1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 2. Sự sống mới- hiện diện mới. ĐTGM. Ngô quang Kiệt 4. “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” 11. Thầy ở cùng anh em mọi ngày
1. Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất 2. Lạy Chúa, đây là tất cả cuộc sống của con 7. Chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển- Cao tấn Tĩnh
LỄ CHÚA THĂNG THIÊN1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà LạtHIỆN RA TẠI GALILÊ VÀ BAN SỨ MỆNH PHỔ QUÁT GIẢI THÍCH BẢN VĂN - 11 tông đồ: Ta biết Đức Giêsu có tất cả 12 tông đồ. Nhưng trong biến cố thụ nạn, Giuđa đã hư mất và sau đó đã tự vẫn; các tông đồ kia thì chạy trốn tán loạn. Bây giờ, trước lúc về trời, Đức Giêsu đã tập họp số còn lại được 11 người. Họ là hình ảnh của Giáo Hội. Giáo Hội là những người được Chúa tập họp lại, đúng ý nghĩa của chữ Hy Lạp Ekklêsia. - Xứ Galilêa: Địa điểm tập họp sao không phải là Giêrusalem, nơi từ trước tới giờ vẫn được coi là trung tâm của niềm tin? mà lại là Galilêa là vùng có nhiều người lương? Hẳn là Đức Giêsu có chủ ý: Giáo Hội theo quan điểm của Matthêu phải là Giáo Hội truyền giáo, Giáo Hội của thế giới. - Lên núi: Matthêu không quan tâm đến vị trí địa dư chính xác cho bằng quan tâm đến ý nghĩa thần học của vị trí ấy. Vì thế đừng mất công tìm hiểu xem "núi" này là núi gì. Ngày xưa Môisen đã gặp Thiên Chúa trên núi; rồi Êlia cũng đi tìm gặp Thiên Chúa trên núi; Đức Giêsu cũng biến hình trên núi; Hiến Chương Nước Trời cũng được Đức Giêsu công bố trên núi. Các dữ kiện Thánh Kinh trên cho thấy "núi" là nơi Thiên Chúa công bố luật. Vậy cũng như ngày xưa Thiên Chúa gặp Môisen "trên núi" để ban Luật cho dân Israel, thì nay Đức Giêsu cũng hẹn gặp 11 tông đồ trên núi để ban Luật mới cho Giáo Hội, Israel mới. - Thờ lạy: Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng đáng thờ lạy (xem Mt 4,10 trích Đnl 6,13). Vậy khi các tông đồ thờ lạy Đức Giêsu phục sinh thì có nghĩa là các ông nhìn nhận Ngài là Thiên Chúa. - Vẫn còn nghi nan: Giáo Hội mà Đức Giêsu tập họp tuy là Giáo Hội đã tin Ngài là Thiên Chúa nên đã "thờ lạy" Ngài, nhưng đức tin vẫn còn yếu kém, vẫn là "những kẻ hèn tin" (xem 6,30; 8,26; 14,31; 16,18). - Đức Giêsu lại gần: Nếu dịch thật đúng, phải là "Đức Giêsu đến với họ". Nếu như Matthêu cố tình dùng động từ "đến" thì ngụ ý của Matthêu là Đức Giêsu thực hiện đúng tước hiệu mà Cựu Ước vẫn gán cho Đấng Messia, "Đấng đang đến" (Celui qui vient) (xem Đaniel 7,13; Tv 118,26; Mt 21,9; 23,39). Trước tòa án xét xử Ngài, chính Đức Giêsu đã xưng mình bằng tước hiệu đó (Mt 26, 54). - Được mọi quyền: Trong Đaniel 7,14 "Con Người" (Đấng Messia) sẽ được Thiên Chúa ban cho mọi quyền. Như vậy, ở đây Đức Giêsu tự giới thiệu mình chính là Con Người Messia. - Vậy các con hãy đi: Đức Giêsu sai các tông đồ (Giáo Hội) đi truyền giáo. Nên chú ý rằng ở chương 10, Đức Giêsu cũng đã sai như thế, nhưng các ông chưa đi, khi đó chính Chúa Giêsu đi và các ông đi theo. Bây giờ lúc Đức Giêsu sắp về trời rồi, thì chính thức tới lúc Giáo Hội phải ra đi truyền giáo. - Ở khắp muôn dân: Tính đại đồng của Giáo Hội. So sánh với 10,5 ("Đừng vào nhà lương dân ....."), ta thấy câu nói này khó mà tưởng tượng nổi ngay buổi bình minh của Phục sinh. Sách Tông đồ Công vụ cho thấy các tông đồ đã tốn hàng chục năm trời mới mở được chân trời hướng về phía lương dân, và mãi 20 năm sau, công đồng Giêrusalem mới quyết định hướng truyền giáo ấy. Cho nên câu nói này không phải là câu nói của Đức Giêsu lúc ấy, mà đúng hơn là câu nói của Đức Giêsu sống trong Giáo Hội sau công đồng Giêrusalem (TđCv 15,5-12). - Thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần: Giáo đoàn Matthêu đã có một nề nếp phụng vụ đàng hoàng với phép Rửa nhân danh Ba Ngôi. Lúc ban đầu người ta chỉ biết làm phép rửa nhân danh Đức Giêsu. Các thư của Phaolô cũng cho thấy những bước dò tìm chậm chạp của niềm tin vào Ba Ngôi. - Dạy bảo người ta: Matthêu tỏ ra quan tâm đến "mục vụ trí năng": phải hiểu những gì mình tin (Mt 18,15-18), cho nên Matthêu nhấn mạnh lời Đức Giêsu dặn Giáo Hội phải "dạy bảo". - Thầy ở với các con: Chỗ dựa và nơi an toàn duy nhất của Giáo Hội là Đức Giêsu. Ở đây Ngài tự xưng mình là Emmanuel. Lưu ý: khi hiện ra cho Giuse, Thiên sứ đã bảo tên đứa con của Maria sẽ là Emmanuel, vậy mà khi đứa trẻ ấy sinh ra thì Giuse lại đặt tên là... Giêsu! Bây giờ Đức Giêsu đã phục sinh mới thực là Emmanuel, Ngài đã sống lại rồi và sẽ mãi mãi ở với Giáo Hội "hết mọi ngày tới khi tận thế". CHÚ GIẢI CHI TIẾT “Đi Galilê": Ở đây tầm quan trọng của Galilê có tính cách thần học: Đấng Phục sinh gặp lại các môn đồ mình tại địa điểm hoạt động chủ yếu của Người trên trần gian (nhất là theo Matthêu và Marcô); điều đó giả thiết có sự liên tục giữa Chúa Kitô tại thế với Chúa Kitô phục sinh, sự liên tục mà câu 20a nhấn mạnh cách minh nhiên ("dạy họ giữ những gì Thầy đã truyền cho các con"). Cuộc Phục sinh ban cho lời vị Thầy xứ Galilê một uy quyền vô song; thay vì làm các môn đồ quên lời Chúa Giêsu Nagiaret để thế bằng thứ kinh nghiệm cao hơn về một cách thức hiện diện mới, cuộc Phục sinh thúc họ tuân giữ những gì Người đã truyền cho. Nếu thánh sử đã chẳng có ý niệm về mối tương quan giữa Chúa Giêsu-giảng dạy với Chúa Kitô-phục sinh ấy, có lẽ ông đã không mất công thu thập vào tác phẩm của mình tất cả những lời Chúa Giêsu mà ông đã "giữ" lại cho giáo đoàn của ông. Tóm lại, ở đây Matthêu muốn nhấn mạnh sự đồng nhất giữa "Chúa Giêsu của lịch sử” và "Chúa Giêsu của niềm tin". “Mọi quyền năng đã được ban cho Ta": Công thức này rõ ràng ám chỉ đến những gì nói về Con Người trong Đanien 7,14: "Vương quốc, vinh dự đã được ban cho Người, và mọi dân nước, ngôn ngữ sẽ phục vụ Người". Chúa Giêsu hoàn tất lời Người đã hứa trước Công nghị (26,64): "Từ đây các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Quyền năng". Đấng đã ban một uy quyền như thế cho Chúa Giêsu, đương nhiên phải là Chúa Cha (“đã được ban": thể thụ động chỉ hoạt động Thiên Chúa: passif divin). “Dạy họ tuân giữ": dịch sát chữ; "dạy dỗ họ" (didaschontes). Sự nghiệp của Chúa Giêsu đã được Matthêu trình bày như một việc dạy dỗ, giảng thuyết, chữa lành bệnh tật (4,23 và 9,35). Chúa Gỉêsu đã truyền cho các môn đồ chữa lành bệnh tật trong 10, 1.8 và rao giảng trong 10,7; lệnh dạy dỗ được để dành cho đến cuối Tin Mừng, có lẽ vì Matthêu nghĩ rằng phận vụ dạy dỗ là quan trọng nhất trong Giáo Hội. “Những gì Thầy đã truyền cho các con”: Mấy chữ này phát xuất trực tiếp từ Cựu Ước (Xh 7,2; 29,35; Đnl 1, 41; 4, 2 ...); chúng tương ứng với thành ngữ của Gioan: "giữ lệnh truyền của Người" (Ga 14, 15; 15, 10; 1 Ga 3, 22tt . . . ). Trong Matthêu, từ “giảng dạy" mang một màu sắc luân lý; không phải là dạy dỗ những bí mật kỳ diệu của một thứ kiến thức bí truyền như người Essêni, cũng chẳng phải là dạy người ta lý luận đúng về sự vật và về chính mình, nhưng tiên vàn là rao giảng, loan truyền, làm cho người ta nhận biết Chúa Kitô và lời Người giải thích thánh ý Chúa Cha. Sứ mệnh Kitô hữu do đó không nhắm mục đích cho người ta "biết" (một sự hiểu biết thuần lý) một Chúa Kitô hoàn toàn thiêng liêng, nhưng là một Chúa Kitô như ta thấy trong Tin Mừng, một Chúa Kitô đang mời gọi mọi người "nghe theo" lời Người giải thích luật Thiên Chúa. “Thầy ở với các con": Đoạn kết của Tin Mừng đối đáp lại phần mở. Nơi phần mở, Chúa Giêsu được trình bày như là Đấng có tên là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (1,23) từ lúc mới sinh. Đúng là một lối đóng khung vĩ đại, phô bày tất cả chiều kích phổ quát của con người Chúa Giêsu trên toàn lịch sử nhãn loại, đồng thời đánh dấu việc Người nhập thể vào thời gian và không gian. KẾT LUẬN Công cuộc vĩ đại: mang ánh sáng đến cho mọi dân nước không thể là công cuộc của con người. Tin Mừng, mỗi lần đề cập đến sự yếu tin của các sứ đồ đã cho thấy họ bất lực đến chừng nào. Nhưng trong công cuộc trên, các môn đồ không bị bỏ rơi một mình với các phương tiện yếu đuối của riêng họ. Chính Chúa đỡ nâng, cứu giúp họ: “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Cái nhìn nhắm rất xa, đến những thế kỷ tương lai của một lịch sử dài đang bắt đầu. Chân trời nằm nơi cái biên giới mà thời hiện tại sẽ được thay bằng một thời mới. Thời cánh chung trước khi tái giáng cách hữu hình 'để phán xét’, Con Người sẽ ở với môn đồ mình để nâng đỡ hoạt động của họ. Người đang hiện diện và hoạt động giữa họ cách thiêng liêng, chẳng những khi họ tụ họp quanh bàn tiệc, tưởng niệm cái chết của Người, và ăn uống thần lương, nhưng luôn mãi và khắp nơi. Cộng đoàn cứu độ mới không chỉ tuyên xưng Chúa trong khắp vũ trụ, song chính Chúa đang hiện diện giữa cộng đoàn. Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 1) Ngay từ đầu bài Tin Mừng hôm nay ta nghe nói đến 11 môn đồ chứ không phải 12 như thường lệ. Như vậy ta thấy ngay trong ngày Thăng Thiên, lúc Chúa Giêsu xuất hiện nơi chóp đỉnh vinh quang của Người và lúc các môn đồ nhận lãnh ủy nhiệm trọng đại nhất, cái hạt nhân đầu tiên của Giáo Hội vẫn mang trong mình thương tích gây nên do sự bội phản của Giuđa. Sẽ luôn như thế, cho đến tận cùng thời gian. Dù thánh thiện đến đâu, Giáo Hội cũng là một dân tội lỗi, là Hôn Thê đầy tì vết mà Phu Quân chỉ sẽ làm cho hoàn toàn thanh khiết trong ngày thế mạt (Kh 19, 7-8; 21,2). 2) Chúa Giêsu muốn gặp các môn đồ mình tại Galilê để cho họ thấy: dù đã trở nên Chúa vinh quang, Người vẫn là Giêsu Nagiaret mà họ đã thân quen. Chúa Giêsu luôn như thế, chỉ tình trạng của Người thay đổi thôi. Không có hai Giêsu: Giêsu thợ mộc (Mc 6,3) và Chúa Kitô hiển vinh đã lên trời. Chỉ có một Chúa Giêsu, Giêsu Kitô, Giêsu-Kitô nhân-thần. Vận mạng chúng ta giống vận mạng của Chúa Giêsu, Đầu chúng ta. Chúng ta cũng chỉ có một cuộc sống gồm hai tình trạng: tình trạng trần thế và tình trạng vinh hiển mai sau. Cái thống nhất hai tình trạng thành một chính là tình yêu. Trên trời, chúng ta vẫn tiếp tục làm điều chúng ta đã tập lúc còn tại thế là Yêu. Và nếu ngay bây giờ, trong Galilê thường nhật của chúng ta, chúng ta đã là môn đồ của Chúa Giêsu-thợ mộc, thì sau này chúng ta mới có thể hy vọng được thống trị với Chúa Kitô vinh hiển. 3) Đấng lên trời luôn luôn là chính Đấng đến với chúng ta, gặp chúng ta trong cuộc sống Kitô hữu của mọi ngày. Sở dĩ Người đã lên trời cách hữu hình và thôi tỏ mình cho các môn đồ trong hình hài thể xác, là để từ đây luôn hiện diện từng giây phút cách vô hình với họ. Nhờ trở nên thân xác vinh hiển, Chúa Giêsu không còn bị giới hạn vào một điểm không gian và thời gian. Từ đây Người có thể gặp chúng ta, tất cả và mỗi người, bất cứ giờ nào, nơi đâu. Nhờ Phục sinh và Thăng thiên, Chúa Giêsu hiện diện như vậy với mọi người trong lịch sử nhân loại. Chúng ta chỉ cần lợi dụng sự hiện diện vô hình nhưng thực sự ấy của Chúa Giêsu để sống với Người trong mọi giây phút đời ta: Và Người vẫn đến với ta, dù ta hoài nghi, dù ta chểnh mảng phục vụ Người; dù ta tội lỗi đến đâu, Người biết ta vẫn có thiện chí trong đáy tâm hồn, vẫn ao ước phụng sự Người, vẫn muốn sám hối đổi đời. Dù ta bất tín bất trung, người vẫn mời gọi ta trở nên sứ giả Tin Mừng trong môi trường sống. 4) "Hãy thâu nạp môn đồ khắp muôn dân": Không phải chỉ có vấn đề học giáo lý như học bản cửu chương, phương pháp gia chánh hay cách sử dụng máy móc ... Điều chủ yếu là đi vào trong mối tương giao thân mật và cá nhân với Chúa Kitô, là thực sự trở nên môn đồ, anh em (28, 10), bạn hữu của Người (Ga 15, 15). Và con đường tốt nhất để đi vào tình thân ái ấy với Chúa Giêsu là bắt chước Người, là trở nên như Người: hoàn toàn tận hiến cho Chúa Cha và nhân loại, là yêu mến. Chính lúc yêu mến mà ta hoàn tất điều Chúa Giêsu truyền dạy, vì tất cả giáo huấn của Người chỉ thu gọn vào điểm này: "Giới luật của Thầy là các con hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 14). 2. Sự sống mới- hiện diện mới. ĐTGM. Ngô quang KiệtI. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 28,16-20 II. TẤM BÁNH CHIA SẺ Có lẽ nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: sao trong bài Phúc Âm lễ Thăng Thiên hôm nay, chẳng thấy nói gì đến trời, đến bay lên? Thắc mắc như vậy là hợp lý. Ta vẫn quen gọi hôm nay là lễ Chúa Giêsu lên trời. Và theo quan niệm bình dân, không gian chia làm ba tầng. Tầng dưới đất là âm ty, địa ngục, dành cho người chết. Tầng mặt đất mà ta đang sống là dương gian. Và tầng trên mặt đất là trời. Chúa Giêsu đã sống trên mặt đất, khi chết Người bị chôn trong lòng đất, đi vào cõi âm ty. Sống lại, Người trở lại mặt đất. Và hôm nay Người được đưa lên trời, bay lên đám mây, ngự bên hữu Chúa Cha. Đó chỉ là một lối diễn tả bình dân. Thực ra, trời đâu phải là một nơi chốn. Con người có thân xác, bị giới hạn trong không gian, cần một nơi chốn để cư ngụ. Thiên Chúa không bị giới hạn trong không gian thì đâu còn bên tả bên hữu gì nữa. Vậy, tại sao ta nói Chúa Giêsu lên trời? Lên trời ở đây có ý nghĩa gì? Trời không phải là một nơi chốn, nhưng là một trạng thái, trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa sống chan hoà yêu thương. Sự sống của Thiên chúa không giống sự sống của cây cỏ. Cũng không giống như sự sống của động vật hay loài người. Đó là sự sống thần linh. Sự sống vượt không gian, vượt thời gian, không còn bị lệ thuộc vào điều kiện vật chất. Sự sống không còn bị hao hụt, giảm thiểu bởi đau đớn, bệnh tật, đói khát. Đó là sự sống viên mãn tràn đầy. Được tham dự vào sự sống ấy là một hạnh phúc vô song. Đó chính là thiên đường. Lên trời hay lên thiên đàng như vậy không phải là thay đổi nơi chốn nhưng là thay đổi sự sống. Đó là chuyển đổi sự sống hữu hạn của con người sang sự sống vô hạn của Thiên Chúa. Đó là rời bỏ thế giới hữu hạn của loài người để bước vào thế giới vô hạn của Thiên Chúa. Đức Giêsu lên trời có nghĩa là Đức Giêsu về với Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa, sống cuộc sống Thiên Chúa. Lên trời không phải lên theo chiều cao trong không gian vật lý. Nhưng là lên theo cấp độ sự sống, là sống cao hơn, mạnh mẽ hơn, tràn đầy hơn. Chính vì thế, Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới, để đi vào xa vắng mịt mù. Nhưng Người không đi vào một hiện hữu mới để hiện diện mãnh liệt hơn. Không còn bị kềm chế trong không gian, giờ đây Người hiện diện ở khắp mọi nơi. Không còn bị lệ thuộc vào một thân xác, giờ đây Người có thể hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau. Người ở đó trong những trang Sách Thánh đầy lời lẽ nhiệm mầu để dạy cho ta biết con đường về với Thiên Chúa. Người ở đó trong bí tích Thánh Thể huyền diệu để nuôi linh hồn ta, để kết hợp với ta, để giúp ta đủ sức mạnh đi hết con đường trần gian khổ. Người ở đó trong những