trên đầu. Chúng ta còn cao trọng hơn những con chim sẻ và quí giá hơn những sợi tóc bội phần. Ngài đã dành cho mỗi người chúng ta một chỗ đứng đặc biệt trong trái tim của Ngài.

Bởi đó, hãy tin tưởng vào tình thương cũng như vào quyền năng của Ngài và đừng bao giờ chối bỏ Ngài. Vì chưng, tuyên xưng Ngài trước mặt người đời, thì sẽ được cứu thoát. Còn chối bỏ Ngài trước mặt người đời, thì sẽ bị trừng phạt.

Ngay trong lòng Giáo hội, cũng không thiếu gì những khuyết điểm, những sai lỗi, những lầm lạc, khiến cho chúng ta cảm thấy băn khoăn và bối rối.

Không phải chỉ có những kẻ thù đã tấn công Giáo hội, mà hơn thế nữa, nhiều lúc chính những người giáo dân hữu danh vô thực, mang tên gọi tín hữu, nghĩa là là có đức tin, hay mang tên gọi Kitô hữu, nghĩa là có Đức Kitô, nhưng lại chẳng bao giờ sống đạo, sống đức tin của mình. Hơn thế nữa, họ còn quay lưng chống lại Đức Kitô cũng như chống lại Giáo hội của Ngài, hay ít nữa là họ cũng đã chối bỏ Đức Kitô, chối bỏ Giáo hội từ thẳm sâu cõi lòng của mình.

Như thế, trong phạm vi đức tin, chúng ta thấy có hai loại nguy hiểm.

Loại thứ nhất, đó là những bắt bớ, cấm cách trực tiếp nhắm vào đức tin của chúng ta. Còn loại thứ hai, cũng không kém phần nguy hiểm, đó là những sự tấn công gián tiếp, vừa tinh vi lại vừa tế nhị, vốn thường được mặc lấy những hình thức, những lý do bên ngoài vừa hợp tình lại vừa hợp lý.

Chẳng hạn như để hoán cải thế gian, tôi phải đi sâu vào ngôn ngữ, vào tập tục, vào cách nhìn, vào cách nghĩ cũng như vào cách sống của thế gian, để rồi cuối cùng tôi đã bị nhận chìn lúc nào cũng không hay.

Trung thành gắn bó với Đức Kitô và Giáo hội bao giờ cũng đòi buộc chúng ta phải hy sinh, có khi phải hy sinh cả bản thân, cả mạng sống của mình, thế nhưng đó lại là điều kiện để được cứu độ, như lời Chúa đã phán:

- Ai xưng tụng Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ xưng tụng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời. Còn ai chối bỏ Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ chối bỏ nó trước mặt Cha Ta ở trên trời.

  


 

11. Quan phòng

Thời hoàng đế Vát-pa-si-a-nô, thượng viện Rôma đã bàn luận xem nên gọi vị thần tốt nhất và lớn nhất của họ là gì, người thì đề nghị nên gọi là “Thần giầu sang”, người thì cho rằng nên gọi là “Thần khôn ngoan”, người khác nữa đề nghị nên gọi là “Thần uy quyền”. Sau cùng, một ông nghị phát biểu: “Theo ý tôi, chúng ta nên gọi là “Thần nhân lành”, vì nếu chúng ta gọi là “Thần giầu sang” thì những người khó có gì? Nếu chúng ta gọi là “Thần khôn ngoan” thì những người bình dân, đơn sơ chất phác có gì? Và nếu chúng ta gọi là “Thần uy quyền” thì những người khiêm tốn có gì? Vậy chúng ta muốn vị thần ấy hợp với tất cả mọi người thì chúng ta chỉ có thể gọi là “Thần nhân lành”, mọi người đều hoan nghênh.

