|
CÁC CHỦ NHẬT NĂM A
*
Một chủ đề xuyên suốt Thánh lễ
* Nhiều gợi ý làm cho Thánh lễ sống động
* Một hình minh họa cho mỗi Thánh lễ
* Nhiều gợi ý giảng và cầu nguyện
MÙA
THƯỜNG NIÊN
CHÚA NHỰT I
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA
CHỦ ĐỀ
:
CHÚA GIÊSU LÃNH NHẬN SỨ
MẠNG

Đức
Giêsu chịu phép rửa (Mt 3,13-17)
Sợi chỉ đỏ :
Sứ mạng của Chúa Giêsu là làm Đấng Messia, một
Đấng Messia vừa cao sang trong thân phận Con Thiên Chúa, vừa khiêm tốn như một
Người Tôi tớ.
- Bài đọc I : Hình ảnh Người Tôi Tớ được mặc khải
cho ngôn sứ Isaia.
- Đáp ca : "Tiếng Chúa vang rền trên sóng nước".
Hai hình ảnh "nước" và "tiếng" sẽ được dùng lại trong bài tường thuật Chúa Giêsu
chịu phép rửa.
- Tin Mừng : Trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép
rửa, Chúa Thánh Thần đã lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài, và tiếng Chúa
Cha từ trời giới thiệu Ngài là Con yêu dấu của Chúa Cha.
- Bài đọc II : Thánh Phêrô hiểu biến cố Đức Giêsu
chịu phép rửa là lễ tấn phong Ngài làm Đấng Messia.
Minh họa
- Mille images 49 C
- Đức Giêsu chịu phép rửa (Mt 3,13-17)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa là gạch nối giữa
giai đoạn Chúa Giêsu sống ẩn dật với giai đoạn Ngài rao giảng công khai : sau
thời gian sống với gia đình tại Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu đi rao giảng. Việc
đầu tiên Ngài làm là lãnh nhận phép rửa của Gioan Tẩy giả ở sông Giođan. Như thế,
lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa cũng là gạch nối giữa mùa Giáng sinh với mùa Thường
niên : Chúng ta đã cùng sống với Chúa Giêsu qua các biến cố giáng sinh và hiển
linh. Kể từ hôm nay chúng ta sẽ cùng sống với Ngài qua các biến cố của đời rao
giảng.
Trong dịp Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Thánh
Thần đã lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài, và tiếng Chúa Cha từ trời phán
xuống xác nhận Ngài là Con yêu dấu của Thiên Chúa. Đó cũng chính là thân phận
kitô hữu của mỗi người chúng ta : chúng ta cũng đã lãnh nhận phép rửa, cũng được
Chúa Thánh Thần ngự xuống. Vậy chúng ta cũng hãy noi gương Chúa Giêsu mà cố gắng
sống xứng đáng là con của Thiên Chúa.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Do bí tích Rửa tội, chúng ta đã được nhận là
con của Chúa. Nhưng chúng ta chưa sống xứng đáng với danh nghĩa ấy.
- Dù là Con Thiên Chúa, nhưng Chúa Giêsu đã sống
như một Người Tôi Tớ hạ mình phục vụ mọi người. Còn chúng ta, chúng ta không
thích hạ mình, không ưa phục vụ.
- Chúa Giêsu luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa
Thánh Thần. Ngược lại chúng ta hay sống theo ý riêng.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Is 42,1-4.6-7) :
Ngôn sứ Isaia được Thiên Chúa soi sáng đặc biệt
nên đã hiểu Đấng Messia tương lai là một Người Tôi Tớ. Ông đã mô tả Người Tôi Tớ
trong 4 bài thơ. Đoạn được phụng vụ trích đọc hôm nay nằm trong bài thơ thứ I :
- Đó là người được Thiên Chúa tuyển chọn và Thiên
Chúa rất hài lòng.
- Người đó rất hiền lành và dịu dàng : "không lớn
tiếng, không nở bẻ gãy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói".
- Sứ mạng của Người Tôi Tớ là : a/ Tái lập công
bình ; b/ nên ánh sáng cho muôn dân ; c/ giải thoát những người khốn khổ.
2.
Đáp
ca
(Tv 28) :
Bài thơ này ca tụng Thiên Chúa uy phong. Sự uy
phong của Thiên Chúa thể hiện qua việc Ngài thống trị các sức mạnh của thiên
nhiên : Ngài ngự trên những ngọn thuỷ triều, tiếng Ngài vang rền trên sóng nước.
Chính Thiên Chúa uy phong ấy sẽ tấn phong Chúa
Giêsu làm Đấng Messia của Ngài trong biến cố phép rửa.
3.
Tin Mừng
(Mt 3,13-17) :
Mặc dù kể chuyện Chúa Giêsu chịu phép rửa, nhưng
Thánh Marcô không chú ý mô tả cảnh chịu phép rửa, mà lại chú trọng đến những
người làm chứng cho Chúa Giêsu :
a/ Chứng của Gioan Tẩy giả : Chúa Giêsu mặc dù
đến sau Gioan nhưng trổi vượt hơn Gioan, Gioan không xứng đáng làm đầy tớ cuối
xuống cởi dây giày cho Ngài ; mặc dù Chúa Giêsu nhận phép rửa Gioan, nhưng phép
rửa trong Thánh Thần của Ngài cao trọng hơn phép rửa bằng nước của Gioan.
b/ Chứng từ trời : a/ Chúa Thánh Thần lấy hình
chim bồ câu ngự xuống trên Chúa Giêsu để cho thấy Ngài là Vị Ngôn Sứ đầy tràn
Thánh Thần ; b/ Tiếng Thiên Chúa từ trời phán xuống xác nhận Chúa Giêsu là Con
yêu dấu của Chúa Cha.
c/ Với việc Chúa Giêsu bắt đầu xuất hiện trước
công chúng, "trời mở ra" để bắt đầu một kỷ nguyên mới.