người anh em đồng tâm nhất trí cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha. Người ở đó trong những anh em bé nhỏ nghèo hèn đang chờ chúng ta mở rộng trái tim, mở rộng vòng tay nhân ái. Người ở đó trong những người hiến thân phục vụ anh em, trong những người hy sinh bản thân mình cho công bình, cho chân lý, cho một thế giới tươi đẹp hơn. Người có mặt trên khắp mọi nơi nẻo đường, trong tất cả mọi cảnh ngộ của cuộc đời. Người có mặt trong mọi thời gian đúng như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Bây giờ thì chúng ta đã hiểu: Trời không phải là một nơi chốn xác định, là một không gian vật lý có thể cân đo đong đếm. Nhưng trời là Thiên đàng, là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, là chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Bây giờ chúng ta đã hiểu lên trời không phải là bay bổng lên không gian. Nhưng là chuyển đổi cấp độ sự sống, hay là bước vào sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa. Bây giờ thì chúng ta đã hiểu, lên trời không phải là vắng mặt, là xa vắng nhưng lại là một hiện diện vô cùng phong phú, vô cùng mãnh liệt, ở bên cạnh tất cả mọi người, ở mọi nơi và ở mọi thời. Chúa Giêsu là người mở đường cho nhân loại. Người tiến về một thế giới sự sống viên mãn, cao cả để cho ta thêm niềm tin tưởng rằng: vận mệnh của Người cũng sẽ là vận mệnh của ta. Ta cũng sẽ được cùng Người bước vào sự sống thần linh vĩnh cửu, miễn là ta đi vào con đường của Người: con đường khiêm nhường phục vụ. Miễn là ta vâng giữ lời Người truyền dạy: Hãy yêu tha nhân như chính bản thân mình. Lạy Đức Giêsu, xin hãy nâng lòng con lên khao khát những sự trên trời. Amen. III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU 1) Bạn có cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày? 2) Bạn làm cách nào để mọi người cảm thấy Chúa Giêsu đang hiện diện mãnh liệt trong thế giới? 3) Bạn làm gì để xây dựng Nước Trời? 3. Niềm hy vọng Nước TrờiCó người kia nhặt được trứng đại bàng, đem về cho ấp chung với trứng gà. Đại bàng con nở ra cùng với đàn gà con. Ngày ngày đại bàng con theo gà mẹ bới đất tìm sâu như một chú gà con thực thụ. Một hôm đang bới giun, đại bàng con kinh hãi khi thấy một con chim khổng lồ bay lượn trên không. Đôi cánh hùng vĩ giang rộng như cánh buồm. Đường bay lượn uy dũng mà đẹp đẽ. Nó hỏi các anh chị em gà: “Con chim gì mà ghê gớm thế nhỉ”? Gà mẹ trả lời: “Chim đại bàng đấy. Đại bàng thuộc về trời, còn chúng ta thuộc về đất. Đại bàng bay lượn trên mây, còn chúng ta chỉ biết bới đất tìm giun thôi”. Đại bàng con không hề biết nó thuộc dòng giống đại bàng. Suốt đời nó sống như loài gà, và sẽ chết như gà. Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng không phải thế. Hôm nay, Đức Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta. Việc Đức Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài đất còn có trời. Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la. Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu. Đức Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta. Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người. Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy”. Đức Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người. Người là đầu. Chúng ta là chi thể. Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy. Đức Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ. Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên. Tuy nhiên Đức Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian. Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người. Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Cha đối với mọi người. Hôm nay, trước khi về trời, Đức Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta. Ta phải tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu loan Tin Mừng yêu thương cho mọi người. Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người. Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi. Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Niềm hy vọng đó làm cho cuộc sống của có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo qui luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mạng Chúa trao phó. Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời. Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa. Amen. Gợi ý chia sẻ 1) Ham hố tiền bạc, danh vọng, chức quyền, khoái lạc làm đời sống ta nặng nề, không vươn lên cõi tâm linh được. Bạn thấy mình bị nặng nề về ham mê nào? 2) Đời sống là một nỗ lực bay lên cao. Có khi nào bạn cảm thấy mình thoát khỏi những ràng buộc tầm thường để nhẹ nhàng bay lên không? 3) Đời sống là một bổn phận phải chu toàn. Bạn nghĩ gì về điều này? 4. “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI 1. Kết thúc mà lại khởi đầu Phụng vụ bài đọc năm A về lễ Thăng Thiên mời gọi ta suy niệm những câu cuối cùng của Phúc Âm thứ nhất. Đoạn văn kết thúc Phúc Âm Matthêu này đặc biệt gợi nhớ đến hai chương đầu của Phúc Âm. - Thực vậy, khi viết “Phúc Âm về thời niên thiếu”, thánh Matthêu muốn mời gọi ta coi việc Đức Giêsu giáng sinh tại Belem, thành vua Đavít là ứng nghiệm lời tiên tri về một Đấng “Emmanuel": Đấng “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7), còn các Đạo sĩ đến từ phương Đông tiêu biểu cho những người tiên phong của Dân Ngoại đang đi đến niềm tin vào Đức Kitô: “Họ THẤY Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền SẤP MÌNH THỜ LẠY NGƯỜI”. - Ở đoạn kết thúc, rõ ràng là thánh sử, đã lấy lại cũng những lời lẽ trên để thuật lại cuộc gặp gỡ lần cuối cùng của Đấng Phục Sinh với các môn đệ của Người ở Galilê: “Khi THẤY Người, các ông SẤP MÌNH THỜ LẠY Người”. Rồi Đức Giêsu trao cho các ông sứ mệnh đến với “MUÔN DÂN” và long trọng tuyên bố rằng: “THẦY Ở CÙNG CÁC CON” mọi ngày cho đến tận thế”. J. Radermakers chú giải: “Ở đây chúng ta thấy con người Đức Giêsu dầu mang dấu vết của một con người được sinh ra ở một thời điểm và sinh sống ở một nơi chốn nhất định, vẫn có cả một sự bao trùm lớn lao, trải rộng đến mọi chiều kích của toàn thể lịch sử nhân loại” ("Au fie de l'Evangile selon saint Mathieu, Viện Nghiên cứu Thần học, Bruxelles, 1974, trang 362). 2. Khi hồi kết thúc loan báo một khởi sự mới Sau Phục sinh, Đức Giêsu hẹn gặp lại các môn đệ Người, không phải ở Giêrusalem, thủ đô và là thành thánh như trong Phúc Âm Luca, mà là ở “Galilê” miền đất vẫn bị mọi người nhìn bằng nửa con mắt, là “nơi qui tụ dân” là biểu tượng của thế giới ngoại giáo (Mt 4,12-23). Giáo Hội... phải rời bỏ Giêrusalem mà về mặt địa lý cho tới lúc ấy vẫn được coi là trung tâm đức tin, nơi có Thiên Chúa hiện diện, để đi tới miền vốn được coi là “Galilê của dân ngoại”. Một Giáo Hội được định nghĩa ngay là một “Giáo Hội vì mọi người": đó chính là sứ mệnh của Giáo Hội, điều mà không bao lâu sau Đức Giêsu sẽ nói rõ ràng” (Cahiers - Evangiles” số 9, trang 6). Nơi Đức Giêsu truyền cho các môn đệ đi tới, là một “ngọn núi” vốn là nơi rất thích hợp cho việc Chúa mạc khải. Một lần nữa ở dân cũng như trải dài suốt Phúc Âm của Ngài, thánh Matthêu đều trình bày Đức Giêsu như một Môsê mới ban Luật của Người cho dân tộc mới của Thiên Chúa. Cl. Tassin chú giải: “Như trong một cuốn phim, người ta lần lượt thấy xuất hiện những ngọn núi: núi quỷ cám dỗ khi chỉ cho Đức Giêsu xem thấy các nước trần gian, núi Bát Phúc, nơi Thầy công bố hiến chương Nước Trời, và Núi Hiển Dung nơi vinh quang Con Người được tỏ hiện; nổi bật hơn cả vẫn là cảnh âm u tịch mịch của núi Nê-bô, nơi Môsê phải nói lời giã biệt trước khi dân tiến vào Đất Hứa” ("Phúc Âm thánh Matthêu, NXB. Centurion, trang 303). - Khi thấy Đức Giêsu, các môn đệ liền “sấp mình thờ lạy Người” trong một cử chỉ vừa tôn kính theo đạo giáo, mà cũng có tính cách phụng thờ, y như các đạo sĩ đã làm khi thấy hài nhi với thân mẫu là bà Maria (2,2.8.11); cũng như các môn đệ đã bày tỏ khi ở trong thuyền lúc sóng to gió cả, và đó cũng là cử chỉ của người phụ nữ xứ Canaan vậy (15,25). Nhưng lòng tôn thờ của các ông còn vương vấn “sự hoài nghi”, mối hoài nghi này, theo như J. Radermakers nhận xét chí lý, chính là người bạn đồng hành không thể tách biệt của một lòng tin đang lần bước”. - Đấng tỏ mình ra cho các môn đệ ("Đức Giêsu đến gần"), Đấng mà các ông sấp mình thờ lạy ấy, chính là Đức Chúa hiển vinh. Một khi đã được vinh thăng, được trao ban quyền tối cao xét xử toàn cầu ("Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất") thì giờ đây Người có lý khi sai các môn đệ của mình đi khắp thế giới để làm cho vương quyền ấy được thực hiện. Những lời Người ban bố cho họ đánh dấu sự khai trương một giai đoạn mới trong sứ mệnh của Người, sứ mệnh mà từ này trở đi Người sẽ vẫn tiếp tục nhờ Giáo Hội. + “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Suốt thời gian thừa hành sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã phải tự ý giới hạn hoạt động của Người đối với “các chiên lạc của nhà Israel”. Từ nay những biên giới ngăn cách do không gian và thời gian đều bị bãi bỏ vì Người có thể thực thi trọn vẹn sứ mệnh Người Tôi Tớ của Thiên Chúa đúng như Matthêu đã loan báo, khi mượn lời sấm của Isaia 42,1-4: “Và môn dân sẽ đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (Mt 12,18-21). Dân ngoại có mặt ngay từ buổi đầu của Phúc Âm thì cuối cùng vẫn thấy mình là những con người được Tin Mừng nhắm tới. Đức Giêsu trao phó cho Giáo Hội Người sứ mệnh truyền giáo khắp hoàn cầu này. Cl. Tassin còn muốn lưu ý ta rằng: “Điểm nhấn mạnh không ở tại động từ “Đi” hay ở tại sứ mệnh chinh phục địa lý, mà cốt ở việc mở ra cho hết mọi nhóm người không phân biệt một ai. Bởi lẽ Đức Giêsu đã được “trao toàn quyền” thì mọi người đều phải thần phục quyền bính của Người. Đối với Matthêu, truyền giáo là gì? Thưa là: những môn đệ làm cho những người khác trở thành môn đệ; là những người nam cũng như nữ cảm nghiệm sâu sắc rằng giáo huấn của Đức Giêsu biến đổi chính cuộc đời của họ, họ chia sẻ kinh nghiệm này với các người khác, dạy bảo cho những người ấy tuân giữ mọi giới luật của Đức Giêsu mà thực ra chỉ tóm gọn lại trong một luật là tình yêu” (O.C., trang 304). + “Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Truyền giáo không phải là tuyên truyền một ý thức hệ, dù là cao siêu tuyệt vời, mà là chủ trương không ngừng xây dựng một cộng đồng: cộng đồng của những con người nhờ chịu phép rửa mà muốn sống gắn bó mật thiết với nhau bởi cùng thuộc về một Thiên Chúa là “Cha, Con và Thánh Thần”. + “Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em”. Truyền giáo không thể chỉ thu gọn lại trong việc kêu gọi người ta trở lại rồi bỏ mặc đấy. Giáo Hội sẽ phải giúp đỡ những tân tòng ngày qua ngày sống hoà nhập với cuộc đời mới mà họ đã bước vào. J. Radermakers đưa ra nhận xét sau: “Chính Phúc Âm nhìn toàn bộ là một giáo huấn về cuộc sống, được hiểu như dấu chỉ của bí tích trong phép rửa tội và được triển khai cách hài hoà trong cuộc sống đời thường; đời sống luân lý trong cộng đồng Kitô hữu chẳng qua là sống Tin Mừng bằng việc làm cụ thể” (O.C., trang 365). + “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Đây là lời tuyên bố cuối cùng và cũng là điểm cao nhất của lời Chúa phán vì là lời hứa bảo đảm một sự hiện diện tích cực và hữu hiệu vô bờ bến. Cuối Phúc Âm của mình, thánh Matthêu mới cao rao rằng lời thiên thần hứa với Giuse đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Giêsu: “Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. J. Potin kết luận: “Đức Giêsu không xa lìa Giáo Hội của Người. Mặc dầu ta không trông thấy Người, Người vẫn hiện diện ở mọi nơi mà Giáo Hội sẽ lan rộng tới, cho đến tận thế. Theo thánh Matthêu, Đức Giêsu không biến mất lên trời. Nhưng lời nói cuối cùng của Người cũng là câu sau chót của Phúc Âm, hứa rằng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Vả lại trước đây há chăng Người đã chẳng tuyên bố: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Đấng Phục Sinh không ở lại trên núi Galilê, Người đi theo các tông đồ của Người trên mọi nẻo đường trần gian” ("Jésus, l'histoire vraie” NXB Centurion, 1994, trang 516). II. BÀI ĐỌC THÊM: 1. “Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở (Đức Cha L. Daloz, trong “Le Règne de Dieu s'est approché”). “Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một màn khai mở: đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu. Phải suy niệm, và nhìn ngắm mới thấy rõ việc truyền giáo là con tim đang đập trong lồng ngực Giáo Hội có tác dụng kích thích Giáo Hội. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các tông đồ, và qua các ông, cho chung tất cả mọi môn đệ, Đức Giêsu thành người sống đương thời với chúng ta: Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế... Việc gặp gỡ Mười Một Tông đồ là điều có liên hệ chặt chẽ với mầu nhiệm Phục sinh. Trước khi đi vào cuộc khổ nạn Người đã báo trước: Sau khi sống lại, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em. Sau khi Phục sinh, Người nói lại sứ điệp ấy với các phụ nữ đứng bên mồ và triệu tập các môn đệ: “Các bà hãy về báo cho anh em Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó”. Vì nhờ mầu nhiệm Phục sinh của Đức Kitô, sự phục sinh nhân loại mới có thể được thực hiện. Khi sai các môn đệ... Đức Giêsu phục sinh là cội nguồn của việc truyền giáo. Quyền năng Thiên Chúa đã cho Người sống lại trở nên quyền năng cứu độ cho mọi dân tộc. Chúng ta nhận biết quyền năng ấy, và chỉ có lòng tin mới tiếp nhận được thôi (cũng như 11 tông đồ) các ông gặp Đức Giêsu trên núi, là nơi vốn xảy ra những cuộc hiển linh của Chúa, như ở núi Sinai hay ở núi Hiển Dung. Thái độ của các tông đồ lúc ấy diễn tả lòng tin của ta: tôn thờ mà lại do dự: khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Cảnh tượng thật long trọng, giống như một cuộc hành lễ, chứ không còn là buổi gặp gỡ thân tình như những lần hiện ra trước đây. Là vì lần gặp gỡ này xác định nền tảng, hình thức và chân trời cho sứ mệnh truyền giáo vậy. Nền tảng ấy là quyền hành mà Đức Giêsu nhận được: Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Không phải là quyền của kẻ có sức mạnh trong tay và thống trị, mà là ách êm ái và gánh nhẹ nhàng. Không phải là quyền chiếm đoạt như Tên Cám dỗ đã đề nghị cho Người. Nhưng là quyền của tình yêu không để bị khuất phục. Đó là sức mạnh của sự phục sinh được khơi nguồn trong Đức Giêsu và nhờ Người sức mạnh ấy làm thay đổi cả thế giới. Những nỗ lực truyền giáo, tinh thần can đảm để không ngừng thực thi sứ mệnh, tất cả đều nhờ sức mạnh ấy mà tìm được chỗ dựa bảo đảm. Sức mạnh này không phải do ta khôn ngoan, tài khéo, tận tuỵ mà có được... anh em hãy đi! Đó là một lệnh truyền. Từ buổi đầu cho đến nay, lệnh sai đi này vẫn vang lên không ngừng, vẫn luôn luôn gợi ra những sáng kiến mới lạ, những cuộc lên đường mới, một đà tiến mới tới miền xa xăm hay rất gần mà chúng ta đều mắt thấy tai nghe qua suốt dòng lịch sử. Bởi lẽ chân trời truyền giáo là tất cả mọi quốc gia, và hạn kỳ là cho đến tận thế. Việc truyền giáo chẳng bao giờ cùng về mặt địa lý cũng như về lịch sử. Ta tham gia vào công việc này ngay ở nơi ta đang ở và thời đại ta đang sống. Mỗi người lãnh phần trách nhiệm của mình, nhưng mỗi người không phải chịu trách nhiệm về tất cả. Quan tâm thôi, không đủ; mà phải hành động. Mỗi người chúng ta được sai đến ở nơi mình đang ở; ta không thể chỉ là người hưởng ơn cứu độ, mà cũng còn là dụng cụ Chúa dùng để ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô đạt tới những kẻ khác, những người ta đang sống với, những người ta được sai đến với họ ở cận kề bên ta hay ở xa ta. Nhiệt tình do Đức Giêsu phục sinh ban cho vẫn có trong con tim của mọi cuộc đời Kitô hữu. Đời sống này trở nên suy nhược khi bóp nghẹt nhiệt tình này bằng lối sống vị kỷ, khép kín. Cần phải biết sống chia sẻ để khởi xơ cứng và chết. Cũng vậy, Giáo Hội không thể ở thể tĩnh. Giáo Hội được sai đi... Hình thức việc truyền giáo cũng được chỉ rõ ràng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Chúng ta nhận thấy có ba mặt: loan báo Tin Mừng để khơi dậy được những con người môn đệ, tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh bằng việc lãnh nhận phép Rửa và các bí tích, sống đời sống mới bằng cách thi hành các điều Chúa truyền. Truyền giáo là tất cả như thế đó. Không có ba yếu tố này, công việc ấy không đầy đủ, và chẳng một yếu tố nào trong ba làm nên được công chuyện bởi lẽ “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Quả thực, đây là một thách đố đặt ra cho Giáo Hội, vì rằng mọi dân tộc đều có quyền chia sẻ mầu nhiệm Phục sinh, đón nhận ơn cứu độ của Đức Giêsu để được biến đổi và trở nên mới. Như thế các dân tộc ấy cũng hội nhập vào mầu nhiệm sự sống Thiên Chúa: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Qua việc truyền giáo của các tông đồ, Đức Giêsu vẫn theo đuổi công việc Người đã khởi sự trong mầu nhiệm Phục sinh của Người; Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Ta còn sợ hãi gì nữa, một khi có Đức Giêsu phục sinh đang ở cùng chúng ta. 2. “Là dịp để ta canh tân lại quyết định làm môn đệ trung thành của Đức Kitô” “Célébrer” (Nguyện san của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ) số 258 trang 42. “Thiên Chúa vẫn luôn luôn là Emmanuel”, vẫn là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.Việc Người-lên-trời không hẳn là một sự lìa bỏ. Phải học hỏi để nhận ra điều này dầu không trông thấy Người như các môn đệ đã thấy xưa. Chúa lên trời nhắc nhở ta sống thân phận của một người tin và yêu: tin rằng Người vẫn đang có mặt, và thực hành yêu thương để làm cho Người được hiện diện. Lễ này phải là dịp để ta canh tân lại quyết định trở thành những môn đệ trung tín của Đức Kitô: những môn đệ vững tâm vì Người vẫn có mặt bên ta “mọi ngày”, những môn đệ sẵn sàng đáp lại tiếng gọi sai đi truyền giáo cho “muôn dân” của thời đại hôm nay”. 5. Ta ở với các ngươi mãi mãiChúng ta không có một chỉ dẫn nào về vị trí ngọn núi xứ Galilêa, nơi Chúa Giêsu hẹn các môn đệ. Bài tường thuật của thánh Matthêu được viết theo dàn bài thông thường của các cuộc hiện ra. Chúa Giêsu tỏ mình, Ngài đánh tan sự nghi ngờ, Ngài ban một sứ mạng cho các môn đệ. Bài Phúc Âm hôm nay bao phủ một sự phong phú ý nghĩa đặc biệt. Chúa Giêsu trao cho các môn đệ mệnh lệnh rao giảng Phúc Âm, uỷ thác cho các ông quyền làm phép rửa tội, Ngài hứa tiếp tục có mặt bên các ông. Chúa Giêsu còn hiện diện với Giáo Hội, thay mặt ở đây bởi mười một tông đồ, đặc biệt trong bí tích rửa tội và trong công cuộc truyền bá Phúc Âm. 1) Chúa Giêsu hiện diện trong phép rửa tội. Ta biết rằng người chịu phép rửa tội được tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông với sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Phép rửa tội đặc biệt là bí tích của sự kết hợp vượt qua với Đức Kitô, vì phép ấy cho ta đạt tới sự sống qua khỏi sự chết. Điều ấy chỉ thành sự thật nhờ tin vào Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ không biết gì cả về Ba Ngôi Thiên Chúa nếu không có Chúa Giêsu tỏ bày cho chúng ta. Đối với các tông đồ đã như thế, đối với chúng ta cũng như vậy. Chúa Giêsu còn hiện diện để dạy dỗ chúng ta bằng cách nào? Người hướng dẫn chúng ta đến phép rửa tội ra sao? Và sự hiện diện của Ngài tỏ ra đặc biệt gần gũi và tác động nơi linh hồn người chịu phép rửa tội như thế nào? Để trả lời những câu hỏi ấy cần viện đến sự kiện Giáo Hội và đến mầu nhiệm bên trong của đời sống Kitô hữu. Chúa Giêsu hiện diện để dạy dỗ người ta bởi Giáo Hội của Ngài. Chính Giáo Hội là điểm gặp gỡ giữa Đức Kitô và loài người và chính ở điểm gặp gỡ ấy nảy sinh đức tin. Do đó ta thấy tầm quan trọng của việc theo sát những vị có sứ mạng uỷ quyền giảng dạy trong Giáo Hội, những vị thừa kế các tông đồ. Mặt khác, qua ân sủng bí tích rửa tội, Đức Kitô tiếp tục nơi chúng ta công cuộc mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngược lại, lòng sẵn sàng tuân theo Chúa Thánh Thần và đón nhận Chúa Cha giúp ta tiến tới trong việc hiểu biết Chúa Con. Đây là một cái gì sống động không thể diễn tả bằng lời nói được. Đức tin vào Chúa Giêsu Kitô cho chúng ta cảm nhận được thực tại sống động của bí tích rửa tội. 2) Đức Kitô hiện diện trong công việc truyền bá Phúc Âm. Trước hết cần nhớ rằng, bổn phận truyền bá Phúc Âm thuộc mọi môn đệ của Đức Kitô, nghĩa là thuộc mọi người chịu phép rửa tội với những phương tiện riêng (bắt đầu bằng kinh nguyện). Chúa hiện diện nơi công việc của các tông đồ Ngài bằng hai cách chính. Trước hết Ngài hiện diện nơi công việc của người chiến sĩ Phúc Âm bằng sự hiện diện nơi chính người chiến sĩ. Như vậy có nghĩa là người chiến sĩ cần phải để tâm gặp gỡ riêng Chúa mình. Người môn đệ chỉ loan báo Đức Kitô cách hữu hiệu trong mức độ chính mình sống thân thiết bên trong và riêng biệt với Chúa. Sau đó hãy nhớ lời dạy quan trọng: nơi nào nhiều người tụ họp lại nhân danh Ta, có Ta ở giữa họ. Chúa hiện diện với các môn đệ khi họ đoàn kết. Thiếu đoàn kết giữa các Kitô hữu là nguyên do chính của việc thiếu hữu hiệu trong công việc truyền bá Phúc Âm. Đừng nói chi đến sự chia rẽ bi đát giữa các Giáo Hội. Hãy nghĩ đến mức độ chúng ta trong cách suy nghĩ, trong lời nói, trong các quyết định, trong cách hành động, chúng ta có lo lắng liên kết và hiệp nhất với các anh em tín hữu gần gũi nhất với chúng ta không? (xứ đạo, khu xóm, xưởng làm, phong trào Công Giáo Tiến Hành…). Nếu có, Đức Kitô hiện diện nơi công việc tông đồ của chúng ta. 6. Suy niệm của QuessonTừ “Thăng Thiên" có thể mang một sắc thái xấu đối với các Kitô hữu, nếu chúng ta để cho trí tưởng tượng biểu thị một cách vật lý điều mà thực ra là một mầu nhiệm vô cùng của đức tin. Bản văn của Matthêu khác với bản văn của Luca, không nói với chúng ta về sự thăng thiên (lên trời) nhưng về sự hiện diện mới thánh sử mời gọi chúng ta không nên cử hành ngày này như “sự ra đi của một người thân yêu mà người ta đưa ra phi trường trước khi phi cơ cất cánh”. Vậy chúng ta hãy quên đi mọi sự tưởng tượng của chúng ta và lắng nghe Đức Giêsu: Không nói về sự ra đi, Người nói về sự hiện diện khắp mọi nơi! “Thầy ở cùng anh em mọi ngày...” Vậy chúng ta hãy lắng nghe trang cuối cùng của Tin Mừng thánh Matthêu. Đó là bảng tóm tắt bài tường thuật, tất cả các từ ngữ đều chuyển tải ý đó. Chúng ta hãy suy niệm về tất cả các từ ấy Mười một môn đệ. Họ gồm có “mười một" và chỉ mười một thôi! Rất ít đối với một trách nhiệm to lớn. Mười một chứ không phải mười hai, như chúng ta đã quen từ lúc bắt đầu Tin Mừng. Quả thực, đây là một Giáo Hội rất nghèo nàn, một nhóm quá nhỏ, bị cắt cụt bởi vì một người trong số họ đã bỏ hàng ngũ. Không phải chỉ hôm nay mới có những người bỏ rơi đồng đội. "Mười một môn đệ". Matthêu gọi họ là “môn đệ" thay vì là "tông đồ” điều đó là có dụng ý. Ở đây, họ không ở vị trí của những người được giao cho một quyền bính đặc biệt. Hoàn toàn đơn giản, môn đệ là điều kiện chung của mọi người đi theo Đức Giêsu, là bạn hữu của Người. Môn đệ ư? Bạn, tôi chúng ta... Bạn có phải là một môn đệ không? Bạn hãy nhớ rằng Giuđa đã làm lỡ một cuộc hẹn gặp . Đi tới miền Galilê... Nhấn mạnh trên địa điểm hẹn gặp này là điều có ý nghĩa đối với Matthêu; thánh sử đã không ngần ngại cho địa điểm ấy là nơi xảy ra sự xuất hiện chính thức, để tôn cao giá trị của miền Galilê... và không nói đến những lần hiện ra ở Giêrusalem trong các tường thuật Tin Mừng khác. Galilê! Nơi hẹn gặp đã được Đức Giêsu chỉ định sau bữa ăn cuối cùng: "Sau khi chỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em" (Mt 26,32). Ở ngôi mộ trống, thiên thần đã nhắc lại cuộc hẹn gặp: "Các bà hãy mau về nói với các môn đệ Người rằng Người đi Galilê trước các ông và ở đó các ông sẽ được thấy Người” (Matthêu 28,7). Galilê! Miền đất mà Matthêu đã chú ý mang lại ý nghĩa tượng trưng ngay từ đầu sứ vụ của Đức Giêsu trong tỉnh đó khi dẫn lời ngôn sứ: Hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại... những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi! (Mt 4,15; Is 8,23 - 9,l). Galilê! Tỉnh xanh tươi và ngọt ngào: Xứ sở của sự sống! Galilê! Tỉnh của nhiều sắc dân trộn lẫn, xứ sở mà các người thanh khiết ở Giêrusalem khinh bỉ, xứ sở mở ra cho những xứ sở khác, cho những dân ngoại đây là miền đất của sự tiếp xúc, nơi hòa trộn niềm tin với sự vô tín. Galilê! Miền đất cội rễ của con người Giêsu Nagiarét: Người trở nên một thân thể với xứ sở này; người là một người Galilê; có giọng nói của người miền Bắc, "Từ Nagiarét, làm sao có cái gì hay được?" (Ga l,46). Đối với chúng ta, đó là một lời mời gọi chớ nên mơ tưởng đến một chỗ nào khác: Ờ, phải chi tôi có một tổ ấm khác! Phải chi tôi học trong một trường học khác! Phải chi các đồng nghiệp tôi thế này, thế khác; giáo xứ tôi thế nọ, thế kia! Đức Giêsu hẹn gặp bạn trong miền Galilê của chính bạn. ... Đến gần núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Trong toàn bộ Kinh Thánh, núi là nơi tượng trưng cho sự gặp gỡ với Thiên Chúa và cho sự mạc khải của Thiên Chúa. Ở trên cao, người ta nhìn xa, xa hơn như khi ở trong cánh đồng! Ở trên cao, người ta hít thở thoáng đãng hơn, trong lành hơn sự ô nhiễm của các thành phố! Ở trên cao, người ta cô quạnh hơn, và có nhiều khả năng hơn để lắng nghe tiếng nói của sự im lặng, thường bị nhận chìm bởi những mớ lộn xộn của sự nhiều lời trống rỗng! Núi Sinai nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa duy nhất lần đầu tiên. Núi các mối Phúc Thật (Mt 5,1). Núi của sự biến hình (Mt 17,1). Núi chữa bệnh (Mt 15,29). Núi cầu nguyện (Mt 14,23). Núi hóa bánh ra nhiều (Mt 15,32) làm thế nào mà sự sống lại không được biểu lộ trên núi chứ? (Mt 28,16). Còn bạn? Phải chăng bạn có những cuộc hẹn gặp trên núi nơi mà Đức Giêsu ra lệnh cho bạn đến gặp Người? Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Bái lạy. Hoài nghi. Hai từ này bề ngoài hoàn toàn đối lập nhau, nhưng Matthêu tập họp chúng trong cùng một câu. Vâng, cũng trên ngọn núi ấy, có chỗ cho thực tại đáng sợ ấy: Sự hoài nghi, bái lạy là sự chiến thắng trên hoài nghi. Đức tin là một hành động tự đo, rất khác với những điều hiển nhiên buộc phải chấp nhận của bình diện khoa học. Tin Mừng rất khiêm tốn, không có gì là bực dọc và hứng khởi vô lý. Mọi tường thuật các lần xuất hiện sau khi sống lại đều có một nét chung: Đức Giêsu sống lại không "hiển nhiên"... người ta ngần ngại thừa nhận điều đó. Bạn đang tìm kiếm và hoài nghi, vậy bạn hãy thử bái lạy, thờ phụng Người. Đức Giêsu đến gần, nói với các ông. Tôi chiêm ngắm hành động này trong nội tâm trong một trường hợp duy nhất khác, Matthêu ghi nhận động tác tiếp cận ấy mà Đức Giêsu đã thực hiện. Đó là lúc Người biến hình. Khoảng cách của Thiên Chúa đối với con người rất lớn đến nỗi: Thiên Chúa cần phải đến với chúng ta một cách chủ quan, chúng ta không có khả năng tin tưởng. Sự khởi xướng thuộc về Thiên Chúa. Còn phần chúng ta, chúng ta có tự do đáp lại hành động tiếp cận của Người bằng sự thờ lạy. Trong tường thuật Phục Sinh của Matthêu, chúng ta nhận thấy sự kín đáo tột độ: Không có chi tiết cụ thể nào... Đức Giêsu chỉ đến gần và nói! Toàn bộ Tin Mừng của Matthêu có đặc tính nhấn mạnh trên những bài giảng văn Đức Giêsu: Đức Kitô của Matthêu là một Đức Kitô thuyết giảng năm bài giảng lớn đã tạo thành nhịp điệu sự tường thuật của Matthêu. Vậy, đây là lời tôn vinh và kết luận: những lời sau cùng của Người. “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất..." Công thức này khẳng định sự bình đẳng của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Thật vậy, trong toàn bộ Cựu Ước, chỉ Thiên Chúa mới là "Chúa của trời đất"... vũ trụ hữu hình và vô hình. Công thức này, không mô tả sự Thăng Thiên bằng những từ ngữ cụ thể nhưng đòi hỏi phải có sự việc Đức Giêsu lên trời từ nay thống trị toàn thể vũ trụ. Dĩ nhiên, vấn đề không phải là tìm kiếm Đức Giêsu giữa những vì tinh tú, trong "bầu trời đầy sao". Công thức nêu lên ý niệm về toàn thể: Không có gì nằm ngoài quyền của Thiên Chúa. Từ nay, Đức Giêsu sống lại là Chúa Thượng của mọi tạo vật!. Khi đọc lời chúc tụng trên bánh và rượu, Người nói "Này là Mình Thầy. Này là Máu Thầy", Người chỉ mang lại cho chúng ta “dấu chỉ" về hiệu quả của quyền chủ tể của Người trên mọi phần của vũ trụ... và do đó trên mỗi người chúng ta và chúng ta thật sự trở thành nhiệm thể của Người. Và thánh Phaolô trong bài đọc I của ngày hôm nay, cũng khẳng định quyền chủ tể ấy: Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô chỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. Như vậy, Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được không những trong thế giới hiện tại mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô!" (Ep 1,20-23). Phải, chúng ta là thân thể Đức Kitô! Vì thế mà Phaolô phải nói rằng "Thiên Chúa đã cho chúng ta cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời (Ep 2,5-6). Phụng vụ của chúng ta không chỉ cử hành các kỷ niệm của quá khứ các lễ mừng trọn năm: Phụng vụ làm cho chúng ta tham dự trước những điều kỳ diệu của thời Thế Mạt. Phaolô biết rất rõ ràng những người mà ngài viết cho họ chưa ngự trị trên cõi trời, bị bầm giập bởi thử thách, họ biết mình phải chết. Tuy nhiên sự "thăng thiên của chính họ đã được tham dự trước, trong đức tin vào Đức Kitô". Điều đó chẳng phải cho chúng ta tất cả cách sống và cách cử hành phụng vụ sao? "Vậy anh em hãy đi và làm cho MUÔN dân trở thành môn đệ..." Sau TOÀN quyền mà Đức Giêsu đã được trao ban, giờ đây toàn thể trường hoạt động của Đức Kitô qua thân thể Người tức là các môn đệ được nêu lên. Trước kia trên núi cám dỗ, Đức Giêsu đã từ chối nhận của xa tan "tất cả các nước thế gian và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy" (Mt 4,8-10). Giờ đây, lúc có vẻ sắp ra đi, Đức Giêsu táo bạo ấy đã nhắm đến toàn thể vũ trụ trong cuộc chinh phục một cách hòa bình, qua mười một con người ấy, muôn dân, mọi quốc gia mọi con người? Đức Giêsu đang ‘nhìn’ từ tầm nhìn cao cả nhất. Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." Một công việc vĩ đại, nhấn chìm nhân loại vào một không gian mới: Ba Ngôi Thiên Chúa... Ba Ngôi là tình yêu liên ngôi vị tinh tuyền và trong suốt nhất mà chỉ Ba Ngôi mới có.. để cho dù nhiều, tất cả chỉ là một. Đó cũng chính là giấc mơ của mọi tình yêu. “Dạy bảo họ tuân giữ MỌI điều Thầy đã truyền cho anh em..” Vậy thì, đấy là toàn bộ hành động của con người phải được đặt dưới quyền chủ tể của Đấng Phục Sinh. Trước hết, làm môn đệ của Đức Giêsu không phải là một thái độ trí thức. Việc dạy giáo lý cũng vậy, trước tiên không phải là truyền thông những khái niệm, nhưng là tập luyện một cách sống bao gồm mọi khía cạnh của đời sống. “Và đây Thầy ở cùng anh em MỌI ngày cho đến tận thế” Sự hiện diện của Đức Giêsu Phục Sinh, không chỉ tràn ngập mọi nơi trên trần thế mà còn bao trùm toàn bộ thời gian! Sứ thần khi truyền tin cho Thánh Giuse lúc Tin Mừng bắt đầu đã nói: "Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mt 1,23). Mọi Tin Mừng của Matthêu do đó đều bao hàm trong tư tưởng ấy. Một lời mời gọi phi thường: Nếu Thiên Chúa hiện diện mọi ngày, mọi lúc... Nếu chúng ta có thể nói rằng chính chúng ta cũng hiện diện và ở cùng Thiên Chúa? Thi hào Tagore nói rằng "ước gì đời sống của con như một cây sáo trúc, để Ngài có thể làm đầy bằng âm nhạc". Mỗi ngày hôm nay, mỗi giây phút của đời tôi có thể trở nên rực sáng bởi tình bầu bạn ấy của Đức Giêsu! Ôi, Lạy Chúa Giêsu...