Đối với chúng ta, những người tin Chúa Kitô, thì hơn thế nữa, chúng ta sẽ có một ý tưởng tốt đẹp biết bao khi gọi Thiên Chúa là “Cha nhân lành” của chúng ta. Người Hy Lạp, Rôma ngày xưa đã không biết Chúa là Cha. Thích Ca Mâu Ni không thấy Chúa là Cha, Mahômét cũng không hề rao giảng Chúa là Cha, cả dân Do Thái trong Cựu Ước không bao giờ có ý tưởng xưng hô Chúa là Cha. Đối với họ, Thiên Chúa là ông chủ nghiêm khắc, Đấng đã ban truyền những điều răn trong sấm chớp và ánh sáng, Đấng thẩm phán sửa dạy họ nghiêm khắc mỗi khi họ bất tuân hay phản bội, nhưng từ khi rao giảng Tin Mừng, chính Chúa Giêsu đã dạy nhân loại: Chúa là Cha, Ngài nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Thiên Chúa không phải là một ông chủ độc ác, nhìn chúng ta như bầy tôi, nô lệ, nhưng Chúa là Cha, Người luôn luôn săn sóc và yêu thương chúng ta.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta thấy rõ ý tưởng đó. Sau khi khuyến khích các môn đệ hãy can đảm và mạnh dạn công bố cho mọi người biết tất cả những điều Chúa đã dạy các ông trong nơi kín đáo, Chúa khích lệ các ông đừng sợ chi cả, hãy tuyệt đối tin tưởng vào Chúa, vì Thiên Chúa là Cha, Đấng thông biết mọi sự và quan phòng tất cả.

Đúng vậy, Chúa quan phòng cai trị mọi vật. Chúa dựng nên những cái vĩ đại cũng như những cái bé nhỏ. Chúa săn sóc người này cũng như người kia: “Nào người mẹ có thể quên con mình không? Và cho dù người mẹ có quên con mình đi nữa, Chúa cũng không quên chúng ta”, “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em”, “Hãy xem chim trời, Cha anh em vẫn nuôi chúng. Anh em lại không hơn chúng sao?”, “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, Chúa còn cho chúng đẹp đến thế, phương chi anh em, Chúa còn săn sóc hơn nhiều”. Thánh Âu Tinh nói: “Lo lắng cho cả vũ trụ còn vĩ đại hơn làm cho năm ngàn người no nê bằng năm chiếc bánh, vậy mà chẳng ai lạ lùng về chuyện đó. Chúa săn sóc mỗi người dường như chỉ có một người đó ở trên đời và Chúa săn sóc tất cả mọi người dường như Chúa săn sóc cho một người”.

Chính vì yêu thương săn sóc chúng ta như thế, nên nhiều lần Chúa Giêsu đã khích lệ chúng ta đừng sợ. Đừng sợ không có nghĩa là đừng làm gì, đừng lo đến sinh kế, đừng cố gắng nỗ lực. Không, ngàn lần không. Đừng sợ không phải là như vậy, nhưng có nghĩa là cứ làm, cứ lo sinh kế, cứ cố gắng nỗ lực, đồng thời phải tin tưởng, cậy trông vào Chúa. Nhưng như vậy có phải là chúng ta tin chắc vào đôi tay rắn chắc khỏe mạnh chăng? Tin vào tuổi đang lên, đầy sức sống nghị lực chăng? Hoặc cậy dựa vào những người khác? Không, vì đôi tay khỏe mạnh này ngày mai sẽ yếu đi, tuổi đôi mươi sẽ chóng qua, còn nghị lực thì rất mỏng giòn, còn những người khác mà chúng ta cậy dựa vào hôm nay thì thường hay thay đổi, thiếu thiện chí và làm sao họ có thể bảo đảm cho chúng ta lâu dài được. Ngoài những điều trên, chúng ta phải trông cậy vào một sức mạnh khác, có thể bảo đảm cho chúng ta hôm nay và mãi mãi về phần hồn cũng như phần xác, sức mạnh đó chính là Thiên Chúa, vì Ngài là Cha của chúng ta, Người hoàn toàn hiểu những nhu cầu, những thiếu thốn, những ước mơ của chúng ta và Người biết những điều nào thích hợp và cần thiết cho chúng ta hơn. Cho dù một người mẹ trần gian chăm chỉ nhất, yêu thương con cái nhất, còn có thể không biết đến một vài nhu cầu của con mình, bà có thể quên sót, nhầm lẫn trong việc lo liệu hoặc lâm vào tình trạng không thể giúp đỡ con mình được. Nhưng Thiên Chúa không bao giờ lâm vào tình trạng như thế. Do sự quan phòng, Ngài biết, Ngài thấy và Ngài có thể làm được tất cả.