4.
Bài
đọc
II
(Cv 10,34-38) :
Dân do thái có quan niệm hẹp hòi cho rằng Thiên
Chúa là Chúa riêng của họ, và ơn cứu rỗi của Thiên Chúa được dành riêng cho họ.
Vì thế, khi thánh Phêrô rửa tội cho ông Cornêliô một người thuộc dân ngoại, một
số người do thái đã thắc mắc.
Thánh Phêrô biện minh rằng ông đã làm như thế
cũng chỉ là theo đúng sứ mạng của Chúa Giêsu :
- Trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông
Giođan, Ngài đã được Thiên Chúa tấn phong làm Đấng Messia : "Chúa đã dùng Thánh
Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong cho Ngài".
- Sứ mạng Messia của Chúa Giêsu là mang Tin Mừng
cho tất cả mọi người và mọi dân tộc, vì thế nên "Ngài đi qua mọi nơi, ban bố ơn
lành và chữa mọi người". Phêrô còn nói : "Thiên Chúa không tây vị ai. Nhưng ở
bất cứ xứ nào ai kính sợ Người và thi hành sự công chính đều được Người đón nhận".
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Mỗi
người
đều
có sứ
mạng
Hai tiếng "sứ mạng" nghe có vẻ nghiêm trọng quá.
Nhưng thực ra mọi người, mọi sinh vật, mọi thụ tạo - nói chung là mọi "hiện hữu"
- đều có một sứ mạng :
- Sứ mạng của mặt trời là sưởi ấm các sinh vật
trên mặt đất
- Sứ mạng của cây lúa là nuôi sống con người
- Thậm chí những con vi sinh nhỏ bé đến nỗi mắt
thường không thấy được cũng có sứ mạng làm phân huỷ những chất thải.
Chúa Giêsu đã sinh ra trong trần gian với sứ mạng
làm Đấng Messia mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Ngài đã chu toàn sứ mạng ấy
một cách tuyệt hảo.
Mỗi người chúng ta cũng có sứ mạng. Vậy mỗi người
hãy tự hỏi "Sứ mạng của tôi là gì đối với gia đình, đối với xã hội, đối với Giáo
Hội, đối với anh chị em không cùng tín ngưỡng ?"
Tôi được sinh ra trên đời là vì sứ mạng. Nếu tôi
không chu toàn sứ mạng, hay tệ hơn nữa, nếu tôi không lưu tâm gì đến sứ mạng,
thì sự hiện hữu của tôi là vô ích, chỉ là ăn hại. Chúa Giêsu đã nói "Nếu muối mà
nhạt thì chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân".
2. "Con
yêu dấu"
Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua phép rửa, chúng
ta cũng trở thành con Thiên Chúa. Về phần Chúa Giêsu, Ngài đã được khen là "Con
yêu dấu của Cha". Thế nào là một người "con yêu dấu" ?
- là biết ý của cha mình : Chúa Giêsu luôn cầu
nguyện để biết ý của Chúa Cha.
- và luôn làm theo ý cha mình : Chúa Giêsu nói "Lương
thực của Ta là làm theo ý của Cha Ta". Trong vườn Cây Dầu, sau khi đơn thành tỏ
cho Chúa Cha biết Ngài rất sợ chén đắng của cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu nói tiếp
ngay "Nhưng xin đừng theo ý con, mà hãy theo ý Cha".
Nếu chúng ta muốn trở thành con yêu dấu của Thiên
Chúa thi chúng ta cũng hãy bắt chước Chúa Giêsu : luôn cầu nguyện, khi đã thấy
được ý Chúa thì sẵn sàng bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa.
3. "Nếu…"
Nếu tôi là dân do thái lúc đó, có thể tôi
cũng đi từ Galilê bên Đức Giêsu suốt bốn năm ngày đường, tới sông Giođan để chịu
phép rửa, mà không ngờ rằng Người là Đấng mà Gioan đang rao giảng. Khi tới nơi,
chắc chắn tôi sẽ chen lấn Người để tôi được tới gần Gioan hơn. Tôi trố mắt nhìn
và lắng tai. Gioan kêu gọi tôi sám hối. Tôi cảm động và rán lội tới sát Gioan.
Tôi đẩy Người ra để xin Gioan rửa tôi trước, vì tôi nóng lòng mong đợi điều
Gioan đang nói "Hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến". Rửa xong, tôi an tâm ra về
mà không ngờ Người là Đấng Cứu Thế đồng hành với tôi, đứng sát bên tôi, đã bị
tôi gạt Người ra ngoài.
Thực tế hàng ngày đã xảy ra trăm ngàn lần tôi cư
xử như thế đối với những người bên cạnh tôi. Tôi không ngờ rằng họ là chi thể
Đấng Cứu Thế. Tôi bao nhiêu lần xô lấn những người bên cạnh tôi để tôi được hơn,
được trước họ mà chẳng nhớ gì lời Chúa dạy : "Con phải kính nhường và yêu mến
người bên cạnh con". Thành thử ra tôi cũng không nhận ra Đấng Cứu Thế đang ở với
tôi.
Nếu tôi được làm
địa vị của Gioan tiền hô,
thì khi vừa thấy Đấng Cứu Thế, tôi sẽ tự đắc hô to : Đấy, tôi nói có sai đâu.
Ngài đến đây nè… Rồi tôi kêu gọi mọi người ủng hộ Ngài, hoan hô Ngài, đón rước
Ngài, xin Ngài phất cờ giải phóng dân tộc, làm cho nước ta độc lập tự do giàu
mạnh, đem quân xâm chiếm các nước, trở thành bá chủ hoàn cầu. Tôi rất phàn nàn
và lấy làm tiếc vì không thể ngờ được rằng Gioan không làm như tôi mong muốn.