7. Tái ngộMột người đàn ông khi còn sống chuyên môn làm nghề quảng cáo, đến lúc chết ông ta xuống gặp ngay Diêm vương. Diêm vương ân cần bèn hỏi: “Muốn ở thiên đàng hay ở hỏa ngục”. Người đàn ông ngập ngừng đáp: “Chưa thấy thiên đàng hay hỏa ngục như thế nào thì làm sao mà chọn”. Diêm vương bàn dẫn ông ta đến một nơi và chỉ cho thấy cảnh thiên đàng: đó là một nơi mát mẻ, yên lặng, người người dịu dàng đi lại, nói chuyện nhẹ nhàng, chơi cờ thanh thản… Đoạn dẫn đến một nơi gọi là hỏa ngục thì thấy vui nhộn hơn, có những đám ăn nhậu với đủ thứ thức ăn và rượu ngon, có cả văn nghệ với nhạc rập rình, có các cô đào trẻ đẹp múa hát… Sau khi đã nhìn thấy hai nơi rồi, ông ta mau mắn trả lời: “Ở thiên đàng buồn quá, tôi thích chọn hỏa ngục vui sướng hơn”. Thế là Diêm vương sai hai thằng quỉ ném ông ta vào hỏa ngục. Vừa đến nơi ông ta la hoảng lên vì nóng quá, chả có ăn nhậu, văn nghệ gì ráo trọi, mà chỉ thấy toàn lũ quỉ đen, nham nhở đang vui thích hành hạ các tội nhân. Ông ta sừng sững sờ quay lại hỏi Diêm vương: “Thế hỏa ngục lúc nãy Ngài cho tôi thấy nó ở đâu?”. Diêm vương khoái chí cười ha hả đáp: “Ngu ơi là ngu, quảng cáo mà mày!”. Đời là thế đấy! đúng là “sinh ư tử nghiệp” “sống sao thác vậy”. Nói một cách rõ ràng hơn thì người đàn ông trong câu chuyện đã bị “gậy ông đập lưng ông” vì khi còn sống ông ta đã dùng mánh khóe, xảo thuật để quảng cáo đánh lừa người khác làm lợi cho mình. Đến khi chết đi, ông ta vẫn mang dòng máu tham lam, ham lợi đó nên đã bị Diêm vương cao tay hơn dùng chính lối quảng cáo đánh lừa ông ta là vậy. Nhưng nếu suy rộng ra thì đây cũng là một mẫu người tiêu biểu cho lối sống của nhiều người thời nay. Hơn bao giờ hết, người thời nay với lối sống xô bồ, đua tốc độ với thời gian, lấy vật chất làm động lực sống, coi hưởng thụ khoái lạc làm mục tiêu hành động nên đã sử dụng môn quảng cáo như là một tuyệt chiêu để tranh sống và sinh tồn ở đời. Do đó, người ta đua nhau tổ chức cuộc sống mình đặt trên cơ sở lấy ngắn thay cho dài hạn, lấy lợi trước mắt quên tác hại sâu xa, lấy bên ngoài quan trọng hơn bên trong, lấy xác hơn hồn. Tất cả những sai lầm nguy hiểm trên đương nhiên ai cũng chưa biết, nhưng người ta vẫn cứ sống, vẫn cứ coi thường. Hôm nay cũng như bao lần khác, chúng ta cùng nhau mừng lễ Chúa lên trời. Và mỗi lần như thế chắc chắn Chúa vẫn kêu mời mỗi người chúng ta hãy nghĩ và đặt lại hướng đi cuộc đời của mình cho đúng. Hay nói cách khác Chúa muốn chúng ta, nhân cơ hội kỷ niệm biến cố Ngài về trời, sáng suốt nhận ra được đâu là mục đích chính của đời sống tại dương thế. Thảm thương thay! không hiểu tại sao mọi người chúng ta hình như cứ mải mê cố tình hoặc khờ khạo coi nhẹ sự sống đời đời. Sở dĩ có tình trạng mê lầm mất phương hướng này một phần do những đòi hỏi của cuộc sống mang vẻ hợp pháp đã đánh lừa nhiều người khiến họ cứ tưởng mình sống không đến nỗi xấu xa lắm: nào là “có thực mới vực được đạo”, nào là sống đạo cốt tại tâm, nào là phải lo đủ thứ bổn phận trách nhiệm trong gia đình ngoài xã hội, nào là phải liên tục đương đầu để giải quyết biết bao công việc khó khăn. Tất cả những thứ đó có đủ mãnh lực mê hoặc, ru ngủ chúng ta đến nỗi chúng ta cho việc lơ là phần thiêng đạo đức, bỏ bê việc lành, thông cảm với những yếu đuối sa ngã, khô khan nguội lạnh đôi chút đều không có gì phải ân hận, nuối tiếc cả. Phần khác là do ảnh hưởng bên ngoài đầu độc. Chẳng hạn, thời nay hầu như ai cũng lấy lợi nhuận, hưởng thụ làm mục tiêu sống, trong khi kẻ nào chủ trương ăn ngay ở lành, ăn chay đền tội thì người ta cho là dại khờ. Thêm vào đó, nhiều chủ thuyết cổ võ lối sống tự do phóng khoáng, phi đạo đức luân lý, đả kích tôn gió khiến đức tin của một số người đâm lung lay và hoài nghi những chân lý trong đạo. Đặc biệt ma quỉ đâu chịu ngồi yên, chúng dùng mưu mô xảo quyệt, lợi dụng tối đa mọi hoàn cảnh để ra sức dụ dỗ con người nghi ngờ Chúa, quên đời sau. Ngay cả những giây phút cùng nhau chia sẻ lời Chúa này, có những người tự bằng lòng với cuộc sống hiện tại của mình: nghĩa là họ thỏa mãn những gì họ đang có, còn đạo đức chỉ là chuyện thứ yếu và chuyện đời đời lại quá xa vời, không quan tâm vội. Chính khi suy nghĩ như thế cũng đã đủ để minh chứng rằng nhiều người đang sống xa Nước Trời. Vậy những ai xác tín rằng quê hương đích thực của đời mình là ở trên trời cao thì trước hết và trên hết hãy qui hướng tất cả mọi sự trong cuộc sống, vận dụng mọi hoàn cảnh về nơi đó để cố gắng chiếm đoạt cho bằng được dù phải trả bất cứ giá nào. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là phải chạy trốn khỏi cuộc sống khốn khổ này, trái lại phải vui tươi, can đảm chu toàn những trách nhiệm, bổn phận mà Chúa giao phó cho mỗi người với điều kiện đừng để cho bản thân, gia đình, của cải, danh lợi làm chủ, điều kiển đến độ quên hết đời sau. 8. Chờ đợiKinh nghiệm cho hay một phần lớn thời gian trong cuộc sống là chờ đợi. Có cái phải chờ đợi mấy phút, vài giờ, một tuần, cả tháng hay vài năm. Có khi lại phải chờ đợi cả đời người. Cuộc đời có ý nghĩa và hạnh phúc hay không tùy theo thái độ của chúng ta trong lúc chờ đợi. Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Đây là thời gian chờ đợi của các thánh tông đồ. Thánh Matthêu kể lại cho chúng ta biết rằng: “Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước”. Luca ghi lại rằng: “Và đây, chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”. Và sách Công vụ Tông đồ cũng nói rằng: “Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa”. Các tông đồ chờ đợi sự xuất hiện vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ ra cho họ qua biến cố Chúa Giêsu lên trời. Và qua lời hứa của Chúa Giêsu, các tông đồ lại chờ đợi sự hiện xuống của Đức Chúa Thánh Thần cùng với sức mạnh của Thần Khí được ban cho các ngài. Thánh Augustinô đã giải thích lý do tại sao chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời như sau: “Vinh quang của Thiên Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, đã được hoàn tất bởi sự sống lại và lên trời của Ngài. Vào Chúa nhật Phục sinh, chúng ta cử hành sự sống lại; hôm nay chúng ta cử hành sự lên trời của Ngài. Cả hai lễ đều thuộc về chúng ta, vì Ngài đã sống lại để cho chúng ta một bằng chứng về sự sống lại của chính chúng ta; Ngài đã lên trời để bảo vệ chúng ta từ trên trời cao”. Sách Giáo lý Công giáo số 661 nói rằng: “Vinh quang của sự Chúa lên trời đã gắn liền với giai đoạn của sự đi xuống của mầu nhiệm Nhập Thể. Chỉ một mình Đấng đã “bởi Chúa Cha mà ra” mới có thể “trở về với Chúa Cha”: đó là Đức Kitô. “Không một ai đã lên trời bao giờ, trừ Con Người đã từ trời xuống thế”. Với sức mạnh tự nhiên của mình, loài người không có đường nào để tới “nhà Cha”, tới sự sống và vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ một mình Chúa Kitô đã có thể mở đường cho con người, “để chúng ta, những chi thể của Ngài, chúng ta có hy vọng đoàn tụ với Ngài, Đầu của chúng ta và Nguyên lý của chúng ta, ở nơi mà Ngài đã đến trước chúng ta”. Đối với người Kitô hữu, trong khi chờ đợi để được đoàn tụ với Đức Kitô thì chính thái độ và cách sống sẽ đưa chúng ta vào vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của an bình, công chính, và hạnh phúc cho mọi người. Chúng ta phải có thái độ nào đang khi chờ đợi? Hãy nhìn vào đời sống của các tông đồ, chúng ta sẽ học được thái độ phải có. Các ngài đã không chờ đợi ở Giêrusalem với một thái độ thụ động, tiêu cực và nhàm chán. Nhưng các ngài đã chờ đợi với niềm vui chung của toàn thể Giáo Hội, xét như thân thể của Chúa Giêsu Kitô như Luca đã diễn tả: “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ”. Trước hết, các ngài đã quy tụ chung lại với nhau, thờ phượng Thiên Chúa, và cầu nguyện với lòng ước ao gặp gỡ Thiên Chúa. Các ngài và những người tín hữu tiên khởi đã tiếp tục công việc của Chúa Giêsu khởi sự qua các sinh hoạt của Giáo Hội, với đời sống cầu nguyện, cử hành các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, và đặc biệt qua đời sống bác ái yêu thương. Thứ đến, các ngài chờ đợi trong tin tưởng và trung thành vào lời hứa của Chúa Giêsu. Tin tưởng và trung thành vào lời hứa của Thiên Chúa là tìm kiếm những dấu chỉ của Thiên Chúa ở mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Đôi khi Thiên Chúa xuất hiện trong những hoàn cảnh và môi trường xem ra rất tức cười. Nếu chúng ta không nhận ra những dấu chỉ của việc Thiên Chúa làm, chúng ta sẽ không bao giờ thấy. Tôi tự hỏi rằng đã có biết bao nhiêu người chăn chiên đã đi qua bụi cây rừng đang cháy trong câu chuyện của Môsê, và họ đã không nhìn thấy gì cả! Chỉ có Môsê là người tin tưởng và trung thành nên đã đón nhận được sự biểu tỏ của Thiên Chúa. Môsê đã tìm kiếm tích cực, nên mới gặp gỡ. Chúng ta cũng có thể sẽ bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa nếu chúng ta không tìm kiếm Ngài một cách tích cực. John Westerhoff, giảng sư của trường Duke University, trong các bài nói chuyện với sinh viên thường kể câu chuyện về một người có tên là Nostradam. Trong nhiều năm, Nostradam đã đi qua biên giới bằng con lừa kéo chiếc xe chở đầy rơm khô. Những người lính biên phòng biết rất rõ Nostradam đang buôn lậu một cái gì đó. Họ chặn ông lại và lục soát kỹ lưỡng chiếc xe chở cỏ khô. Đôi khi họ còn lấy cỏ xuống mang đi đốt, nhưng vẫn chẳng tìm thấy sự gì. Sau cùng, khi ông già yếu, phải nghỉ làm công việc buôn bán này. Họ tổ chức một buổi tiệc cho ông. Những người lính biên phòng nói với ông, “Thưa cụ Nostradam! Bây giờ cụ đã nghỉ ngơi rồi, xin cụ có thể nói với chúng tôi, cụ đã buôn lậu cái gì trong những năm qua”. Nostradam thản nhiên trả lời, “buôn những con lừa”. Điểm chính của câu chuyện là những thứ buôn lậu ở ngay trước mắt của họ, nhưng họ không nhìn thấy. Sự hoạt động của Thiên Chúa cũng giống như vậy. Không phải là Ngài không có mặt trên trần gian, nhưng con người đã làm ngơ, quên đi tất cả các dữ kiện và dấu chỉ về sự hoạt động của Ngài. 9. Quê hươngBài đọc sách Công vụ Tông đồ hôm nay cho biết: Chúa Giêsu lên trời trước mặt nhiều môn đệ vào ngày thứ 40 sau Phục sinh, tức là lần hiện ra cuối cùng với họ, và trong khoảng thời gian 40 ngày, kể từ ngày Phục sinh, Chúa Giêsu không ở liền với các môn đệ mọi giây phút, nhưng chỉ thỉnh thoảng mới hiện ra thôi. Như thế, những lúc không hiện ra với các môn đệ thì Chúa ở đâu? Thực ra, vấn đề thăng thiên của Chúa có thể ghi lại những điểm chính như sau: Sau khi Phục sinh, Chúa Giêsu đã được tôn vinh nơi Chúa Cha ngay lập tức rồi. Nói cách khác, Chúa Giêsu Phục sinh rồi lên trời ngay để ngự bên hữu Chúa Cha. Tuy nhiên, trong quãng thời gian 40 ngày, kể từ ngày Phục sinh, Chúa đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ, và vào lần cuối cùng, ngày thứ 40, Chúa hiện ra đàm đạo với các môn đệ, nhắn nhủ họ nhiều điều, rồi Ngài lên trời trước mắt họ. Từ đấy Ngài không còn hiện ra với họ như trước đó nữa cho tới ngày tận thế. Dẫu sao ngày lễ thăng thiên hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta lưu ý đến ý nghĩa của mầu nhiệm thăng thiên hơn là đến ngày giờ mầu nhiệm ấy xảy ra. Mầu nhiệm thăng thiên nhắc nhở ít nhất hai điều: Thứ nhất, Chúa Giêsu về trời, nhưng Ngài vẫn luôn hiện diện giữa chúng ta. Là những con người tại thế, bị ảnh hưởng và chi phối bởi giác quan, chỉ quen chấp nhận những gì giác quan kiểm chứng được, nên chúng ta dễ cảm thấy rằng: ra đi là mất mát, chia lìa là đau đớn kinh khủng, là chết đi một chút. Do đấy chúng ta cũng thường nghĩ rằng: Chúa Giêsu đã về trời, thế là mọi sự mất hết rồi. Nhưng sự thật không phải thế. Chúa Giêsu Phục sinh đã lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, nhưng Ngài lại vẫn còn hiện diện với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Thăng thiên chính là một cuộc chuyển tiếp từ hiện diện hữu hình sang hiện diện thiêng liêng. Nghĩa là từ đây Chúa Giêsu Phục sinh chấm dứt cách hiện diện với các môn đệ khiến cho giác quan của họ kiểm nhận được, mà hiện diện một cách thiêng liêng. Dấu hiệu của sự hiện diện này là Ngài ban Thánh Thần xuống trên các tông đồ. Đúng vậy, Chúa Giêsu hiện diện giữa chúng ta, trong chúng ta qua Chúa Thánh Thần. Đó cũng là ý nghĩa của câu Chúa khẳng định với các tông đồ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Điểm thứ hai nhắc nhở chúng ta: Chúng ta đang sống ở trần gian, nhưng phải luôn hướng về trời. Những du khách có dịp đi du ngoạn ở miền bắc nước Tô Cách Lan, thường gặp thấy những đống đá chồng chất lên nhau. Những đống đá này hàm chứa một ý nghĩa lịch sử cho dân chúng miền đó. Đây là kỷ niệm của những người dân đã di cư đi nơi khác làm ăn. Người ta kể lại rằng: vì thiếu công ăn việc làm, dân chúng miền này phải tìm