Tuy nhiên, để được Thiên Chúa yêu thương săn sóc như thế, Chúa đòi chúng ta phải tin tưởng vào Chúa, tuyệt đối tín thác vào Chúa, hoàn toàn vâng theo thánh ý Chúa, Người là Cha của chúng ta, Người luôn mong muốn điều tốt lành cho chúng ta.

 

 


 

12. Anh em đừng sợ

Thánh Mátthêu ghi chép rất rõ, đây là Lời Chúa Giêsu dành cho Mười Hai Tông Đồ, bài học căn bản này là bài học để cho các Tông Đồ lo công việc sứ mạng Tin Mừng của Chúa trao cho. Ngài cho biết thời gian gian truân khổ ải còn trổi vượt hơn cực hình mà ngôn sứ Giêrêmia phải làm chứng thời xưa. Thiếu niềm tín thác, người được sai đi rao giảng Tin Mừng sẽ sống trong hồi hộp lo sợ không ngừng, sợ phải nói lên sự thật, sợ người có thế lực hành hạ: "Người ta sẽ nộp các con trước quan tòa, nơi đó tòa án sẽ xét xử, lúc ấy các con đừng lo, chính Thánh Thần Chúa sẽ soi dẫn các con".

Câu kết thúc bài học của Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay nghe như dễ, nhưng thực hành điều ấy không dễ: "Ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời, thì Ta sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Ta, Đấng ở trên trời. Ai chối bỏ Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ chối bỏ nó trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời."

Các Tông Đồ Chúa đã vâng lệnh loan truyền Lời Chúa khắp nơi, không giấu diếm điều gì, các ngài loan truyền điều gì đã nghe và đã thấy khi thụ huấn nơi Chúa Giêsu. Bài học Phúc Âm hôm nay thực hành qua các thế hệ kế tiếp các Tông Đồ, không những hàng Giám Mục là những người thừa kế sứ mạng các Tông Đồ, mà cả đến những người thấp kém nhất trong Hội Thánh của Chúa Kitô. Nhớ lại lịch sử các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta sẽ cảm phục lòng tín thác anh dũng của các ngài, dù sống trong cơ cực, dù gông cùm, dù bị hành hình khủng khiếp, các ngài không hãi sợ nhưng vẫn một lòng cậy tin, và các ngài còn hát lên để ca khen Danh Chúa Kitô trước án tử hình của các ngài.

 

Nhưng nếu các bạn chưa tin yêu Ngài, chúng ta cũng đừng hãi sợ, vì Chúa Giêsu dặn như thế, vì chính sợ hãi sẽ làm cho chúng ta mất can đảm, mất bình tĩnh.

Đức Phật đã tu luyện cao thâm, một hôm có một tên cướp giết người đến hăm dọa mạng sống của ông, ông nói với tên cướp ấy rằng, khi anh giết tôi, xin anh thỏa mãn nguyện vọng cuối cùng đời tôi, là anh hãy chặt đứt cành cây kia đi.

Chỉ một lát gươm cành cây rơi xuống đất.

Tên cướp nạt lớn: “Còn gì nữa?”

Đức Phật bình tĩnh nói: “Bây giờ xin anh ráp cành cây ấy lại với thân cây như cũ”.

Tên cướp cười ngất: “Ông điên hả, chỉ có người điên mới làm như ông bảo”.

“Anh chính là người điên ấy, vì anh hành động ấu trĩ quá. Anh có biết rằng, người có thế lực là người biết xây dựng và là những người có thể chữa lành được”.

Thánh Kinh đồng hóa Thiên Chúa với sự khôn ngoan thượng trí, nếu chúng ta cầm, đọc và nghiền ngẫm Thánh Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy những điều hữu ích cho cách xử thế của chúng ta hằng ngày. Chúa Giêsu nhấn mạnh: "Đừng sợ hãi, hãy tín thác vào Chúa". Nếu bạn quá lo sợ, bạn sẽ làm hại chính bản thân.

Ngày nọ Dịch Tả vội vã đến làng Damas, dọc đường gặp nhóm người đi buôn bán, anh trưởng đoàn ấy hỏi:

- Anh đang tính làm kế hoạch gì vậy?

Dịch Tả đáp rằng:

- Tôi đi lấy một ngàn mạng sống tại làng Damas.