Trái lại ông đã cúi mình xuống nhỏ nhẹ thưa với Ngài rằng "Tôi không đáng cởi
quai dép cho Ngài. Tôi chỉ rửa anh em trong nước, còn chính Ngài mới rửa chúng
tôi trong Thánh Thần. Vậy xin Ngài rửa cho tôi đi để tôi được ơn cứu độ". Thật
là con người đầy khiêm tốn, đầy tin tưởng, để rồi Gioan đã phó thác trót mạng
sống mình cho Đấng Cứu Thế : dù phải chặt đầu, ông vẫn luôn quyết tâm chu toàn
nghĩa vụ Thiên Chúa trao.
Còn Đức Giêsu,
Người rất từ tốn và ẩn mình tuyệt diệu hơn nữa. Người đã thưa lại Gioan : "Chúng
ta cần phải chu toàn nghĩa vụ thánh như thế". Người đồng hóa mình với dân chúng,
chịu những kẻ cậy sức mạnh xô đẩy, chèn ép để thông cảm với mọi nỗi xót xa của
cuộc đời những kẻ thấp mũi bé miệng, neo đơn, cô thế cô thân. Người đã cúi mình
trước Gioan làm phép rửa cho Người để cho những tội nhân biết cúi mình xuống
trước tòa giải tội. Người đã dìm mình xuống nước để cứu vớt những kẻ chết trong
dòng đời, cho họ được sống lại làm con chí ái với Người trong gia đình thiên
quốc. Người chôn mình trong bản tính hư nát của loài người để cho con người được
trường sinh vinh phúc.
Lạy Chúa Giêsu xin cho chúng con biết kính nhường
nhau. Đó chẳng phải là kính mến Chúa sao ? Xin cho chúng con biết phó thác thân
phận làm người, làm kitô hữu cho Đấng Cứu Thế. Chắc chắn chúng con sẽ được Người
thanh tẩy và kết nạp chúng con vào nhà Cha chí ái trên trời.
(Linh mục Vũ Khắc Nghiêm, "Xây nhà trên đá" Năm
A)
4.
Mảnh
suy tư
Thanh tẩy không chỉ là xối nước lên trán, chỉ một
lần trong đời.
Chúng ta được thanh tẩy bởi mọi chuyện xảy ra
trong đời.
Chúng ta được thanh tẩy bởi những gian truân thử
thách, vì dòng nước xoáy này rửa sạch chúng ta khỏi giả dối và vô dụng.
Chúng ta được thanh tẩy bởi những đau khổ, vì
dòng nước âm u này giúp chúng ta khiêm tốn và biết cảm thông.
Chúng ta được thanh tẩy bởi niềm vui, vì dòng
nước róc rách này cho ta cảm nghiệm sự tốt lành của cuộc sống.
Chúng ta được thanh tẩy bởi tình yêu, vì nhờ dòng
nước líu lo này chúng ta sẽ tươi nở như cánh hoa dưới ánh mặt trời.
Bí tích Thanh Tẩy giống như trồng một cây non, nó
sẽ tiếp tục lớn lên suốt trọn đời ta. (Flor McCarthy)
5.
Chuyện
minh họa
Bà già 104 tuổi sống trong một căn hộ nhỏ tại
Croydon. Khi bà được 100 tuổi, một nhà truyền giáo đến thăm và giải thích cho bà
nghe đoạn Tin Mừng Gioan 3,16 : "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nổi đã ban
Con Một Ngài để ai tin người Con đó, thì khỏi chết và được sống đời đời". Bà đáp :
"Thật là tuyệt vời. Thiên Chúa thật tốt lành khi Ngài tha thứ cho tôi đã bỏ cả
trăm năm không học biết Ngài." Cuộc trở lại của bà được tạp chí London City
Mission thuật lại và kết thúc bằng câu : "Sinh 1825. Sinh lại 1925."
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Đức Giêsu được
Chúa Cha trao ban Thánh Thần và được chính thức tấn phong làm Đấng Cứu Thế để
cứu chuộc nhân loại. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa Cha và tha thiết nguyện xin.
1- Hội Thánh có
trách nhiệm thông truyền sự sống của Chúa / cho những người lãnh nhận bí tích
thánh tẩy / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh luôn làm tròn bổn phận của
mình.
2- Chuẩn bị thật
kỹ lưỡng cho những anh chị em dự tòng / trước khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy /
là một việc hết sức cần thiết / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử biết
luôn cố gắng thực hiện việc quan trọng này / đúng như Hội Thánh mong muốn.
3- Ở mọi nơi và
mọi lúc đều có rất nhiều người xả thân rao giảng Tin Mừng / giới thiệu Chúa cho
những anh chị em chưa nhận biết Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những anh
chị em ấy / luôn được bình an trong cuộc sống chứng nhân thường ngày.
4- Dù đã lãnh
nhận bí tích thánh tẩy / và đã sống đạo lâu năm / người tín hữu vẫn có bổn phận
phải học hỏi / đào sâu thêm giáo lý của Chúa / để củng cố niềm tin còn non yếu
của mình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn
quan tâm đến việc học hỏi Lời Chúa và giáo lý của Người.
CT :
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã cho chúng con trở nên con cái của Chúa qua bí
tích Thánh Tẩy. Xin Chúa cho chúng con luôn cố gắng sống trọn vẹn ơn gọi Kitô
hữu của mình. Chúng con cầu xin…
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha :
Qua bí tích Rửa tội, chúng ta được làm con Thiên Chúa như Chúa Giêsu. Vậy, cùng
với Chúa Giêsu, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha lời kinh Lạy Cha.
-
Sau kinh Lạy Cha :
"… xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin canh
tân sức mạnh Bí Tích Rửa tội trong chúng con. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu
giúp…"
VII.