đến những nước công nghiệp như Canada, Úùc hay Mỹ để tìm kế sinh nhai. Khi ra đi, họ thường nhặt một hòn đá của làng mình và đem theo cho đến khi bóng xóm làng chỉ còn một chấm mờ ở đàng sau, họ dừng lại, đặt hòn đá xuống như một kỷ niệm yêu thương cuối cùng để lại cho quê hương của họ. Rồi hằng năm, vào dịp lễ thánh Andrê, bổn mạng nước Tô Cách Lan, người dân Tô Cách Lan trên khắp thế giới thường họp nhau lại để tưởng nhớ tới quê hương mình đã cách xa, và cũng để nhớ đến họ hàng thân thuộc còn ở lại quê nhà. Bất cứ một người dân di cư nào cũng đã gói ghém trong hành trang của mình ít nhiều tình yêu quê hương sâu đậm. Người ta tìm ra hai nguyên nhân chính yếu đã là những động lực thúc đẩy các cuộc ra đi này, đó là một đời sống nghèo nàn, cơ cực, đói khát, với những điều kiện quá khắc khổ, không công ăn việc làm, không bảo đảm tương lai. Và một hấp lực lôi cuốn từ đàng trước, đó là một đời sống no đủ, sung túc hơn, với những hứa hẹn của một tương lai tươi sáng, bảo đảm và vững chắc hơn. Người Kitô hữu cũng có thể được ví như những người dân di cư đó. Và cuộc ra đi của chúng ta là một cuộc hành hương về nước trời. Chúng ta cũng có một động lực thúc đẩy từ cuộc sống trần gian đầy vất vả này, và một hấp lực lôi cuốn của một quê hương hạnh phúc. Sống ở đời này, ai ai cũng có những hy vọng. Chúng ta hy vọng về nước trời như là cái đích cuối cùng ở cuối con đường trần gian. Cuộc sống hôm nay nơi trần gian phải có một mục đích. Nếu sống hết ngày này qua ngày khác, phấn đấu, lam lũ làm ăn, vất vả, cực khổ… chỉ để sống vậy thôi, chứ không biết mình sống để làm gì thì đời chúng ta thật là vô nghĩa và phi lý. Vậy chúng ta đã có mục đích sống cho đời mình chăng? Mục đích đó là mục đích nào? Thưa đó là nước trời. Vì vậy cuộc đời này là một cuộc hành hương về nước trời. Ước gì từng hành động, từng suy nghĩ, từng gặp gỡ, từng hơi thở của chúng ta cũng đều là một đáp trả tích cực của chúng ta với lời mời gọi vào sự sống bất diệt của Chúa. Ước gì trong tất cả mọi sự, sự khôn ngoan hướng dẫn chúng ta chính là cõi phúc trường sinh mà Chúa đã hứa ban cho chúng ta. Ước gì trong từng bước lữ hành về cõi phúc ấy, chúng ta đã có thể nếm được niềm vui và hạnh phúc đích thực ngay trong cuộc sống này. 10. Lời ChúaNơi mục tựa ngắn của một tập sách do chính mình viết có tựa đề: "Biết và không biết về Thiên Chúa". Tác giả Đức Hồng Y Sacrunez, một triết gia và cũng là một thần học gia nổi tiếng của thập niên 60 đã trình bày niềm xác tín của mình như sau: "Người ta không thể nào không nói về Thiên Chúa, mọi kinh nghiệm tốt xấu, tích cực hay tiêu cực đều đưa con người đến việc đặt vấn đề về Thiên Chúa. Con người không thể loại bỏ hay quên hẳn Thiên Chúa được, con người vẫn nói về Thiên Chúa, nhưng khi nói rồi con người cảm thấy lời nói của mình về Ngài như không có ý nghĩa gì cả, lời nói đó trở thành như một sự im lặng to lớn." Từ nhận định trên đây Đức Hồng Y rút ra hai điểm kết luận ngắn rất quan trọng: Thứ nhất, con người cần trân trọng quí mến những lời nói, tuy là của con người nhưng đã được Thiên Chúa sử dụng để mạc khải chính Mình cho con người. Thứ hai, để lời nói của mình về Thiên Chúa có được chút giá trị nào đó, diễn tả thực thể Thiên Chúa thì con người cần có cảm nghiệm về Thiên Chúa. Chúng ta ghi nhận là các Tông Đồ ngày xưa đã thực hiện hai điều căn bản này. Họ trân trọng, quí mến lời Chúa giảng dạy. Họ trung thành thông truyền, không xuyên tạc và các ngài là những kẻ có kinh nghiệm trực tiếp về Chúa trước khi ra đi rao giảng cho kẻ khác. Chúa đã gọi các Tông Đồ để các ngài sống bên cạnh Chúa trong suốt thời gian Chúa giảng dạy, đến độ tác giả của thư thứ nhất Thánh Gioan và truyền thống cho là thánh Gioan Tông Đồ, một trong mười hai Tông Đồ đã sống bên cạnh Chúa trong suốt cuộc đời rao giảng, tác giả thư thứ nhất thánh Gioan đã viết ngay đầu thư như sau: "Những gì chúng tôi đã thấy, đã nghe, đã chạm đến về Ngôi Lời Hằng Sống, về Con Thiên Chúa, chúng tôi loan truyền lại cho anh chị em." Mừng Lễ Chúa Lên Trời hôm nay, chúng ta được mời gọi như các Tông Đồ ngày xưa, tiếp tục công việc của Chúa. Trước khi lên trời, Chúa đã ra lệnh cho các Tông Đồ: "Mọi quyền hành trên Trời, dưới đất, được trao ban cho Thầy, chúng con hãy ra đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Giảng dạy và tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con, và Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế." Người ta không thể nào không nói về Thiên Chúa. Chúng ta, những đồ đệ của Chúa không thể nào không chia sẻ về Chúa cho anh chị em, không những bằng lời nói mà còn bằng những việc làm. Nhưng để làm chứng nhân cho Chúa thì hai điều kiện căn bản mà Đức Hồng Y đã nhắc cho chúng ta là trân trọng, quí mến những lời nói của Chúa, đây là những lời mà Con Thiên Chúa Nhập Thể đã nói cho con người biết về mầu nhiệm Thiên Chúa, chúng ta cần trân trọng, quí mến Lời đó. Những Lời đó và cũng là những Lời mà Con Thiên Chúa đã chọn để mạc khải Thiên Chúa cho con người. Chúng ta cần trân trọng những Lời đó. Điểm thứ hai, chúng ta cần sống trực tiếp có cảm nghiệm về Chúa, sống với Chúa trước để có thể làm chứng cho Chúa: "Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế." Trân trọng tuân giữ lời rao giảng và duy trì kinh nghiệm khi gặp Chúa, sống với Chúa qua đời sống cầu nguyện, việc cử hành Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Thánh Thể là phương thế để Chúa hiện diện, để Chúa thực hiện điều Ngài đã quả quyết: "Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế." Chúng ta không nên có thái độ vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, kể Chúa như kẻ ra đi đã khuất mắt không còn hiện diện trên trần gian này nữa, để chúng ta được tự do gây xáo trộn, tự do phá bỏ mọi giá trị. Chúa Lên Trời là một biến cố khai mạc giai đoạn mới, giai đoạn của một sự hiện diện mới và của sự dấn thân mới của mỗi người chúng ta để làm chứng cho Chúa. Chúng ta cần sống với Chúa, lắng nghe Lời Chúa và trân trọng tuân giữ Lời Chúa để trở thành những chứng nhân của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được thực hiện điều này và cho chúng ta được trưởng thành trong đức tin. Amen. 11. Thầy ở cùng anh em mọi ngàySuy Niệm Nếu trời là nơi Chúa ngự thì chẳng có gì gần ta bằng trời. Trời ở quanh ta, trời ở trong ta... Trời vượt xa đất muôn trùng, nhưng nếu đất trở thành nơi Chúa ngự thì đất cũng mang dáng dấp của trời. Thiên Chúa không phải là Đấng chỉ thích ở trên trời. Ngài thích con người, Ngài thương trái đất, nên Ngài đã sai Con Ngài làm người ở đời. Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã đặt chân lên trái đất. Đất chẳng xa lạ gì với Ngài, vì nhờ Ngài mà nó được tạo dựng. Đất đã bắt đầu thành trời từ khi Con Thiên Chúa đến dựng lều ở đó. Đất vẫn luôn thuộc về trời vì Đức Giêsu luôn ở với ta cho đến tận thế. Trời là mẫu mực của đất: Ý Cha phải được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Chỗ nào vâng theo ý Cha, chỗ đó thành trời. Trái tim của chúng ta cũng phải trở thành trời, phải đầy ắp yêu thương, đầy ắp Thiên Chúa. Rốt cuộc, nhiệm vụ của người Kitô hữu là xây dựng trời cao ở ngay nơi đất thấp, là cho thấy rằng trời cao thật gần, chứ không phải là sản phẩm của hoang tưởng. Trời cao đã gần bên, chỉ người Kitô hữu biết sống cho nhau chân tình, chia sẻ cho tha nhân tất cả những gì mình có, không bị mê hoặc bởi của cải lợi danh, không bị kéo ghì bởi những đam mê xác thịt, cũng không chùn bước trước cái chết, khổ đau. Chúng ta phải làm chứng về thiên đàng có thực bằng cuộc sống vui tươi hạnh phúc ở đời này. Hạnh phúc khi hy sinh, tự hiến, khi chịu thua thiệt, mất mát, lãng quên. Hạnh phúc cả khi tưởng như không thể nào hạnh phúc được. Hạnh phúc như thế gợi mở về hạnh phúc viên mãn đời sau. Chúng ta không thể làm chứng về thiên đàng mai hậu bằng một cuộc sống ủ rủ, buồn phiền. Thiên đàng mai sau chớm nở từ bây giờ. Tôi chỉ được hạnh phúc sống đời sau bên Chúa, nếu tôi đã bắt đầu sống bên Chúa từ đời này. Có một thiên đàng nho nhỏ ở trong tôi: "Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và dựng nhà nơi người ấy" (Ga 14,24). Tôi muốn xây những thiên đàng nho nhỏ ở quanh tôi, nơi gia đình, bè bạn; nơi phố chợ, học đường... mong có ngày cả trái đất này ngập tràn sự hiện diện của Thiên Chúa. Gợi Ý Chia Sẻ 1. Có phi hành gia, sau khi du hành trong vũ trụ, đã quả quyết không hề có thiên đàng. Bạn nghĩ gì về nhận xét đó? 2. Theo bạn, có thể dùng lý luận để chứng minh cho người khác về sự hiện hữu của thiên đàng không? Có thể dùng cuộc sống để cho thấy thiên đàng không? Cầu Nguyện Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó. Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bị đát và cao cả của phận người. Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em. Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại. Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa. Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện. 12. Suy niệm của JKNCâu hỏi gợi ý: 1) Phải chăng công việc cứu thế của Đức Giêsu đã chấm dứt kể từ khi Ngài từ giã các tông đồ để về trời? Nếu việc ấy còn tiếp tục thì tiếp tục thế nào, và do ai thực hiện? Người ấy có phải là bạn, là tôi không? 2) Đức Giêsu có cần ta và có mời gọi ta cộng tác với Ngài trong việc cứu thế của Ngài không? Ngài muốn ta làm gì để cộng tác với Ngài? 3) Nếu Đức Giêsu muốn yêu anh chị em ta bằng trái tim của ta, muốn phục vụ họ bằng đôi tay của ta, muốn rao truyền Tin Mừng cho họ bằng miệng lưỡi của ta, bạn có sẵn sàng cho phép Ngài không? Suy tư gợi ý: 1) Để cứu con người, Thiên Chúa cần họ cộng tác với Ngài Hôm lễ Giáng Sinh, chúng ta đọc bài Tin Mừng nói về việc Đức Giêsu giáng trần, bắt đầu cuộc đời làm người của Ngài. Hôm nay chúng ta đọc bài Tin Mừng nói về việc Ngài thăng thiên, kết thúc cuộc đời tại thế của Ngài. Ngài đến thế gian - vừa với tư cách một vị Thiên Chúa vô hạn và toàn năng, vừa với tư cách một con người đầy giới hạn và bất lực - để phục vụ con người, hầu trả lại cho con người thứ hạnh phúc vĩnh cửu đã bị nguyên tổ con người đã làm mất. Nhưng Ngài không thể làm chuyện này một mình được. Khi dựng nên con người và cùng lúc ban hạnh phúc nguyên thủy cho con người (lúc ấy con người chưa có), Thiên Chúa không cần ý kiến hay sự cộng tác của con người. Nhưng khi con người đã hiện hữu, nhất là khi họ đã lạm dụng chính tự do Thiên Chúa ban để chống lại Ngài và làm mất đi hạnh phúc của mình, thì Ngài không thể tự mình chuộc lại hạnh phúc ấy cho con người mà không cần đến sự cộng tác tự nguyện của họ. Tương tự như khi sinh ra ta, cha mẹ không cần đến ta, nhưng một khi đã có ta, thì có rất điều ích lợi cho ta các ngài không thể làm một mình mà không cần ta cộng tác vào. Chẳng hạn các ngài có thể đem đồ ăn đến tận miệng ta, giúp chúng ta đủ mọi phương tiện để học hành, nhưng ta có ăn uống học hành hay không thì hoàn toàn do ta. Cha mẹ không thể ăn uống, học hành thay cho ta được. Cũng vậy, Thiên Chúa không thể cứu chuộc ta, lấy lại hạnh phúc đã mất cho ta mà không cần đến sự hợp tác của ta. Để cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã làm tất cả những gì Ngài có thể làm được qua Đức Giêsu. Tuy nhiên, vẫn còn lại một phần rất nhỏ mà chính con người phải làm, không ai làm thay được. Nhưng làm sao con người ý thức được điều đó để cộng tác với Ngài hầu được cứu rỗi và hạnh phúc? Đức Giêsu có làm được điều ấy không? Làm sao Ngài làm được điều ấy cho từng người trên thế giới từ thế kỷ này sang thế kỷ khác? 2) Để loan báo ơn cứu độ, phục vụ con người, Đức Giêsu mời gọi ta cộng tác tiếp tay với Ngài Đức Giêsu đến thế gian với mục đích ở với con người, chia sẻ thân phận đầy đau khổ của họ, xoa dịu những nỗi đau, săn sóc và chữa lành mọi căn bệnh cho họ, nhất là đem lại nguồn ủi an, hạnh phúc cho họ. Ngài muốn phục vụ toàn thể con người, đem ơn cứu rỗi đến cho họ không trừ một ai. Nhưng thế giới của con người thì bao la trải dài suốt mấy chục thế kỷ, còn Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm thật ngắn ngủi, tại đất nước Do Thái quá chật hẹp. Làm sao Ngài có thể đến với từng người, phục vụ từng người không trừ ai như Ngài mong muốn được? Ngài có phương cách của Ngài, đó là mời gọi những người theo Ngài, những môn đệ của Ngài trong mọi thế kỷ, mọi thế hệ loài người cộng tác tiếp tay cho Ngài, trong đó có bạn, có tôi, cùng bao nhiêu Kitô hữu khác. Ngài lại mời gọi và đòi hỏi sự cộng tác. Vì thế, trước khi từ biệt các môn đệ để về với Chúa Cha, Đức Giêsu đã trăn trối cho các ông di chúc này: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở nên môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy cho họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em". Đó không phải chỉ là lời mời gọi, mà là một lệnh truyền không chỉ cho 12 môn đệ đầu tiên của Ngài, mà cho tất cả những môn đệ thuộc tất cả những thế hệ sau, nghĩa là cho tất cả những ai theo Ngài. Vì thế, việc loan báo Tin Mừng hay phúc âm hóa môi trường mình sống, làm cho mọi người theo Đức Giêsu, thành môn đệ của Ngài, rửa tội cho họ, nhất là sống tinh thần yêu thương mà Ngài đã truyền dạy là bổn phận của mọi Kitô hữu. 3) Đức Giêsu mong được tiếp tục yêu thương và phục vụ con người qua bản thân và đôi tay của ta Sứ mạng của Đức Giêsu thật vĩ đại, để hoàn tất sứ mạng ấy, Ngài muốn hiện diện một cách cụ thể bằng xương bằng thịt tại trần gian để sống với mọi người, chia sẻ đau khổ với mọi người thuộc mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi quốc gia. Ngài muốn trực tiếp nói với mỗi người, phục vụ, săn sóc, an ủi, xoa dịu và chữa lành những nỗi đau, những căn bệnh của mỗi người, nhất là đem lại nguồn ủi an và hạnh phúc cho họ. Nhưng trong thực tế, Ngài chỉ sống tại trần gian một thời gian hết sức ngắn ngủi. Vì thế, để tiếp tục công việc ấy, Ngài muốn hiện diện ở trần gian một cách khác, một cách gián tiếp, qua sự hiện diện của ta. Nghĩa là Ngài muốn yêu thương mọi người bằng trái tim ta, suy nghĩ tìm ra giải pháp cho mọi vấn đề của con người bằng khối óc của ta, phục vụ mọi người bằng đôi tay của ta, đến với mọi người bằng đôi chân của ta, nói với mọi người, báo tin vui cứu độ cho mọi người bằng miệng lưỡi của ta. Ngài mong ta trở nên một dụng cụ của Ngài, tùy ý Ngài sử dụng hầu thực hiện chương trình của Ngài. Nếu Ngài đã là hiện thân của Thiên Chúa Cha giữa con người, thì Ngài cũng muốn ta là hiện thân của Ngài giữa những người sống chung quanh ta, trong gia đình ta, giữa xã hội, trong lòng thế giới. Nếu cách đây 2000 năm, Ngài đã là Em-ma-nu-en, tức Thiên Chúa ở giữa loài người qua con người Đức Giêsu, thì hiện nay, Ngài cũng muốn tiếp tục làm như thế, nhưng lần này qua con người mỗi chúng ta. 4) Hãy trở nên hiện thân của Đức Giêsu ở trần gian, giữa những người sống chung quanh ta Chúng ta có thể trở nên hiện thân của Đức Giêsu ở trần gian, miễn là chúng ta có tình yêu đối với Ngài, với mọi người, và muốn trở nên hiện thân của Ngài giữa thế giới. Để làm được điều ấy, chúng ta chỉ cần ý thức rằng mình chính là hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo dựng giống như Thiên Chúa (St 1,26.27; 9,6; Ep 4,24), là con cái Thiên Chúa (Lc 20,36; Rm 8,14.16; Gl 3,26), và mang trong mình bản tính thần linh của Ngài (2Pr 1,4). Vì thế, ngay từ bản chất, một cách nào đó, chúng ta đã là hiện thân của Thiên Chúa rồi. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều khi chúng ta chưa sống đúng với bản chất cao cả đó. Chúng ta còn sống một cách hèn hạ, nhát đảm, bần tiện, ích kỷ, chỉ vì chúng ta chưa ý thức được phẩm chất thần linh cao quí của mình. Chúng ta giống như một hoàng tử con ruột của một ông vua, nhưng vì sống trong môi trường dân giã lâu năm nên đã quên đi nguồn gốc cao quí của mình, nên sẵn sàng đem thân làm tôi tớ người khác, làm những điều không xứng hợp với phẩm giá mình. Đức Giêsu muốn mỗi người chúng ta ý thức được phẩm chất cao cả của mình, đồng thời mời gọi ta trở nên hiện thân của Thiên Chúa, của Ngài nơi những người chung quanh chúng ta, để qua chúng ta, Ngài yêu thương họ, phục vụ họ. Chúng ta sẽ trở nên hiện thân của Thiên Chúa khi những người chung quanh cảm nghiệm được tình yêu thương của ta đối với họ, qua việc quan tâm, chăm sóc, hy sinh vì hạnh phúc của họ. Lời mời gọi ấy, trước khi về trời, Đức Giêsu đã nói với chúng ta dưới một hình thức khác, một lệnh truyền, một sứ mạng được trao phó: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em". Làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa, cũng là giúp họ ý thức được họ là hình ảnh của Thiên Chúa, là con cái Ngài, và là anh em của nhau. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Đức Giêsu truyền dạy chính là tìm cách làm cho họ yêu thương nhau, phục vụ nhau. Vả lại yêu thương nhau chính là nét đặc trưng nhất, là tiêu chuẩn bảo đảm nhất chứng tỏ mình là môn đệ đích thực của Đức Giêsu. Chính khi chúng ta sống như thế, sống như những hiện thân của Đức Giêsu ở giữa anh chị em ta, thì ta đã làm cho câu nói sau đây của Đức Giêsu trở thành hiện thực và cụ thể: "Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Chúng ta hãy trở nên Giêsu hay Em-ma-nu-en ở giữa anh chị em mình! Cầu Nguyện Tôi thường nghe Thiên Chúa nói qua lương tâm tôi: "Cách đây hơn 2000 năm, Cha đã rao truyền chân lý, bày tỏ tình yêu và phục vụ săn sóc cho một số rất ít người Do Thái thời ấy qua con người Giêsu, Con của Cha. Cha vẫn muốn tiếp tục làm công việc yêu thương săn sóc ấy cho tất cả mọi người không trừ ai ở trần gian này. Nhưng lần này không phải qua con người Giêsu nữa, mà qua bản thân con và nhiều người khác như con. Con có đồng ý để Cha yêu thương họ bằng trái tim con, và phục vụ họ bằng đôi tay của con không?" 13. Chứng nhân Nước TrờiCó rất nhiều người lầm tưởng thiên đàng là một khoảng không gian nào đó trên cao kia. Sự lầm tưởng này đã làm phát sinh nhiều hậu quả không hay: người có đạo thì bị lung lay bối rối khi có một vài khoa học gia nói rằng: Chẳng thấy Chúa đâu trên kia cả; người không có đạo thì nghĩ: Có lẽ nước trời là một thế giới nằm đâu đó trong không gian, với những sinh hoạt na ná giống như trần gian này. Thế nên đã có câu chuyện khôi hài do một cha thừa sai kể lại: Sau một tuần giảng đại phúc thật sốt sắng tại một vùng đất nọ, các cha khuyên nhủ được một ông cụ ngoại đạo gia nhập đoàn chiên Chúa. Thấy cụ bà chưa có dấu hiệu nào khả quan, nên các cha tích cực khuyên bảo: "Ông đã theo đạo rồi, bà cũng nên theo đi thôi, để sau khi chết còn lên thiên đàng gặp lại nhau nữa chứ." Nghe thế cụ bà hốt hoảng trả lời, "Không được đâu, suốt đời ổng đã hành hạ tui đủ thứ. Mai mốt trên thiên đàng còn phải gặp lại mặt ổng nữa thì tui chết mất." Thiên đàng sẽ chỉ là một con số "không", chẳng có chút gì hấp dẫn nếu như nơi đó không có hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc chính là hoa trái của yêu thương, mà yêu thương thì phát xuất từ con tim, nghĩa là từ bên trong. Bên trong chứ không phải bên ngoài hay bên trên kia. Nước trời không ở bên ngoài hay bên trên, cũng không phải là một nơi nào đó trong không gian. Nước trời phải được hiểu như là một thực tại phía trong: trong lòng tôi, trong nơi tôi đang cư ngụ hay làm việc, và trong tầm với của gia đình. Cho nên nói Chúa Giêsu lên trời cũng chính là nói Chúa Giêsu đi vào trong đời ta, nhà ta, lòng ta, gia đình ta. Có như thế thì lời "Ta sẽ ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế" mới đong đầy ý nghĩa của nó. Chứ nếu như Ngài lên trời cao xanh hay Ngài ở nơi thế giới ngoài kia thì làm sao hiểu là Ngài đang ở cùng chúng ta được. Và vì Chúa Giêsu đã đi sâu vào đời ta, nhà ta, nên Ngài đã truyền cho chúng ta phải làm chứng cho sự hiện diện của Ngài. Chứng tá cho Đức Giêsu là làm sao vẽ được dung mạo của Ngài ngay trên cuộc sống của mình, làm sao cho người khác cảm nhận được sự hiện diện của Ngài ngay trong môi trường mình đang sinh hoạt, diễn tả được hình ảnh của Nước Trời đang ở giữa và ở trong chúng ta. Có nhà hoạ sĩ kia cứ mãi mơ ước trong đời mình sẽ vẽ được một bức tranh đẹp nhất thế giới. Nhưng anh ta không biết phải vẽ thứ gì để bức tranh sẽ có được hình ảnh, màu sắc, và nội dung sâu đậm đáng trở thành bức tranh tuyệt vời nhất trần gian. Chàng đã tìm hỏi với một linh mục về điều gì đẹp và ý nghĩa nhất. Vị linh mục trả lời ngay: "Niềm tin. Niềm tin là số một, niềm tin sẽ nâng cao giá trị con người. Niềm tin sẽ chữa lành và biến đổi mọi sự nên tuyệt vời." Chàng hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái đang bước lên xe hoa về nhà chồng. Cô gái trả lời: "Trên thế gian này không có gì đẹp bằng tình yêu. Tình yêu là hơi thở, là sức sống, là hạnh phúc, là tất cả. Tình yêu biến cay đắng thành ngọt ngào, đưa tiếng cười vào nơi than khóc, đổi nghèo hèn tầm thường thành phú quí cao sang. Tình yêu thật tuyệt vời." Cuối cùng người hoạ sĩ gặp một anh thương binh vừa trở về từ tiền phương. Anh lính đã trả lời: "Hoà bình là điều đẹp nhất trần gian. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đổ nát, bất hạnh, khổ đau. Ở đâu có hoà bình, ở đó có cái đẹp." Ba câu nói của ba con người - vị linh mục, cô gái sắp lấy chồng và anh thương binh trẻ - đã làm cho người hoạ sĩ phân vân: không biết phải làm thế nào để trên bức tranh của mình có thể diễn tả cùng một lúc niềm tin, tình yêu, và hoà bình. Đang suy nghĩ anh về đến nhà lúc nào không hay. Mấy đứa con anh ùa ra đón bố. Anh nhận thấy niềm tin trong ánh mắt của các con. Anh cũng cảm được tình yêu trong chiếc hôn chân thành của người vợ. Niềm tin của con cái và tình yêu của người vợ làm cho tâm hồn anh ta ấm áp và an bình lạ thường. Thế rồi một ý tưởng chợt loé lên trong đầu. Anh vội ngồi xuống khởi công vẽ tranh, và sau khi hoàn thành tác phẩm đẹp nhất thế gian, anh đã đặt tên cho nó: "Mái Ấm Gia Đình." Mái ấm gia đình chính là hình ảnh xinh đẹp và sống động nhất mà người ta có thể vẽ được về Nước Trời hay Thiên đàng ngay trên thế gian này. Mái ấm gia đình cũng sẽ là lời chứng tá hùng hồn nhất cho sự hiện diện của Đức Giêsu giữa dương gian. Bạn chưa cần phải đi đâu xa để làm chứng tá về niềm tin; bạn cũng chưa thể đi đến mút cùng trái đất để giảng về tình yêu và an bình của trời cao. Nhưng bạn có thể làm chứng tá cho Đức Giêsu ngay trong gia đình của mình. Trước mỗi hành động, lời nói, giao tế, cư xử, hãy tự hỏi: tôi có làm mất niềm tin nơi người bạn đời hay nơi con cái của tôi không? Tôi đang xây dựng tình thương và an bình hay đang sống phản chứng trước mặt con cái và bạn đời? Tôi có đang cố gắng vẽ lên chân dung của Thiên Chúa qua việc hy sinh để kiến tạo một mái ấm gia đình không? Những dòng chữ sau đây rất đáng cho bạn và tôi tâm niệm để ý thức hơn khi vẽ lên cho đời những "mái ấm": "Mái ấm là môi trường và là thánh đường đầu tiên cho tuổi thơ học thế nào là điều ngay, thế nào là điều thiện, thế nào là lòng tử tế. Đó là nơi tuổi thơ tìm về để được an ủi vỗ về mỗi khi đau khổ, bệnh tật. Đó là nơi chia sẻ niềm vui và xoa dịu buồn phiền. Đó là nơi cha mẹ được kính trọng và yêu thương... Đó là nơi mà những món ăn đơn sơ cũng trở thành cao lương mỹ vị, bởi vì là giá của mồ hôi nước mắt. Đó là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu. Và đó là nơi mà ngay cả nước sôi cũng reo lên niềm hạnh phúc. Mái ấm gia đình. Đó là nơi được Thiên Chúa chúc phúc." Ước gì Lễ Chúa Giêsu Lên Trời nhắc chúng ta về một Nước Trời tại thế--mái ấm gia đình--để sau Lễ Lên Trời này, bạn và tôi cũng sẽ theo bước chân của các môn đệ, lên đường làm chứng tá cho Đức Kitô, chứng tá ngay trong gia đình, chứng tá bằng việc xây dựng một mái ấm. Dù rằng cuộc đời của chứng nhân nào cũng không tránh khỏi đổ mồ hôi hay đổ máu, không tránh khỏi những hiểm nguy như chiên đi giữa sói rừng, không tránh khỏi khốn khổ như một người tôi tớ, nhưng đó là giá cần trả để có được một bức tranh tuyệt đẹp của niềm tin, yêu thương, và an bình hạnh phúc. 14. Hộ chiếuChuyện kể rằng: có một bà lão qua đời, suốt cuộc sống bà chẳng làm được việc thiện nào. Vì thế, Satan chộp lấy bà ném vào biển lửa. Nhưng thiên thần bản mệnh của bà không chịu thua. Ngài suy nghĩ một lúc lâu và nói: ”Lạy Chúa, có một lần bà đã đào một củ hành nhỏ trong vườn cho người ăn xin”. Chúa nói: ”Được, vậy con hãy lấy củ hành nhỏ tương tự, thả xuống biển lửa và kéo bà lên bằng củ hành nhỏ đó. Nếu con thành công, bà ấy sẽ được cứu”. Thiên thần cẩn thận kéo bà lên. Nhưng khi những người khác thấy bà bắt đầu đi lên, họ liền bám theo bà. Bà vội vàng đá tung họ ra và la lên: “Chỉ có tôi là được cứu bằng củ hành này, nó thuộc về tôi chứ đâu có thuộc về các người”. Lúc đó, củ hành bị tách ra và bà rơi trở lại biển lửa. Thiên thần quay mặt đi khóc cho số phận của một con người quá ích kỷ. Chúa về trời và Người muốn cho các con cái cũng được lên trời với Người. Vì Người đã cầu xin Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con”. Nhưng muốn được lên trời cũng phải có hộ chiếu của nước trời. Hộ chiếu đó chính là tình yêu thương. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Mọi điều Thầy truyền chỉ tóm lại có một điều là “Mến Chúa yêu người”. Vì thế, tình yêu thương chính là thước đo, là điều kiện, là bảo đảm cho người tín hữu được lên trời với Chúa. Chúng ta tưởng trời ở thật xa nhưng thực ra lại rất gần. Đức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ở đâu có Chúa là ở đấy có thiên đàng, vậy trời há không ở trong lòng chúng ta đấy ư? Trời ở ngay trong trái tim chúng ta, những trái tim đầy ắp yêu thương, ngập tràn Thiên Chúa. Trời ở ngay trong thế giới này, nếu đó là một thế giới yêu thương và hòa bình, chia sẻ và tha thứ cho nhau. Chúng ta tưởng mình chỉ được lên trời sau cuộc sống này, nhưng thực ra thì chúng ta đang vui hưởng hạnh phúc nước trời. Hạnh phúc nước trời là khi chúng ta không màng lợi danh lạc thú, cũng chẳng ngại ngần trước khổ đau và nỗi chết. Nhưng luôn biết chia sẻ cho anh em, xả thân phục vụ hết mọi người. Vì phục vụ là tên gọi của tình yêu. Lạy Chúa, con đường về trời là con đường yêu thương. Xin chỉ cho chúng con biết đường về trời bằng cách sống hiến thân, phục vụ và trao ban. Xin đừng để những truân chuyên nơi cuộc sống này làm chúng con quên mất trời cao. Xin đừng để những quyến rũ của trần gian cản lối chúng con về trời. Ước gì qua cuộc sống chúng con mọi người sẽ nhận ra con đường về trời. CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH (Năm A)1. Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhấtSuy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 17, 1-11a II. TẤM BÁNH CHIA SẺ Bài Tin mừng hôm nay tràn ngập tâm tình yêu mến của Chúa Giêsu. Đó là tâm tình yêu mến với Đức Chúa Cha, Đấng mà Chúa Giêsu luôn gắn bó, luôn kết hiệp chặt chẽ, luôn vâng phục. Và hôm nay trước giờ phút sắp hoàn thành nhiệm vụ. Chúa Giêsu mong ước được về với Đức Chúa Cha. Tâm tình yêu mến cũng hướng Chúa Giêsu về các môn đệ. Chúa thương các ông còn ở lại trần gian với bao nguy cơ rình rập. Nên Chúa cầu nguyện cho các ông và xin Đức Chúa Cha thương nâng đỡ các ông. Xuyên qua những lời cầu nguyện, những tâm tình tha thiết của Chúa Giêsu, ta thấy Người đã hoàn thành vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và con người ở 3 khía cạnh. Chúa Giêsu là trung gian chuyển cầu. Con người chưa biết Thiên Chúa nên cũng chưabiết cầu nguyện. Và chắc chắn là lời cầu nguyện của con người, nếu có, cũng không xứng đáng dâng lên trước toà Thiên Chúa, vì con người quá hèn lại còn tội lỗi nữa. Trong hoàn cảnh ấy, Chúa Giêsu đã là một trung gian thế giá không những dâng lời cầu nguyện của con người lên Thiên Chúa mà còn đích thân cầu nguyện cho con người. Hôm nay, người tha thiết nói với Đức Chúa Cha: “Con cầu nguyện cho họ”. Người không chỉ cầu nguyện cho các môn đệ yêu dấu, mà còn cầu nguyện cả cho những kẻ thù ghét hành hạ, giết chết Người. Trên thập giá, lúc gần tắt hơi, Người còn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin Cha tha cho họ, vì họ lầm không biết”. Chúa Giêsu là trung gian nối kết. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người. Là Thiên Chúa, Người ngang hàng với Thiên Chúa, hiểu biết về Thiên Chúa. Là con người, Người đã sống như một con người với tất cả những buồn vui sướng khổ. Là Thiên Chúa, nên Người có thểgiới thiệu Thiên Chúa cho con người như Người nói: “Con đã cho họ biết danh Cha… vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con”. Là con người nên Người thông cảm với con người, có thể là đại diện, là trung gian cho con người với Đức Chúa Cha. Người đã nối kết Thiên Chúa với con người. Người là nhịp cầu nối đất trời với đất. Nhất là qua cuộc cứu chuộc, Người đã phá đổ bức tường ngăn cách, xoá bỏ thù hận, hoà giải con người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu là trung gian cứu độ. Chúa Giêsu xuống trần gian để cứu độ loài người. Để cứu độ loài người, Chúa Giêsu hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá. Người đã nêu gương tâm tình hiếu thảo để chuộc lại sự bất hiếu của loài người. Người đã nêu gương vâng phục để chuộc lại sự bất tuân của loài người. Người đã hoàn thành nhiệm vụ tôn vinh Chúa Cha như Người nói: “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm”. Người đã mở ra con đường cứu độ để từ nay tất cả những ai muốn được cứu độ phải đi tìm con đường ấy. Đó là chu toàn nhiệm vụ Thiên Chúa trao phó cho mỗi người trong cuộc sống trần gian. Đó là sống tâm tình hiếu thảo với Đức Chúa Cha. Tâm tình hiếu thảo được biểu lộ qua sự hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, cho dù phải đau khổ, phải chết. Con người Chúa Giêsu là con đường duy nhất. Vì dù ta có chu toàn nhiệm vụ, vâng phục Thánh ý Chúa Cha trong mọi sự, ta cũng chỉ được ơn nghĩa qua Chúa Giêsu, nhờ công ơn Chúa Giêsu mà thôi. Tạ ơn Chúa Cha đã ban cho ta Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương mặc khải cho biết Chúa Cha. Tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đã chấp nhận thân phận loài người để ở giữa chúng ta, hoàn toàn thông cảm với thân phận yếu đuối con người chúng ta. Tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đã mở cho ta con đường đi về với Chúa Cha, để cho ta được sự sống đời đời. III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU 1)Bạn có tâm tình gắn bó với Đức Chúa Cha như Chúa Giêsu không? 