Xong việc Dịch Tả trở về, gặp lại nhóm trưởng giả ấy, họ cật vấn:

- Anh nói chỉ giết một ngàn người, nhưng sao đến mười ngàn người chết?

Dịch Tả mỉa mai:

- Tôi chỉ giết đúng một ngàn thôi, phần còn lại là do họ quá sợ hãi mà bị chết đó thôi.

Trong các cuộc di tản bởi chiến tranh, trong các biến cố do thiên tai khủng khiếp, kê ra số người chết vì sợ gấp nghìn lần số người chết vì bom đạn và thiên tai.

Chúa Giêsu hiểu rất rõ tâm trạng sợ sệt của chúng ta, đặc biệt của các đồ đệ của Ngài, nên khi vừa sống lại, Ngài đã đến đem bình an cho họ và đã trao ban Thánh Thần cho họ. Khi lãnh nhận Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống, Phêrô đã can đảm đứng lên rao giảng Tin Mừng và tiếp theo đó các sứ đồ đã hãnh diện vì được chịu khổ nhục và cực hình vì Danh Chúa.

Cọp chết để da, ta chết để sống. Người Kitô hữu chúng ta sống vì Tin Mừng của Chúa Kitô, và những ai tìm biết Chúa Kitô, sống Tin Mừng Chúa Kitô, chắc chắn Chúa Giêsu sẽ giữ lời hứa, Ngài sẽ giới thiệu chúng ta trước mặt Thiên Chúa Cha, để chúng ta được Chúa Cha nhìn nhận chúng ta và chúng ta được sống hạnh phúc.

 


 

13. Anh em đừng sợ

Suy Niệm

Nỗi sợ cứ quấn lấy đời người.

Đứa bé sợ xa mẹ, cô gái sợ già, người già sợ chết.

Nỗi sợ xuất hiện dưới muôn ngàn dáng vẻ. Sợ cô đơn, sợ bệnh tật, sợ phụ bạc, sợ tương lai. Sợ thất nghiệp, sợ nghèo đói, sợ thất học, sợ chia ly...

Có những nỗi sợ mang tính đạo đức: sợ phải sống theo lương tâm, phải làm chứng cho sự thật, sợ trước sự ác đang hoành hành, sợ tôn giáo bị mai một...

Có khi người ta sợ nhau: người da đen sợ người da trắng, nước nghèo sợ nước giàu, bạn bè, anh em, hàng xóm cũng sợ nhau.

Lắm khi chúng ta sợ Chúa, không như con sợ cha, nhưng như mộ nô lệ trước một ông chủ khó tính.

Nỗi sợ cứ quấn lấy đời người.

Nỗi sợ làm người ta mất vui, mất bình an và tự do.

Bởi thế Đức Giêsu khuyên các môn đệ đừng sợ.

Đừng sợ người đời, cứ mạnh dạn nói Lời Chúa (c.27).

Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác thôi (c.28).

Đừng sợ vì chúng ta có giá trị trước mặt Chúa (c.23).

Lắm khi Đức Giêsu đến với các môn đệ mà họ lại sợ hãi, tưởng là ma (Mt 14,27; Lc 24,37).

Nhưng sợ hãi cũng là chuyện bình thường của phận người.

Có ai làm người mà không một lần sợ hãi.

Đức Giêsu khuyên các môn đệ đừng xao xuyến (Ga 14,1) nhưng chính Ngài cũng xao xuyến trước cuộc khổ nạn.

Tin Mừng Gioan hai lần nhắc đến điều đó (Ga 12,27; 13,21).

Đức Giêsu xao xuyến đến tột cùng trong Vườn Dầu: "Tâm hồn Thầy buồn đến chết được" (Mt 26,37-38), và có lẽ Ngài cũng bị xao xuyến trên thập giá: "Lạy Chúa tôi, tại sao Chúa bỏ tôi?" (Mt 27,46).

Sợ hãi, xao xuyến không phải là một tội.

Kitô hữu không phải là người không biết sợ, hay không dám khiêm tốn thú nhận là mình sợ. Nhưng họ là người không để nỗi sợ chi phối đời mình, không vì sợ mà không dám sống cho chân lý.

Đức Giêsu nói tiếng Xin Vâng ngay trong lúc sợ hãi và đã uống cạn chén đắng Cha trao.