GIẢI TÁN
Thánh lễ đã hết, anh chị em lại trở về cuộc sống
bình thường. Anh chị em hãy cố gắng sống xứng đáng là con của Thiên Chúa.
CHÚA NHỰT II
CHỦ ĐỀ
:
CHÚA GIÊSU LÀ AI ?

"Đây
là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Ga
1,29)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Đấng Messia là
Người Tôi Tớ
của Thiên Chúa.
- Đáp ca : Đấng Messia đến để
thực thi ý Thiên Chúa.
- Tin Mừng : Bắt
đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả giới thiệu : "Chính Ngài là
Con Thiên Chúa."
Minh họa
- Mille images 144 B
- "Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần
gian" (Ga 1,29)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Từ hôm nay bắt
đầu mùa thường niên : Phụng vụ muốn dẫn chúng ta từng bước đồng hành với Chúa
Giêsu. Việc đầu tiên là phải biết Đấng mà mình đồng hành là ai.
Xin Chúa cho
chúng ta biết Ngài, yêu mến Ngài và gắn bó đi theo Ngài trọn cuộc hành trình
dương thế của chúng ta.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Tuy là môn đệ
của Chúa Giêsu, nhưng chúng ta chưa cố gắng tìm hiểu để biết rõ Ngài.
- Chúng ta chưa
"yêu mến Chúa trên hết mọi sự."
- Chúng ta
thường đi theo đường lối của riêng mình chứ không đồng hành với Chúa trên con
đường của Chúa.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
1 :
Is 49,3.5-6
Ngôn sứ Isaia
hình dung Đấng Messia là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa. Đoạn trích này thuộc bài
thứ hai trong 4 bài ca về Người Tôi Tớ :
- Người Tôi Tớ
của Thiên Chúa được giao sứ mạng "quy tụ dân Israel trước mắt Thiên Chúa".
- Người Tôi Tớ
của Thiên Chúa còn là "ánh sáng của các dân tộc", làm cho "ơn cứu độ của Thiên
Chúa tràn lan khắp địa cầu".
Tất cả những nét
Isaia mô tả Người Tôi Tớ đều được thực hiện nơi Chúa Giêsu.
2.
Đáp
ca :
Tv 39
Tv này bày tỏ
tâm tình của người tín hữu đối với Thiên Chúa : cậy trông nơi Thiên Chúa, hân
hoan hát mừng ca tụng Ngài, và nhất là luôn thực thi thánh ý của Ngài.
Không ai ngoài Chúa Giêsu có những tâm tình hoàn
hảo ấy.
3.
Tin Mừng :
Ga 1,29-34
Theo bố cục của
Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Đức Giêsu xuất hiện trước dân chúng. Vì dân
chúng chưa biết Đức Giêsu, nên Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài, bằng hai kiểu nói :
- Đức Giêsu là
"Con Chiên Thiên Chúa" : Trong lễ nghi Đền tội của Do thái giáo, tội nhân đem
một con chiên lên Đền thờ, úp tay mình xuống con chiên tỏ ý trút hết tội mình
lên nó ; tiếp theo, tư tế sẽ giết con chiên. Nó chịu chết để đền tội thay cho
tội nhân. Bao nhiêu tội lỗi của tội nhân đều được tẩy xóa. Ngay từ buổi đầu gặp
Chúa Giêsu, Gioan Tẩy giả đã biết Ngài sẽ chịu chết để chuộc tội cho nhân loại,
nên ông giới thiệu "Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian".
- Đức Giêsu là
"Con Thiên Chúa" : Nhờ ơn soi sáng đặc biệt của Chúa Thánh Thần trong biến cố
làm phép rửa cho Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả còn được biết Đức Giêsu là Con Thiên
Chúa. Thực ra, trong lịch sử, các vua Israel cũng xưng mình là con của Thiên
Chúa. Nhưng đó chỉ là một cách nói, ngụ ý họ được Thiên Chúa nhận làm con
nuôi, nghĩa tử. Riêng đối với Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài là
con ruột của Thiên Chúa và cũng chính vì thế cho nên Đức Giêsu sẽ làm phép
rửa trong Chúa Thánh Thần.
4.
Bài
đọc
2
(chủ
đề
phụ) :
1 Cr 1,1-3
* Từ Chúa nhựt
II đến Chúa nhựt VIII, bài đọc II đều trích từ thư 1 Côrintô. (Xin
hãy đọc bài giới thiệu tổng quát về Thư 1 Côrintô ngay sau bài này)
Côrintô là một thành phố cảng với những nét đặc
trưng là : dân cư hỗn tạp (nhiều sắc dân khắp nơi đến làm ăn), đời sống kinh tế
và trí thức tương đối khá, nhưng không đoàn kết, xã hội có nhiều tệ đoan. Chính
dân Côrintô đã đuổi Phaolô ra khỏi thành phố này.
Khi ở Êphêxô, Phaolô nghe nhiều tin tức không tốt
về giáo đoàn này, nên ông viết bức thư này cho họ nhằm củng cố một số điểm giáo
lý và sửa sai một số tệ nạn.
Đoạn này chỉ là những lời chào đầu thư Thánh
Phaolô gởi đến các tín hữu Côrintô. Tuy vậy nó cũng xác định rõ tư cách của
người viết thư và những người nhận thư :
- Người viết thư (Phaolô) là kẻ được Thiên Chúa
kêu gọi làm tông đồ của Đức Giêsu Kitô.
- Những người nhận thư (tín hữu Côrintô) là những
kẻ được kêu gọi nên thánh và được thánh hóa trong Chúa Giêsu Kitô.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Độc
hành hay
đồng
hành
Khi phải làm một chuyến hành trình dài, người ta
cần có bạn đồng hành, để có bạn đường mà chia vui xẻ buồn, nói chuyện với nhau,
và giúp đỡ nhau. Hai môn đệ hành trình Emmau nhờ đi chung với nhau nên đã san sẻ
cho nhau nỗi buồn nặng trĩu sau những biến cố đau thương xảy ra tại Giêrusalem.