2) Bạn ý thức vai trò trung gian của Chúa Giêsu như thế nào? 3) Bạn sẽ làm gì để sống niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu như Đấng Trung Gian duy nhất? 2. Lạy Chúa, đây là tất cả cuộc sống của conWilliam Allen White, một chủ bút nổi tiếng của tờ báo "Emporia Gazette", là một thành phần nhiệt thành của Đảng Dân Chủ. Một lần ông phải đi tham dự một buổi họp mặt của Đảng Cộng Hòa với tư cách là một phóng viên chính trị. Khi buổi họp khai mạc, người chủ hội đã mời ông White dâng lời nguyện chung. William Allen White đã từ chối ngay, "Không, tôi sẽ không cầu nguyện ở nơi đây bởi vì hai lý do. Thứ nhất là bởi vì tôi không được huấn luyện để cầu nguyện nơi chung. Thứ hai là bởi vì tôi không muốn Chúa biết tôi hiện diện ở nơi đây." Sự tiến triển đời sống tâm linh của chúng ta bị hạn hẹp ở những phạm vi nào mà chúng ta cố ý để trốn tránh Thiên Chúa. Chúng ta cần phải biết rằng khi chúng ta càng biết đem Chúa vào từng lãnh vực của cuộc sống chúng ta thì mối tình của chúng ta sẽ càng khăng khít hơn, và chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài bên ta một cách thiết thực hơn. Chúng ta có lẽ còn nhớ câu chuyện "Người đàn bà góa dâng cúng hai xu". Chúa Giêsu ngồi bên thùng dâng cúng của Đền Thờ, và Ngài nhìn thấy nhiều người bỏ vào thùng rất nhiều tiền. Tuy nhiên, điều Ngài nhận thấy là cho dù người ta có bỏ vô thùng dâng cúng rất nhiều, nhưng họ chỉ dâng cho Thiên Chúa những của dư, hoặc là họ làm như thế bởi vì họ đi tìm danh vọng. Món quà họ dâng cho Chúa không có chút thành tâm nào cả. Có lẽ một số trong chúng ta ngày nay cũng đang hành động như số người này. Đến khi Chúa Giêsu nhìn thấy người đàn bà góa chỉ bỏ vô thùng dâng cúng có hai xu thì Ngài đã ca ngợi tấm lòng của bà ấy. Dĩ nhiên, đồng tiền dâng cúng là một điều cần thiết để giúp xây dựng cộng đoàn và làm cho nó tồn tại, thế nhưng, không phải vì đó mà chúng ta lạm dụng việc này để đạt một mục đích khác. Chúng ta bỏ tiền vô nhà thờ, nhưng chúng ta nên làm việc này với một tâm tình như người đàn bà góa. Bà đã làm với tất cả tấm lòng chân thành và yêu mến của bà. Chính vì lòng mến của bà mà bà đã không quản ngại dâng cho Chúa tất cả những gì bà có. Có lẽ khi xét mình, chúng ta sẽ thấy rằng ở một lãnh vực nào đó, chúng ta nói với Chúa rằng "Xin Chúa tránh chỗ này trong cuộc sống của con! Đây là điều bí mật của con! Xin Ngài đừng đụng tới..." Kết quả là chúng ta đuổi Chúa ra khỏi những nơi quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, và đồng thời chúng ta cũng ngăn cản ơn thánh xuống trên chúng ta. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha rằng, "Phần Con, Con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho Con làm. Tất cả những gì của Con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của Con" (Ga 17, 4.10). Chúng ta hãy nói với Chúa rằng, "Lạy Chúa, đây là tất cả cuộc sống của con, tất cả mọi hành vi trong ngoài của con, kể cả tiền bạc của cải! Con yêu Chúa! Con muốn bộc lộ tình yêu của con đối với Chúa! Tất cả những gì con có đều bởi Chúa ban cho con!" 3. Đau khổ và vinh quangNhiều người trong chúng ta thường phản ứng như thế này: Họ lớn tiếng ca ngợi vàcảm tạ Thiên Chúa khi gặp được những may mắn và thành công, nghĩa là khi cuộc đời mỉm cười với họ. Thế nhưng, họ lại vội vã xúc phạm và nguyền rủa Thiên Chúa khi gặp phải những bất hạnh và khổ đau, nghĩa là khi cuộc đời trở thành một gánh nặng đè xuống trên vai họ. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta nên nhớ rằng mình là người môn đệ của Đức Kitô bị đóng đanh. Vì thế, những gian nan và thử thách, những khổ đau và buồn phiền, những bắt bớ và cấm cách chỉ là chuyện thường tình, không bao giờ thiếu vắng trong cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, điều quan trọng và cần thiết, đó là chúng ta phải biết kết hợp những khổ đau của chúng ta với cuộc thương khó của Đức Kitô. Lúc đó, đau thương sẽ là đường lên ánh sáng, gian khổ sẽ là đường về vinh quang và thập giá sẽ là đường dẫn chúng ta tới sự phục sinh. Thánh Phêrô đã nói với chúng ta: - Anh em hãy vui mừng vì được thông phần vào sự thống khỏ của Đức Kitô để khi vinh quang của Ngài tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ. Đứng trước những khổ đau, thay vì hậm hực tức tối, chúng ta phải biết nhìn nó bằng cặp mắt đức tin. Tư tưởng sau đây của một tu sĩ Ấn độ rất đáng cho chúng ta suy nghĩ: - Khi người đàn bà vò chiếc áo của mình rồi đập nó trên dòng nước, thì bà ta không có ý vùi dập nó, trái lại, bà muốn nó được trắng hơn, sạch hơn để mặc trong những ngày lễ. Cũngvậy, khi Thiên Chúa thử thách con người và tẩy rửa nó bằng nước mắt, thì Ngài cũng muốn nó được trở nên giống Ngài hơn. Chúng ta khóc lóc và tuyệt vọng khi mất đi một người thân yêu. Thế nhưng, khi mất đi một sự còn quí giá hơn cả những người thân yêu, thì tại sao chúng ta lại không khóc lóc: đó là khi chúng ta mất đi chính bản thân chúng ta. Cha Chevrier đã viết như sau: - Chính những khổ đau đã tôi luyện chúng ta trở nên những con người thực sự. Hay như tục ngữ cũng đã nói: - Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Có một vị thừa sai ở Bắc cực, ngày kia đã cằm một tượng thánh giá lớn trong tay để hôn. Nhưng vì trời quá lạnh khiến cho vị thừa sai ấy không còn làm chủ được những hành động của mình nữa. Vì tê cóng khiến tay bị run, nên vị thừa sai ấy đã để cho tượng thánh giá đập vào môi và tạo nên một vết thương chảy máu. Đây quả là một hình ảnh đẹp và có ý nghĩa. Thực vậy, chúng ta phải hoàn tất công cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Ngày hôm nay, Ngài không còn đổ máu, nhưng đến lượt chúng ta: môi niệng, thân thể, trái tim cũng như tâm hồn chúng ta phải đổ máu. Bởi đó, hãy bước đi với Chúa trên con đường thập giá, để nhờ đó chúng ta sẽ được chia sẻ phần vinh quang phục sinh với Ngài. 4. Cầu nguyệnVào một buổi tối thứ bẩy, thầy giáo cùng với đội bóng của nhà trường đáp máy bay trở về sau một cuộc thi đấu. Thế nhưng máy bay bị trục trặc nghiêm trọng, phải đáp xuống khẩn cấp. Trong lúc hoảng hốt, một em học sinh đã kêu to. Xin thầy hướng dẫn chúng em cầu nguyện, tất cả chúng em đều sợ hãi lắm. Thầy giáo liền cầu nguyện lớn tiếng thay cho mọi người. Mấy phút sau, máy bay đáp xuống an toàn, không phát nổ và không có ai bị thương. Tối hôm sau, thầy giáo đến nhà thờ cùng với gia đình và dâng lễ tạ ơn. Và trước khi đi ngủ, ông đã đóng cửa phòng và quì gối cầu nguyện: - Lạy Chúa, mặc dầu con không biết được kế hoạch và ý định của Chúa, nhưng kể từ nay, con sẽ nhấn mạnh cho đám thanh thiếu niên được con huấn luyện biết rằng: Còn có điều quan trọng cho cuộc đời hơn là chỉ biết chơi bóng đá. Và giúp họ biết rằng Chúa đã dành cho cuộc đời chúng con một mục đích. Từ câu chuyện trên và dựa vào nền tảng Kinh Thánh, chúng ta thấy có ba hình thức cầu nguyện. Thứ nhất là cầu nguyện riêng, nghĩa là cầu nguyện một mình, giống như ông thầy giáo đã làm trong phòng riêng của mình trước khi đi ngủ. Thứ hai là cầu nguyện theo nhóm, nghĩa là khi chúng ta cùng với gia đình hay bè bạn thân tín cầu nguyện chung với nhau, giống như ông thầy giáo cùng với các em đã làm khi chiếc máy bay lâm nạn. Cuối cùng là cầu nguyện cộng đồng, nghĩa là khi chúng ta cầu nguyện cùng với cộng đồng Kitô hữu rộng lớn hơn, giống như trường hợp ông thầy và gia đình đi dâng lễ tạ ơn. Trong cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đã cầu nguyện dưới ba hình thức này. Trước hết Ngài đã cầu nguyện một mình. Sau một ngày vất vả, thì ban đêm, Ngài thường lên núi hay tìm một nơi thanh vắng để cầu nguyện, tâm sự, kết hiệp với Chúa Cha. Tiếp đến Ngài cũng đã cầu nguyện trong những nhóm nhỏ, như với gia đình, với bè bạn. Các gia đình Do Thái thường có thói quen cầu nguyện chung với nhau. Và gia đình của Chúa Giêsu hẳn không nằm ngoài thói quen đó… Rồi Ngài cũng thường cầu nguyện với các môn đệ. Phúc âm thánh Luca kể lại: Ngài đem Phêrô, Gioan và Giacôbê theo Ngài lên núi để cầu nguyện. Sau cùng, Ngài đã cầu nguyện chung với cộng đoàn. Phúc âm đã nhiều lần nói rằng: Theo lệ thường, Chúa Giêsu đến hội đường vào ngày Sabbat để cầu nguyện. Từ mẫu gương của Chúa Giêsu, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong sách Tông đồ Công vụ, các môn đệ đầu tiên cũng đã cầu nguyện như thế. Chúng ta gặp thấy Phêrô cầu nguyện một mình, rồi các môn đệ tụ tập nhau thành từng nhóm nhỏ cầu nguyện, và cuối cùng chúng ta gặp thấy họ nhóm họp thành cộng đoàn để cầu nguyện như khi cử hành nghi thức bẻ bánh. Còn chúng ta thì sao? Cho đến ngày hôm nay, chúng ta đã cầu nguyện như thế? Chúng ta đã thực sự gặp gỡ, tâm sự và trò chuyện với Chúa trong những giây phút cầu nguyện hay chưa? 5. Abba – Lạy ChaBài Phúc âm hôm nay, trích từ “Cuộc nói chuyện cuối cùng” của Chúa Giêsu với các môn đệ ở Bữa Ăn Tiệc Ly, và thường được gọi là “Lời cầu nguyện của Đức Giêsu, Thầy cả Thượng phẩm”. Trong Cựu Ước, những thầy thượng phẩm thường dâng lời cầu nguyện với công thức: trước hết, cầu nguyện cho chính họ, rồi cho những người thân nhân, và sau cùng cho toàn thể cộng đoàn Israel. Theo cùng một công thức, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho chính Ngài, rồi sau đó cho các môn đệ của Ngài, và sau cùng cho tất cả mọi người tin tưởng vào Ngài. Bài Phúc âm hôm nay chỉ gồm phần Chúa Giêsu cầu nguyện cho chính Ngài và một phần cầu nguyện cho các môn đệ. Chúng ta nhận thấy có hai điểm nổi bật: 1) Chúa Giêsu vô cùng yêu mến Cha trên trời của Ngài: Các nhà chú giải Thánh Kinh đếm được trong Phúc âm của Gioan, Chúa Giêsu dùng chữ “Abba, Cha” để chỉ về Thiên Chúa ít nhất 170 lần. Riêng trong toàn thể lời cầu nguyện này, chữ “Abba, Cha” đã được dùng tới 59 lần. Và trong tất cả các thư của thánh Phaolô đều mở đầu bằng việc tuyên xưng Thiên Chúa là Cha. 2) Chúa Giêsu cũng vô cùng yêu mến các môn đệ của Ngài: Trong lời cầu nguyện này, Ngài đã nhắc đến họ 49 lần. Trong ngôn ngữ Do Thái cổ Aramaic, tiếng “Abba” là một từ rất đặc biệt dùng diễn tả sự thân mật yêu thương, nồng nàn nhất. Đặc biệt vì hình thức tự nhiên của nó, không khách sáo, không kiểu cách, không hình thức. Đây là một mạc khải đầy ngạc nhiên mà Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết. Ngài mời gọi chúng ta kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, một người Cha yêu mến và săn sóc chúng ta. Tình yêu đó được diễn tả trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc con người. Trong bài giáo lý “Thiên Chúa là Tình Yêu” vào dịp mừng Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Chân lý Thiên Chúa là tình yêu làm nên đích điểm của tất cả những gì đã được mạc khải, “qua các tiên tri và trong những ngày sau hết này qua Người Con”… Tình yêu vẫn là một diễn đạt của quyền toàn năng đối diện với sự dữ, với tội lỗi của các thụ sinh. Chỉ có tình yêu toàn năng mới có thể rút được sự lành từ sự dữ, sự sống mới từ tội lỗi và sự chết thôi. Tình yêu như một quyền lực ban sự sống và làm sinh động. Tình yêu hiện diện trong toàn thể mạc khải”. Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến tình yêu Thiên Chúa khi loài người chuẩn bị bước sang ngàn năm Thứ Ba với tâm thức đầy kiêu căng và tự phụ của mình. Hơn bao giờ hết, con người ngày nay tỏ ra chống lại với một Thiên Chúa của tình thương. Họ có khuynh hướng muốn loại trừ tình yêu Thiên Chúa ra khỏi đời sống và ra khỏi cõi lòng của con người. Đang khi con người càng ngày càng muốn đặt niềm tin vào chính mình và vào thế giới vật chất, thì họ cũng càng ngày càng gặp nhiều vấn đề nan giải. Bạo lực, chiến tranh, nghèo đói, bất công, thù hận… dường như đã gia tăng theo sự phát triển của nền văn minh hiện đại mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gọi là nền “văn hóa của sự chết”! Con người ngày nay đã cố tình muốn quên đi diễm phúc tinh thần cao cả và vinh quang khôn lường được làm con cái Thiên Chúa, để mặc vào những ảo ảnh phù vân của vật chất và trần gian như Đức cố Hồng Y John Henry Newman đã nhận xét: “Sự giàu có là vị thần vĩ đại của ngày nay: rất nhiều người, tầng tầng lớp lớp người tự nhiên tôn vinh vị thần này. Người ta đo hạnh phúc bằng cái thước của tài sản, và người ta đo sự đáng kính cũng bằng cái thước này… Người ta xác tín như vậy vì tin rằng có tiền thì làm gì cũng được. Như vậy sự giầu có là một trong những thần tượng của ngày nay. Một thần tượng khác nữa là danh vọng… Được danh tiếng, được người ta biết đến mình, có tiếng vang trên thế giới (đó là danh tiếng trên báo chí), đã được người ta coi là một sự thiện, là sự thiện tối cao, và một điều được người ta thật sự tôn quý”. Diễm phúc được làm con cái Thiên Chúa được Giáo Hội diễn tả như sau: “Thiên Chúa đã đặt chúng ta ở thế gian này để nhận biết Ngài, phụng sự Ngài và yêu mến Ngài, và như vậy chúng ta sẽ được lên thiên đàng. Vinh phúc cho ta được dự phần vào bản tính thần linh và được tham dự vào sự sống vĩnh cửu. Với cuộc sống vĩnh cửu, con người bước vào vinh quang của Chúa Kitô và được hưởng sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa”. Thiên Chúa không chỉ mời gọi chúng ta tham gia vào tình yêu và hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng Ngài còn nỗ lực kiếm tìm chúng ta như tìm kiếm một con chiên lạc. Công cuộc kiếm tìm này khởi sự với sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Thiên Chúa đi tìm con người vì họ đã được dựng nên theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài. Bởi từ đời đời Ngài đã yêu thương họ. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã diễn tả như sau: “Thiên Chúa đi tìm kiếm con người là sở hữu đặc biệt của Ngài bằng một đường lối không giống như các tạo vật khác. Con người là sở hữu của Thiên Chúa bởi việc yêu thương chọn lựa: Thiên Chúa tìm kiếm con người theo tấm lòng hiền phụ rung cảm của mình”. 