Con người hôm nay an toàn nhờ đủ thứ bảo hiểm, nhưng bảo hiểm cũng bắt nguồn từ nỗi sợ cái bất trắc.

Mỗi người chúng ta đều có nỗi sợ riêng.

Cần đối diện và vượt qua bằng lòng tín thác, để rồi được an tĩnh và tự do.

Chỉ thắng được nỗi sợ nhờ niềm tin vào Thiên Chúa. Ngài là Cha chúng ta, chăm lo đến từng sợi tóc cho ta, và chúng ta có giá trị lớn lao trước mặt Ngài.

Chỉ thắng được nỗi sợ nhờ tin vào đời sau. Cái chết thân xác không là dấu chấm hết của đời người.

Cuối cùng, chỉ thắng được nỗi sợ nhờ tin vào Đức Giêsu, Đấng không bị sợ hãi nuốt chửng và đã đi tới cùng.

Đấng phục sinh vẫn mời gọi chúng ta hôm nay: "Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16,33).

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn thấy người trẻ hôm nay sợ điều gì hơn cả? Để thắng vượt nỗi sợ cần làm gì? Cầu nguyện thôi, có đủ không? Cố gắng thôi, có đủ không?

Chấp nhận sống ơn gọi Kitô hữu là chấp nhận thiệt thòi ở đời này. Có khi nào bạn đã muốn chọn thiệt thòi để nói lên hay sống một chân lý của Đức Kitô không?

Cầu Nguyện

Lạy Thiên Chúa, đây lời tôi cầu nguyện:

Xin tận diệt, tận diệt trong tim tôi mọi biển lận tầm thường.

Xin cho tôi sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui.

Xin cho tôi sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời.

Xin cho tôi sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.

Xin cho tôi sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.

Và cho tôi sức mạnh tràn trề để âu yếm dâng mình theo ý Người muốn. (R. Tagore)

 


 

14. Thiên Chúa quan phòng

Đọc lại Phúc âm, hẳn chúng ta còn nhớ: khi sai các môn đệ đi thực tập truyền giáo, Chúa Giêsu đã căn dặn các ông đừng mang theo bao bị, bạc tiền, nghĩa là Ngài đòi các ông phải ra đi trong một tình trạng bấp bênh nhất. Sở dĩ như vậy là để các ông tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Ngài.

Chúng ta cũng thế. Sống giữa những gian nan và thử thách, khổ đau và hiểm nguy, rất có thể chúng ta sẽ bị gục ngã. Tuy nhiên, nếu có chết, thì cũng chỉ là một cái chết về phần xác mà thôi.

Thế nhưng, đối với những người có đức tin, nhận biết giá trị đích thực của linh hồn, thì cái chết này không đáng sợ. Thân xác có chết nhưng giữ được linh hồn là giữ được tất cả. Trái lại, mất linh hồn là mất hết.

Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta thường có khuynh hướng để tâm lo lắng cho thân xác một cách thái quá, mà lãng quên phần linh hồn của mình, đúng như lời Chúa đã cảnh báo:

- Tinh thần thì mau lẹ, nhưng xác thịt lại yếu đuối.

Ngày nay, người ta ít tin tưởng vào việc Chúa quan phòng, nên họ cũng không chấp nhận những giá trị và ý nghĩa của đau khổ. Họ mang tâm trạng bất mãn và muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Đối với chúng ta thì khác. Là người Kitô hữu, chúng ta tin tưởng vào việc quan phòng của Chúa. Chúng ta xác tín rằng Ngài hằng yêu thương và chăm sóc chúng ta.,

Đó không phải là một sự quan phòng yếu ớt đến độ Ngài không thể trợ giúp chúng ta được gì cả, nhưng là một màu nhiệm phong phú và ngập tràn tình thương. Chúng ta có một người Cha trên trời. Ngài là nguồn mọi tình phụ tử. Nếu một người cha phần xác mà còn biết yêu thương và chăm sóc cho con cái mình, thì huống nữa là Thiên Chúa, người Cha chúng ta ở trên trời, Ngài dư quyền năng và ngập tràn tình thương, lẽ nào Ngài lại chẳng đoái nhìn và chăm sóc cho con cái mình hay sao?