Họ lại có được một bạn đồng hành nữa là Đức Giêsu phục sinh. Chính Người Bạn
đồng hành này đã xóa tan mọi sầu lo của họ và làm cho niềm tin của họ sống lại.
Đời người trên dương thế là một cuộc hành trình
dài thăm thẳm, không biết bao giờ mới xong, cũng không chắc sẽ đi đến đích hay
không. Vậy mà có nhiều người cứ mãi độc hành : một mình tìm đường, một mình đi,
một mình xoay trở trước những khó khăn… Thật là phiêu lưu !
Mùa thường niên của năm Phụng vụ cũng là một cuộc
hành trình, nhưng không phải độc hành, mà là đồng hành với Chúa Giêsu : chúng ta
cùng với Ngài đi qua những chặng đường từ Nadarét đến Galilê để tới Giêrusalem ;
từ gian khổ đến vinh quang ; từ chết đến sống lại. Có Ngài cùng đi với chúng ta,
chúng ta không sợ lạc đường. Cùng đi với Ngài, cho dù nhiều lúc gặp khó khăn,
chắc chắn chúng ta sẽ tới đích. Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta nghĩa là Ngài
sẽ vui khi chúng ta vui, Ngài sẽ buồn khi chúng ta buồn ; chúng ta đồng hành với
Chúa Giêsu cũng có nghĩa là ta sẽ được vui niềm vui của Ngài và buồn với nỗi
buồn của Ngài. Đời ta không cô độc, buồn tẻ…
Tuy chỉ là "mùa thường niên" không có những lễ
trọng, nhưng nếu chúng ta sống mùa này như một người đồng hành với Chúa, cuộc
đời chúng ta chắc chắn sẽ rất có ý nghĩa.
2.
Người
Con và Người
Tôi Tớ
Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu với
hai nét tương phản nhau : Ngài là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, và
Ngài là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn.
Thực ra hai nét trên không đối chọi nhau mà làm
nổi bật nhau và soi sáng cho nhau : Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang do
cách Ngài sống như một Người Tôi Tớ ; và Ngài là Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì
Ngài là Con Thiên Chúa cao sang.
Nhìn Chúa Giêsu, chúng ta rút ra được một triết
lý sống : sống cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường ; và sống hoàn cảnh tầm
thường với tâm hồn cao thượng.
Cùng sống với Chúa Giêsu qua những biến cố mỗi
tuần trong Mùa thường niên này, chúng ta có thể thực hiện được triết lý sống
tuyệt vời ấy.
3.
Con Chiên gánh tội
trần
gian
Thời Cựu Ước, trong ngày lễ Đền tội, người do
thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế. Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội
của dân và kêu gọi mọi người sám hối. Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ
ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc. Con chiên ấy
được gọi là con chiên gánh tội.
Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là
"Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian", phải chăng Thánh Gioan cũng có
ý rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta nên từ nay loài người không
còn tội gì nữa ? Đơn giản và dễ dàng thế sao ?
Quả thực Đức Giêsu đã gánh lấy tội trần gian.
Việc này có nghĩa là nhờ Ngài mà tội lỗi chúng ta được tha thứ. Nhưng điều này
không có nghĩa là chúng ta không phải làm gì cả.
Cần phân biệt rõ giữa tội lỗi và thân phận tội
lỗi. Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội
lỗi dân do thái vào sa mạc. Nhưng thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn. Và Đức
Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của
chúng ta.
- Ngài giúp chúng ta thế nào ? Bằng cách đến với
chúng ta, sống gần chúng ta, gieo vào mảnh đất tâm hồn chúng ta hạt giống sự tốt
lành và thánh thiện của Ngài.
- Chúng ta hợp tác thế nào ? Bằng cách tiếp nhận
Ngài, sống với Ngài và để cho những hạt giống ấy lớn lên trong lòng mình.
Sự tha thứ của Chúa và bí tích Giải tội không
phải là một thứ phù phép, mà là một trợ lực, một hạt giống.
4. "Ngài
cao trọng
hơn
tôi"
Ngày xưa một vì vua bảo một ông quan : "Khanh hãy
đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người tốt". Ông quan này tính tình hung dữ,
gian dối và không có bạn. Sau một thời gian đi tìm, ông trở về triều, tâu : "Thần
đã đi khắp nơi, gặp hết mọi người. Nhưng chẳng tìm được người nào tốt cả. Ai
cũng hung dữ, gian dối và không có bạn".
Nhà vua sai một quan khác : "Khanh hãy đi khắp
đất nước tìm về cho trẫm một người xấu". Ông này có lòng nhân từ, quảng đại và
được mọi người thương mến. Sau một thời gian đi tìm, ông cũng trở về triều và
tâu : "Hạ thần không thể chu toàn sứ mạng mà Bệ Hạ giao phó. Hạ thần đã gặp
nhiều người gian lận, trộm cắp, tham lam… Nhưng chẳng có người nào thực sự xấu
cả. Dù họ đã làm những điều ấy, nhưng trong thâm tâm ai cũng tốt"
Câu chuyện trên muốn nói rằng ta có khuynh hướng
nhìn người khác không theo lòng họ mà theo lòng ta.
Thánh Gioan Tẩy giả thì không thế. Nếu như mọi
người thì Gioan sẽ coi thường Đức Giêsu, bởi Ngài đến sau ông ; chẳng những thế
ông còn coi Ngài là đối thủ của ông, bởi Ngài đang lấn dần ảnh hưởng của ông.
Nhưng Gioan đã nghe theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần nên đã hiểu đúng về Đức
Giêsu và đã nhiệt tình giới thiệu Ngài cho mọi người : "Ngài đến sau tôi nhưng
có trước tôi vì Ngài cao trọng hơn tôi".