6. Abba – Lạy ChaCha Anthony De Mello đã ghi lại cảm nghiệm làm con cái Thiên Chúa của ngài như sau: “Tôi sống mối quan hệ rất tốt với Chúa. Tôi trò chuyện với Ngài, cầu xin, chúc tụng, tạ ơn Ngài. Nhưng tôi cứ có cảm giác khó chịu là Ngài muốn tôi nhìn vào mắt Ngài. Nhưng tôi không nhìn. Tôi chỉ nói và nhìn ra nơi khác nếu tôi cảm thấy như thể Ngài đang nhìn tôi. Tôi thường xuyên nhìn ra nơi khác như thế, vì tôi sợ ! Tôi nghĩ rằng cặp mắt Ngài sẽ tố giác tôi về những tội lỗi nào đó chưa chừa được ! Hoặc là cặp mắt đó sẽ đòi hỏi tôi phải làm điều gì đó. Cuối cùng, một ngày kia, tôi thu hết can đảm và nhìn lên. Không có tố giác ! Chẳng có đòi hỏi ! Cặp mắt ấy chỉ muốn nói: “Cha yêu con !” Tôi nhìn lại nữa. Cũng vẫn lời nhắn nhủ ấy: “Cha yêu con !” Tôi bước ra ngoài, và như thánh Phaolô xưa, tôi khóc”. Trong cuốn “Abba, Lạy Cha !” khi suy niệm về kinh Lạy Cha, Đức Cha Bùi Tuần chia sẻ: “Chúa Giêsu nói: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Thiên Chúa là Cha, không phải chỉ là Cha của Chúa Giêsu, mà cũng là Cha của tôi, của bạn, của chúng ta. Cha trên trời của chúng ta có vô vàn vẻ đẹp. Nhưng có một đặc điểm mà thánh Phaolô đã cho là rất đẹp, rất quan trọng, rất cần nêu lên, đó là lòng thương xót – Deus Dives in Misericordia – Thiên Chúa giầu lòng thương xót. Đó là một hình ảnh rất đúng và cũng rất dễ hiểu về Thiên Chúa”. Khi khẩu súng máy mới bắt đầu được phát minh, đã có một vấn đề xảy ra. Nếu khẩu súng máy bắn liên tục trong một thời gian sẽ làm nóng đỏ nòng súng lên và gây ra kẹt đạn. Trong một số trường hợp, nòng súng có thể bị nổ tung ra. Lúc ban đầu đã có hai biện pháp đơn giản được đưa ra để giải quyết vấn đề này: hoặc là thay đổi nòng súng khác, hay tạm ngưng bắn trong một thời gian nào đó. Sự dồn dập và căng thẳng của cuộc sống vật chất đang đè nén trên tâm hồn con người giống như nòng súng đã bị nóng đỏ lên, cần phải làm cho nó mát lại hoặc được nghỉ ngơi. Con người cần phải trở về nguồn sức mạnh thần linh thực sự của mình và nhận biết tình yêu Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã mời gọi: “Sự sống đời đời đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô”. Trong quyển sách “The Gift of Peace”. Đức cố Hồng Y Joseph Bernadin đã kể về tình yêu của cha ngài đối với con cái. Khi ngài vừa lên 4 tuổi, cha ngài đã bị bệnh ung thư, và trải qua một cuộc giải phẫu ở vai trái. Một hôm đến nhà người bạn chơi, vô tình ngài bị ngã từ lan can hiên nhà rơi xuống đất, rồi khóc thét lên… Ngay lập tức, cha ngài nhẩy qua lan can phóng xuống đất, bồng ngài lên và hỏi: “Con có sao không?” Nằm gọn trong cánh tay của cha rồi, ngài mới nhận thấy máu đỏ từ vết thương mới mổ ở vai đã chảy ra, ngấm qua những lớp băng, ướt vai áo sơ mi trắng ngắn tay của cha. Người cha đã không kể gì đến vết thương mới mổ, mà chỉ lo cho tính mạng của người con. Thật là một tình yêu hy sinh đến quên mình vì con cái của một người cha nhân ái. Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời cũng yêu thương con cái vô cùng, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dùng lời Thánh Kinh mà nói rằng: “Chân lý, được mạc khải nơi Chúa Kitô, về Thiên Chúa là “Người Cha giầu lòng Thương Xót”, cho chúng ta thấy Ngài đặc biệt gần gũi với con người, nhất là khi con người chịu đau khổ, bị đe dọa ở ngay giữa cuộc hiện hữu và phẩm vị của mình”. 7. Chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển- Cao tấn TĩnhHôm nay là Chúa Nhật và là tuần cuối cùng của Mùa Phục Sinh 50 ngày. Chủ đề "Thày là sự sống" của Mùa Phục Sinh từ Chúa Nhật IV Phục Sinh vẫn tiếp tục nơi bài Phúc Âm của Chúa Nhật VII Phục Sinh hôm nay. Bài Phúc Âm hôm nay là phần đầu của Lời Nguyện Tiệc Ly. Lời Nguyện Tiệc Ly của Chúa Giêsu được Giáo Hội chia ra làm ba phần cho ba bài Phúc Âm của ba Chu Kỳ Phụng Vụ A, B và C, thuộc Chúa Nhật VII Phục Sinh hằng năm. Theo nội dung của mình, có thể nói, Lời Nguyện Tiệc Ly là đoạn Phúc Âm Tâm Điểm của riêng Bốn Phúc Âm và của chung Toàn Bộ Thánh Kinh. Vì đoạn Phúc Âm này cho thấy Toàn Diện Mạc Khải Thần Linh về Dự Án Cứu Độ cũng như Công Cuộc Cứu Độ của Thiên Chúa. Ý chính của Lời Nguyện Tiệc Ly này là "sự sống đời đời", một sự sống được Con thông ban cho Giáo Hội (phần nhất), một Giáo Hội ở thế gian song không thuộc về thế gian (phần hai), để Giáo Hội được hiệp nhất nên một với Cha và Con cho thế gian nhờ Giáo Hội mà được sự sống (phần ba). Vì tính cách quan trọng của Lời Nguyện Tiệc Ly này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu từng câu một: "Lạy Cha, đã đến giờ rồi! Xin hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha cũng được tôn vinh Cha, vì Cha đã ban cho Người quyền bính trên toàn thể nhân loại, để Người ban sự sống đời đời cho những ai Cha đã trao cho Người. (Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô)". "Đã đến giờ rồi!" Đây là giây phút tuyệt đỉnh của Lời Nhập Thể trong tất cả thời gian sống trên trần thế của Người, đến nỗi, nếu không có giây phút này, cũng không cần đến giây phút Nhập Thể, cũng không có giây phút Tạo Dựng, không có gì cả. "Xin hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha cũng được tôn vinh Cha": Sở dĩ "giờ" khắc Chúa Giêsu nói đến ở đây vô cùng quan trọng như vậy, là vì đó là giây phút Thiên Chúa Thần Hiển. Không phải là một cuộc thần hiển như những cuộc thần hiển biểu hiện trong Cựu Ước, như cuộc thần hiển ở bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi (x Ex 3:2), hay cuộc thần hiển trên núi Sinai trước khi Thiên Chúa ban Thập Giới (x Ex 19:16). Mà chính là một Thực Tại Thần Linh Hiện Thực, một cuộc Thần Hiển tỏ hiện tất cả Nội Tâm của Thiên Chúa. Ở chỗ, Cha tôn vinh Con và Con tôn vinh Cha. Cha tôn vinh Con, ở chỗ, Cha chứng tỏ Con thực sự là Con của Cha, thực sự là Đấng Ngài sai. Và Con tôn vinh Cha, ở chỗ, Con chứng tỏ rằng Con được Cha sai, Con từ Cha mà đến. Và Cuộc Thần Hiển Thực Tại Thần Linh về việc Cha Con tôn vinh nhau này được thực hiện qua Biến Cố Vượt Qua, như đã chia sẻ ở Chúa Nhật VI Phục Sinh Năm A: "Cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô thực sự là việc 'Thày đi để dọn chỗ cho các con', một biến cố là tuyệt đỉnh Mạc Khải Thần Linh: 'Thày ở trong Cha' qua việc Tử Giá, dấu chứng tỏ Người được Cha sai; và 'Cha ở trong Thày' qua việc Phục Sinh, dấu Cha chứng tỏ Chúa Kitô đúng là 'Đấng Cha sai'". "Vì Cha đã ban cho Người quyền bính trên toàn thể nhân loại, để Người ban sự sống đời đời cho những ai Cha đã trao cho Người". Sở dĩ có Cuộc Thần Hiển Vượt Qua vô tiền khoáng hậu, Cuộc Thần Hiển của "giờ" khắc quan trọng nhất trong lịch sử tạo vật nói chung và lịch sử loài người nói riêng này cần phải thực hiện, cần phải xẩy ra, là vì Thiên Chúa muốn cho "toàn thể nhân loại" được thông hưởng Sự Sống Thần Linh của Ngài trong Con Ngài là Lời Nhập Thể. "Quyền bính trên toàn thể nhân loại" đây không phải là khả năng thông ban "sự sống đời đời", mà là tư cách "quyền bính" của Con Ngài khi nhập thể, tức tư cách đóng vai "là trưởng tử của tất cả mọi tạo vật" (Col 1:15), "là trưởng tử của một đàn em đông đúc" (Rm 8:29), "là đầu của thân thể Giáo Hội" (Col 1:18). Và đó là lý do thành phần đầu tiên và trên hết Con cho tham hưởng "sự sống đời đời" đây chính là "những ai Cha đã trao cho Người". Điển hình là thành phần tông đồ chứng nhân tiên khởi, nền tảng của Giáo Hội Chúa Kitô (x Eph 2:20), thành phần sẽ được trực tiếp lãnh nhận "sự sống đời đời" từ Người, cũng là thành phần cần phải thông ban "sự sống đời đời" này cho "toàn thể nhân loại". "(Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô)". Phải, "toàn thể nhân loại" nói chung, và thành phần "những ai Cha đã trao cho Con" nói riêng, được thông hưởng "sự sống đời đời" đây tức là được Lời Nhập Thể ban cho họ có một Kiến Thức Thần Linh, để nhờ đó họ có thể "nhận biết": Cha là Thiên Chúa và Con là Đấng Thiên Sai, hay có thể "nhận biết" Thực Tại Thần Linh "Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày", một Thực Tại được Chúa Giêsu mạc khải ở Phúc Âm Chúa Nhật V Phục Sinh Năm A, một Thực Tại được hiện thực bằng Cuộc Vượt Qua của Lời Nhập Thể, một Biến Cố Thần Hiển Cha tôn vinh Con, Con tôn vinh Cha. "Con đã tôn vinh Cha trên mặt đất này, bằng cách chu toàn những gì Cha đã bảo Con làm. Giờ đây, Cha ơi, xin hãy ban cho Con vinh hiển ở bên Cha, vinh hiển Con có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành. Con đã tỏ danh Cha cho những người Cha đã trao cho Con trên thế gian. Những người Cha đã trao cho Con này là của Cha; họ đã giữ lời Cha. Giờ đây họ nhận biết rằng tất cả những gì Cha đã ban cho Con đều từ Cha mà đến. Con đã ký thác cho họ sứ điệp Cha đã trao phó cho Con, và họ đã nhận lấy sứ điệp này. Họ đã thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ tin rằng chính Cha là Đấng đã sai Con". "Con đã tôn vinh Cha trên mặt đất này, bằng cách chu toàn những gì Cha đã bảo Con làm". Đúng thế, đường lối duy nhất để Lời Nhập Thể có thể chứng thực mình là Đấng Thiên Sai đó là "chu toàn những gì Cha đã bảo Con làm". Và chính khi "chu toàn những gì Cha đã bảo Con làm" là "Con đã tỏ Cha ra" (Jn 1:18), tức đã làm cho Cha được nhận biết "trên trái đất này". Ở chỗ, đã cho riêng Dân Chúa nhận biết rằng "Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất", một Vị Thiên Chúa của Giao Ước, của Lời Hứa, và cũng là Vị Thiên Chúa đã trung thành giữ những gì Ngài hứa, trung thành với giao ước của mình, bất chấp việc con người trắng trợn và liên lỉ bất trung, như Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái trong Cựu Ước cho thấy. "Giờ đây, Cha ơi, xin hãy ban cho Con vinh hiển ở bên Cha, vinh hiển Con con có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành". Chính vì "Con đã tôn vinh Cha trên trái đất này, bằng cách chu toàn những gì Cha đã bảo Con làm" như thế mà Con cũng tỏ cho thế gian thấy rằng Con chính là Con Cha. "Vinh hiển ở bên Cha, vinh hiển Con có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành" " là ở chỗ đó, là ở chỗ Con là Con Cha, "là phản ảnh vinh quang Cha, là hiện thân đích thực của bản thể Cha" (Heb 1:3). Một "phản ảnh vinh quang" và "một hiện thân" mà khi "hóa thành nhục thể" (Jn 1:14), Con đã thể hiện rõ ràng qua việc "chu toàn những gì Cha đã bảo Con làm". "Con đã tỏ danh Cha cho những người Cha đã trao cho Con trên thế gian. Những người Cha đã trao cho Con này là của Cha; họ đã giữ lời Cha. Giờ đây họ nhận biết rằng tất cả những gì Cha đã ban cho Con đều từ Cha mà đến". Vẫn biết Con có "quyền bính trên toàn thể nhân loại", nhưng, trước hết và trên hết, "Con đã tỏ danh Cha cho những người Cha đã trao cho Con trên thế gian". Bởi vì, "Những người Cha đã trao cho Con này là của Cha", tức thành phần Cha "lôi kéo" (Jn 6:44), hay Cha "cho phép" (Jn 6:65), mới có thể "giữ lời Cha", tức mới có thể "đến cùng" Con (là Lời Cha), hay mới có thể "chấp nhận" (Jn 1:12) Lời Nhập Thể: "Giờ đây họ nhận biết rằng tất cả những gì Cha đã ban cho Con đều từ Cha mà đến" là như thế. Hay họ nhận biết Con từ Cha mà đến, Con "là hiện thân đích thực của bản thể Cha" cũng vậy. "Con đã ký thác cho họ sứ điệp Cha đã trao phó cho Con và họ đã nhận lấy sứ điệp này. Họ đã thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ tin rằng chính Cha là Đấng đã sai Con". Cũng chính vì "những người Cha đã trao cho Con trên thế gian" biết chấp nhận Con như thế mà "Con đã ký thác cho họ sứ điệp Cha đã trao phó cho Con và họ đã nhận lấy sứ điệp này". Nghĩa là, "họ đã thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ tin rằng chính Cha là Đấng đã sai Con". Vì "sứ điệp Cha đã trao phó cho Con" để "Con ký thác cho họ" cũng chính là nội dung của những gì họ nhận biết, những gì họ tin, đó là "Con từ Cha mà đến và Cha là Đấng đã sai Con". "Con cầu nguyện cho những người này - Con không cầu cho thế gian, song cho những người Cha đã trao cho Con, vì họ thực sự là của Cha. (Như tất cả mọi sự thuộc về Con đều là của Cha thế nào thì tất cả những gì thuộc về Cha đều là của Con). Chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển. Con không còn ở thế gian này nữa, nhưng những người này còn ở thế gian khi Con về cùng Cha". "Con cầu nguyện cho những người này - Con không cầu cho thế gian, song cho những người Cha đã trao cho Con, vì họ thực sự là của Cha". Sở dĩ "Con cầu nguyện cho những người này", mà "không cầu cho thế gian", không phải là vì thế gian đáng ghét, hay thế gian không đáng được cầu nguyện cho, nhưng dầu sao thế gian nói chung vẫn không cao qúi bằng "những người Cha đã trao cho Con, vì họ thực sự là của Cha", đồng thời cũng là của Con nữa: "mọi sự của cha cũng là của con" (Lk 15:31) là như thế: "(Tất cả mọi sự thuộc về Con đều là của Cha thế nào thì tất cả những gì thuộc về Cha đều là của Con như vậy)". Một lý do nữa làm Con hết sức qúi trọng "những người Cha đã trao cho Con", chẳng những qua việc cầu nguyện cho họ, mà còn tỏ Danh Cha cho họ, ký thác sứ điệp của Cha cho họ, nghĩa là cho họ tất cả những gì Con có, là vì "chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển", mà Con được nhận biết Con từ Cha mà đến, Con chính là Con Cha, một vinh hiển Con đã có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành: "Từ ban đầu đã có Lời; Lời ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa" (Jn 1:1). "Con không còn ở thế gian này nữa, nhưng những người này còn ở thế gian khi Con về cùng Cha". Câu cuối cùng này trong Lời Nguyện Tiệc Ly ở phần thứ nhất cho Chúa Nhật VII Phục Sinh Năm A hôm nay là một câu kết theo kiểu lưng chừng, chưa trọn nghĩa, còn cần phải được tiếp nối… nơi bài Phúc Âm cho Chu Kỳ Phụng Vụ Năm B của cùng Chúa Nhật VII Phục Sinh hôm nay. Vấn đề thực hành sống đạo: Nhờ Bí Tích Rửa Tội, Kitô hữu chúng ta đã thuộc về thành phần "những người Cha đã trao cho Con". Bởi thế, dù bản thân vô cùng bất xứng, chúng ta cũng thực sự trở nên hết sức cao trọng trước nhan Chúa Giêsu Kitô. Đến nỗi, dù chỉ là một con chiên lạc duy nhất trong đàn 100 con, Người cũng đi tìm nó cho bằng được, và vui mừng vác thập giá trên vai mang nó về (x Lk 15:4-5). Hay dù chúng ta có phung phá hết gia tài ân sủng được chia cho chúng ta nơi Phép Rửa, Người cũng mong mỏi chúng ta trở về với Người, và khi vừa thấy chúng ta quyết tâm từ bỏ tội lỗi, Người liền tự động chạy đến ôm chặt lấy chúng ta trong tòa giải tội, trả lại cho chúng ta nhân đức và công nghiệp đã mất bởi tội, và mở tiệc Thánh Thể ăn mừng chúng ta sống lại (x Lk 15:11-24). Tất cả chỉ vì chúng ta "thực sự là của Cha". Thế nhưng, đáp lại, chúng ta đã sống như lòng Người mong đợi ở chúng ta chưa: "chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển"?
|