Là con Thiên Chúa, chúng ta có quyền được Ngài gìn giữ và chở che. Bởi đó, chúng ta phải biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian. Nước Thiên Chúa hay nói một cách mạnh mẽ hơn, chính Thiên Chúa phải chiếm chỗ nhất trong tâm hồn và trong cuộc đời chúng ta, rồi sau đó mới đến những tạo vật khác.

Và những thụ tạo ấy cũng phải được chúng ta nhìn dưới ánh sáng của Chúa. Chim trì không gieo không gặt, mà cũng được Thiên Chúa chăm sóc và nuôi ăn. Cánh hoa đồng nội không dệt không may mà cũng được Thiên Chúa chăm sóc và tô điểm bằng những màu sắc lộng lẫy. Vậy chúng ta lại chẳng đáng giá hơn chim trời và cánh hoa đồng nội đó sao?

Dù gặp phải cảnh nghèo túng hay gặp phải tai ương hoạn nạn, chúng ta vẫn có thể vui mừng cảm tạ Chúa vì Ngài biết những việc Ngài làm và những sự chúng ta cần đến.

Ngày kia, thánh Vianney tới thăm một em nhỏ nằm liệt trên giường bệnh, không còn cơ may được cứu sống. Cha hỏi em:

- Con có đau lắm không?

Em trả lời:

- Thưa cha, không ạ. Bởi vì cơn đau hôm qua, thì hôm nay con không còn cảm thấy nữa. Còn cơn đau hôm nay, thì ngày mai con cũng sẽ chẳng cảm thấy gì.

- Thế con có muốn được khỏi bệnh hay không?

- Thưa cha, không. Bởi vì trước kia con bị đau dữ lắm. Sợ rằng khỏi bệnh, con sẽ bị đau dữ hơn. Cứ thế này cũng được.

Và cha Vianney đã nhận xét:

- Chúng ta phải lấy làm xấu hổ khi so sánh mình với em nhỏ đầy lòng tin tưởng vào Chúa quan phòng. Hãy yêu mến thánh giá, vì đó là ơn lành Chúa ban cho những người bạn hữu nghĩa thiết, dưới ánh sáng đức tin, thì mọi sự đều là hồng ân của Chúa.

Riêng trong lãnh vực tông đồ truyền giáo, chúng ta hãy ý thức: Chúng ta là những thành viên trong “công ty” của Chúa. Việc chúng ta làm là việc của Chúa. Chính Chúa mới là Đấng quản trị mọi sự. Ngài là người đầu tiên bị thiệt thòi hay được hưởng lời. Ngài là người chịu trách nhiệm nhiều nhất.

Do đó, cuộc sống của chúng ta liên hệ tới Ngài nhiều hơn là liên hệ tới chính bản thân chúng ta. Không có điều gì xảy ra ngoài ý muốn của Ngài. Ngài điều khiển mọi việc chúng ta làm. Chúng ta thành công là chính Ngài thành công. Chúng ta thất bại là chính Ngài thất bại.

Từ đó, Chúa luôn đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta hai thái độ chính yếu:

- Thái độ thứ nhất, đó là phải thừa nhật quyền ưu tiên của Chúa, của Nước Trời. Đây phải là việc chúng ta lo liệu trước tiên vì chỉ có Ngài, chỉ có nước Ngài mới đáng kể. Giữ được linh hồn mình là giữ được tất cả. Còn mất linh hồn là mất hết.

- Thái độ thứ hai, đó là phải xác tin rằng Chúa sẽ không bao giờ để cho chúng ta phải thiếu những gì chính đáng và cần thiết. Và nếu có thiếu chăng nữa, thì ơn lành của Ngài cũng sẽ bù lại. Vậy hãy để cho Chúa hành động và hướng dẫn dòng đời chúng ta.

Với hai thái độ trên, chúng ta có thể mỉm cười và cảm tạ Chúa giữa những đau khổ và thử thách mình phải gánh chịu.

  


 

15. Sợ hãi

Khi đến thăm một trại cùi, ông Raoul Follereau tiến đến bên cạnh một cô gái phong cùi và chìa tay ra bắt. Cử chỉ này khiến thiếu nữ bở ngỡ, và cô không dám đưa tay ra đáp lễ.