5.
Được
kêu gọi
nên thánh
Trong thư gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô định
nghĩa tín hữu là "những người được kêu gọi nên thánh".
Nhưng "thánh" là gì ? Theo thần học, chỉ có một
mình Thiên Chúa là "thánh" (Kinh Sáng Danh : "Chỉ có Chúa là Đấng Thánh"). Theo
Thánh Kinh, những ai và những gì thuộc về Thiên Chúa cũng được gọi là "thánh",
chẳng hạn Đền thánh, Luật thánh, thánh nhân… ; việc dâng hiến một người hoặc một
vật cho Chúa được gọi là thánh hiến.
Vậy tín hữu là những người được kêu gọi nên thánh
có nghĩa là tín hữu được mời gọi ngày càng thuộc về Chúa hơn, ngày càng giống
Chúa hơn.
Nhưng làm thế nào để được như vậy ? Cách tốt nhất
là thường xuyên ở bên Chúa, nhìn vào Chúa và noi gương Chúa. Đó là điều mà phụng
vụ các ngày chúa nhựt quanh năm muốn giúp chúng ta.
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Thiên Chúa đã
yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người là Đức Giêsu Kitô nhập thế làm
người, chịu chết trên Thập giá để xóa tội lỗi trần gian. Chúng ta cùng cảm tạ
Chúa và dâng lời cầu xin.
1- Chúa đã đặt
Hội Thánh làm dấu chỉ ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội
Thánh luôn trung thành với sứ mạng của mình.
2- Cánh đồng
truyền giáo này nay thật bát ngát bao la / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi
thành phấn dân Chúa / ý thức được trách nhiệm rao giảng Tin Mừng của mình / và
dùng chính đời sống theo Tám mối phúc thật / để giới thiệu Chúa cho những ai
chưa nhận biết Người.
3- Sống an bình
và hạnh phúc / là ước mơ tha thiết của mỗi người đang hiện diện trên trái đất
này / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho thế giới hôm nay được hòa bình và
thịnh vượng / để điều mà môi người chân thành ước mơ / có thể sớm trở thành hiện
thực.
4- Như Thánh
Gioan tẩy giả / mỗi kitô hữu đều có bổn phận phải giới thiệu Chúa cho người khác
/ Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta hiểu rằng / giới
thiệu Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương và phục vụ hết lòng / là cách tốt
nhất để giúp người khác nhận biết Chúa.
CT :
Lạy Chúa là Cha nhân hậu, chúng con cảm tạ Chúa vì biết bao ơn lành Chúa đã
thương ban cho chúng con trong cuộc sống. Xin cho chúng con chỉ tin tưởng cậy
trông và phó thác cuộc đời chúng con trong bàn tay quan phòng kỳ diệu của Chúa
mà thôi. Chúng con cầu xin…
VI.
TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh
Lạy Cha : Chúa Giêsu là Con duy nhất của Thiên Chúa. Nhưng Ngài đã thương
chia sẻ quyền làm con ấy cho chúng ta nữa. Giờ đây, chúng ta hãy cùng với Chúa
Giêsu dâng lên Thiên Chúa là Cha những tâm tình con thảo của chúng ta.
- Trước Rước
lễ : Đức Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Ngày xưa Thánh Gioan
Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu thế nào, thì hôm nay Giáo Hội cũng giới thiệu Đức
Giêsu cho chúng ta như thế : "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…"
VII.
GIẢI TÁN
Trong Thánh Lễ này, anh chị em đã biết Chúa Giêsu
là ai, đã được cảm nghiệm tình yêu thương của Ngài. Lễ đã xong, giờ đây anh chị
em hãy đồng hành với Ngài trên những bước đường của cuộc sống.
---------------------------------------------------
Bài
đọc thêm 1
THƯ I CÔRINTÔ
A. GIÁO ĐOÀN CÔRINTÔ
1. Thành phố Côrintô đã bị một viên tướng Rôma
tên là L. Mumium phá hủy vào năm 146 trước công nguyên. Một thế kỷ sau nó được
xây dựng lại bởi lệnh hoàng đế Jules César và trở thành một thuộc địa của đế
quốc Rôma. Chẳng bao lâu sau nó thành thủ phủ của tỉnh Achaie của đế quốc.
2. Côrintô cũng là một hải cảng lớn với một nền
thương mại phồn thịnh. Vì nằm trên tuyến đường nối hai miền Đông Tây, nên việc
giao thông cũng tấp nập. Dân số thời ấy khoảng 600 ngàn, trong số đó 2/3 là nô
lệ. Về tín ngưỡng, dân Côrintô thờ nhiều thần. Luân lý rất suy đồi, nạn dâm ô
tràn lan (x.
Rm 1,26-32).
3. Phaolô đến Côrintô lần đầu tiên trong chuyến
du hành truyền giáo thứ hai. Ông đã lưu lại đây 18 tháng từ mùa đông năm 50 đến
mùa hè năm 52. Ban đầu ông cũng hành nghề dệt lều và rao giảng trong hội đường
do thái vào những ngày hưu lễ. Khi có Sila và Timôtêô đến tiếp thì ông hoàn toàn
lo rao giảng. Nhiều người đã tin theo và Phaolô lập được một giáo đoàn mà đa số
là người lương trở lại, phần đông thuộc giới hạ lưu nghèo khổ. Những tín hữu này
rất hăng say sống đạo nhưng đầu óc còn thấm nhiễm tâm thức lương dân. Sau đó dân
Côrintô đã đuổi Phaolô đi. Sau khi ông ra đi ít lâu, có một nhà trí thức do thái
ở Alexandria tên là Apollo đến nối tiếp sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân
Côrintô và thu được rất nhiều kết quả (x 1Cr 1,26-28 11,21-22). Sau đó lại có
thêm Thánh Phêrô đến nữa.
B. THƯ 1 CÔRINTÔ
1.
Hoàn cảnh
và mục
đích
Năm 56, Phaolô
đang ở Êphêxô thì được nhiều tin tức không tốt đẹp về giáo đoàn Côrintô : nạn bè
phái, thói kiện cáo nhau trước tòa án lương dân, tội dâm ô v.v. Ngoài ra, nhiều
tín hữu cũng có những thắc mắc về lương tâm và phụng vụ. Phaolô đã gởi Timôtêô
đến đấy để dò la tình hình. Sau khi Timôtêô trở về báo cáo thì Phaolô viết bức
thư này để sửa dạy những thói xấu và giải đáp những thắc mắc của tín hữu Côrintô.
2.
Bố
cục
- Lời chào
01,01-03
- Lời tạ ơn
01,04-09
- Sửa dạy
những thói xấu :
. Nạn bè
phái 01,10--04,21
. 1 trường
hợp loạn luân 05,01-13
. Kiện cáo
nhau 06,01-11
. Tội dâm
ô 06,12-20
- Giải đáp
những thắc mắc :
. Về hôn
nhân và đồng trinh 07,01-40
. Vấn đề ăn
đồ cúng 08,01--11,01
- Bàn về cộng
đoàn phụng tự
và các đoàn
sủng 11,02--14,40
- Bàn về việc
kẻ chết sống lại ch 15
- Kết
16,01-18
- Lời chào
16,19-24
3.
Nhận
định
chung về
thư
1 Cr
- Thư này rất
thực tế, cho ta thấy rõ bề mặt và bề trái của giáo đoàn : không phải cái gì cũng
tốt đẹp êm xuôi, nhưng nhiều vấn đề nội bộ rất phức tạp, nhiều khi rất đau lòng.
Nó cũng cho thấy những uẩn khúc trong tâm hồn của người chịu trách nhiệm về giáo
đoàn : ưu tư, dằn vật, khổ đau nhưng trong hoàn cảnh nào cũng chan chứa tình
thương.
- Nhờ thực tế
như thế, thư này tương đối dễ hiểu. Mặc dù đề cập đến những vấn đề riêng tư của
một giáo đoàn, nhưng qua đó chúng ta cũng rút ra được nhiều tư tưởng có giá trị
chung cho mọi nơi và mọi thời.
--------------------------------------------------
CHÚA NHỰT III
* Từ Chúa nhựt
thứ 3 mùa thường niên cho đến Chúa nhựt 34, chúng ta đọc liên tục Tin Mừng theo
Thánh Mát-thêu.
CHỦ ĐỀ
:
BÌNH MINH CỦA MỘT THỜI ĐẠI MỚI :
NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN
GẦN

"Từ
lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng…" (Mt 4,17)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc 1 :
lời tiên tri của Isaia "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy
hoàng ; đám người sống lầm than trong vùng bóng tối nay được thấy ánh sáng bừng
lên chiếu rọi"
- Đáp ca : "Chúa
là nguồn ánh sáng, là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ gì ai nữa".
- Tin Mừng : Đức
Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia. Ngài đến miền Galilê, một miền có rất
đông lương dân, bắt đầu rao giảng rằng "Hãy sám hối, vì triều đại Thiên Chúa đã
đến gần". Ngài cũng bắt đầu tuyển chọn môn đệ để cùng Ngài đi loan truyền tin
vui ấy.
Minh họa
- Mille images 54 A
- "Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng…" (Mt
4,17)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Các kitô hữu đầu
tiên đã cảm thấy rất hạnh phúc vì được gia nhập gia đình Giáo Hội. Mỗi ngày Chúa
nhựt, họ họp nhau lại trong tâm tình kính mến Chúa và yêu thương nhau. Gương
đoàn kết yêu thương của họ đã thu hút thêm rất nhiều người xin gia nhập Giáo Hội.
Hôm nay, chúng
ta cũng họp nhau lại như cộng đoàn kitô hữu đầu tiên ấy. Nhưng có lẽ chúng ta
không cảm thấy hạnh phúc bằng họ, vì chúng ta không mến Chúa bằng họ, không
thương nhau bằng họ. Xin Đức Giêsu, Đấng đã tập họp chúng ta, ban thêm tình yêu
trong lòng chúng ta.
Đặc biệt tuần
này là tuần lễ Giáo Hội cầu nguyện cho sự hợp nhất các kitô hữu. Chúng ta tha
thiết nài xin Chúa cho những người cùng tin một Chúa Kitô biết đoàn kết yêu
thương nhau hơn.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta hãy
xin Chúa tha thứ vì những chia rẽ, đố kị, ganh ghét trong cộng đoàn họ đạo chúng
ta.
- Chúng ta hãy
xin Chúa tha thứ vì cuộc sống của chúng ta chưa thực sự là ánh sáng trước mặt
muôn dân.
- Chúng ta hãy
xin Chúa tha thứ vì chưa quan tâm mang ánh sáng Tin Mừng đến cho lương dân.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
1 :
Is 8,23--9,3
Bối cảnh lịch sử :
năm 721, đế quốc Assyria chiếm miền Bắc xứ Palestina (vương quốc Israel, về sau
được gọi là miền Galilê, trong đoạn Tin Mừng này nó được gọi là "đất Dabulon và
Néptali"). Assyria bắt thành phần ưu tú của xứ này đi lưu đày và đem nhiều dân
ngoại từ các xứ khác đến lập cư ở xứ này, vì thế Galilê lại được gọi là vùng đất
của lương dân, là vùng đất tối tăm.
Nhưng ngôn sứ
Isaia đã tiên báo rằng sẽ tới ngày Ánh sáng sẽ bừng lên ở miền đất đó, và đám
dân lầm than trong bóng tối ấy sẽ được ánh sáng chiếu rọi.
2.