Thấy ông Raoul ngỡ ngàng, vị giám đốc trại phong bèn giải thích:

- Thưa ông, qui luật của trại chúng tôi không cho phép bệnh nhân bắt tay khách, vì nhiều người sợ lây bệnh.

- Cám ơn ông giám đốc. Nhưng qui luật trại chỉ cấm bệnh nhân bắt tay khách, chứ đâu cấm khách hôn bệnh nhân?

Vừa nói xong, ông Raoul liền tiến đến ôm hôn người cùi. Mọi người sững sờ trước cử chỉ đầy yêu thương và thân thiện ấy. Phút chốc, cả đám người cùi nhào đến ôm lấy ông. Và một giọng nói ngẹn ngào thốt lên:

- Hôm nay chúng tôi cảm thấy mình thực sự là con người.

Thánh Gioan viết: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi”.

Vâng, chính tình yêu hoàn hảo dành cho những người phong cùi bất hạnh đã khiến ông Raoul Follereau không một chút sợ hãi vi trùng Hansen ghê rợn, không mảy may kinh khiếp máu mủ hôi tanh của bệnh nhân phong cùi.

Chính tình yêu hoàn hảo là tình yêu đã dẫn Đức Giêsu đến chân thập giá.

Chính tình yêu hoàn hảo đã thúc đẩy các tông đồ can đảm chịu bách hại và bình thản bước tới cái chết.

Chỉ trong một đoạn ngắn của Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã nhắc lại ba lần câu: “Anh em đừng sợ”. Con người có muôn vàn nỗi sợ; sợ bệnh tật, sợ già nua, sợ chết chóc. Sợ tai họa, sợ chiến tranh, sợ nghèo đói. Sợ bóng tối, sợ khổ đau, sợ ngu dốt… Danh sách các nỗi sợ của chúng ta còn rất dài, nhưng xem xét kỹ đa số đều là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó không có thật, nó chưa xảy ra, và rất nhiều khi chẳng bao giờ xảy ra. Nếu đem phơi trần các nỗi sợ hãi, có khi chúng ta phải phá lên cười... Không ít người để cho nỗi sợ hãi biến các buổi bình minh tươi sáng, an bình thành những chiều hoàng hôn ảm đạm, buồn thảm!

“Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi”. Một khi đã yêu Chúa rồi, chúng ta sẽ can đảm rao giảng lời Chúa, chúng ta chẳng còn sợ “những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Một khi đã yêu anh em rồi, chúng ta chẳng còn sợ ai đố kỵ, ghen ghét, hận thù; chẳng còn ghê tởm, kinh hãi những kẻ thấp kém, đốn mạt, hung hăng. Chính tình yêu là khí giới xua đuổi mọi sợ hãi đang dằn vặt con người, cho dù là cái chết. Vì chính tình yêu của Thiên Chúa sẽ dẫn đưa chúng ta từ đêm dài tăm tối của tử thần đến bình minh sáng lạn của đời sống mới.

Nếu Thiên Chúa là đấng nhân ái đã lấy tình yêu rộng lớn của Người mà ôm ấp nhân loại vào lòng thì chúng ta hãy mạnh dạn mà đặt trọn niềm tin nơi Người. Thật vậy, hôm nay Đức Giêsu khẳng định: “Ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quí giá hơn muôn vàn chim sẻ”.

Nếu Thiên Chúa là đấng độc nhất vĩnh cửu, đã dùng sự khôn ngoan mà hướng dẫn, dùng sức mạnh mà bảo vệ, dùng tình yêu mà giữ gìn con người, thì chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không tin cậy phó thác nơi Người.

Nếu Thiên Chúa là tình yêu, Người đã nâng đỡ chúng ta trên mọi nẻo đường, và luôn sẵn sàng ban cho chúng ta muôn vàn ân huệ trong mỗi thăng trầm của cuộc sống, thì chúng ta còn lý do gì để bi quan và sợ hãi.

Chính đức tin thắng vượt sợ hãi, đức tin là con đê vững chắc để chống lại những đợt sóng dữ dội là các nỗi sợ hãi. Đức tin đem lại sự an bình nội tâm để đối phó với căng thẳng và gánh nặng của cuộc đời. Đức tin biến cuồng phong thành gió mát, thất vọng thành hy vọng.