Đáp
ca :
Tv 26
Ý chính của Tv
này là ánh sáng hy vọng loé lên từ cảnh khốn cùng : cho dù khốn khổ có nặng nề
đến đâu, thử thách có khắc nghiệt thế nào, thì vẫn có một điều chắc chắn, đó là :
Thiên Chúa vẫn là ánh sáng và ơn cứu độ. Đó chính là niềm hy vọng của mọi tín
hữu khiến họ luôn đứng vững : "Chúa là nguồn ánh sáng và Đấng cứu độ tôi. Tôi sợ
gì ai nữa".
3.
Tin Mừng :
Mt 4,12-23
Đoạn Tin Mừng
này đánh dấu kết thúc sứ mạng của Gioan Tẩy giả và bắt đầu sứ mạng của Đức Giêsu.
Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng tại Galilê, một miền đất vốn được coi là tối tăm, là
đất của lương dân. Chính tại miền đất này, Đức Giêsu tuyên bố "Hãy sám hối, vì
Nước Trời đã đến gần". Như thế, Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia.
Đức Giêsu cũng
kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên (Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan) để cùng Ngài rao giảng
Tin Mừng Nước Trời.
4.
Bài Thánh Thư :
1 Cr 1,10-13.17
Sau khi mở đầu
bức thư bằng những lời chào hỏi (đoạn được trích đọc Chúa nhựt trước), Phaolô đi
ngay vào tệ nạn thứ nhất của tín hữu Côrintô là sự chia rẽ nhau.
- Tín hữu Côrintô đã chia ra thành 4 nhóm, mỗi
nhóm dựa vào một thừa sai và chống lại các nhóm kia : nhóm theo Phaolô, nhóm
theo Apollô, nhóm theo Phêrô (Kêpha) và nhóm theo Đức Kitô.
- Phaolô lập luận để cho thấy việc chia bè phái
như thế là sai : tất cả đều thuộc về Đức Kitô, mà Đức Kitô không thể bị chia năm
xẻ bảy như thế. Và Phaolô kêu gọi họ hãy hòa thuận, một lòng một ý với nhau.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Cuộc
phiêu lưu
vĩ
đại
từ
một
vùng
đất
bị
khinh khi
Đối với dân thủ
đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ
vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha
tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các
câu chuyện diễu cợt hằng ngày…
Trong khi những
tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt
của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức
Messia, Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, tới cư ngụ tại Capharnaum, bên bờ hồ. Xa
khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ….
Chính trên bờ hồ
chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn chứ không
phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của
Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi logic.
Chính những
người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận
được ánh sáng và đi theo Đấng là "đường, sự thật và sự sống".
Ngay tức khắc,
thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào
ngôn sứ… Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà
ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ… và họ đã đi theo Người.
Cuộc phiêu lưu
vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới mới đã ăn rễ sâu vào
vùng đất nhơ uế nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên
Chúa… (F. Delectos, được trích bởi Fiches dominicales, trang 169-170).
2.
Con
đường
sáng
Cuộc đời chúng
ta đầy dẫy bóng tối :
- tối tăm về sự
thật : cho dù có nhiều phương tiện truyền thông, Nhưng khó mà biết sự thật.
- tối tăm về
tương giao : ngay cả những người sống cạnh nhau cũng chưa hiểu nhau.
- tối tăm do tội
lỗi, do mù quáng, do cố chấp hẹp hòi…
- tối tăm do
hoàn cảnh bên ngoài nhiều bất công, gian dối, thù hận…
Trong khung cảnh
tối tăm ấy, chúng ta hãy nhớ những lời của Đức Giêsu : "Ta là ánh sáng thế gian"
(Ga 9,12) ; "Hãy tin vào ánh sáng và các ngươi sẽ trở thành con cái sự sáng" (Ga
12,36).
Nhưng tin vào
ánh sáng là gì ? Là tin vào mặc khải của Đức Giêsu, cũng như 4 môn đệ đầu tiên
trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ đã nghe tiếng gọi của Ngài, đã từ bỏ tất cả để đi
theo Ngài. Ngài sẽ giải đáp cho tất cả những băn khoăn thắc mắc của chúng ta ;
Ngài sẽ cho ta biết ý nghĩa cuộc đời ta là gì ; Ngài cho chúng ta biết chúng ta
có một người Cha trên trời hết lòng yêu thương chúng ta ; Ngài sẽ dạy cho chúng
ta biết sống yêu thương như thế nào ; và cuối cùng Ngài sẽ dẫn chúng ta về nhà
Cha trên trời.
3.
Sự
hiệp
nhất
các kitô hữu
Chúa nhựt hôm
nay nằm trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu. Các bài đọc
trong Thánh lễ hôm nay cung cấp nhiều chất liệu cho chúng ta suy nghĩ về sự hiệp
nhất này :
- Bài đọc 1 :
Đức Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa thế gian. Ngài muốn soi sáng tất cả mọi
người, kể cả các anh em ly khai, những người lạc giáo, những người lương và
những người vô thần…
- Bài đọc 2 :
Đức Giêsu đã chịu chết vì mọi người và cho mọi người. Nếu các kitô hữu chia rẽ
nhau thì chẳng khác gì Đức Giêsu bị chia năm xẻ bảy sao !
- Bài đáp ca :
"Điều tôi tìm kiếm khấng xin, là luôn được ở trong nhà Chúa tôi". Tại sao những
anh em cùng tin Đức Kitô lại không sống hòa thuận với nhau trong cùng một ngôi
nhà của Chúa ?
- Bài Tin Mừng :
"Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Tất cả mọi người, dù là công giáo hay
tin lành, chính thống v.v. đều phải sám hối về những tội lỗi của mình để có thể
được vào Nước Chúa.
4.
Chuyện
minh họa :
"Dân ngồi
trong tối
tăm
đã
thấy
ánh sáng huy hoàng"
a/ Làm phép nhà
Một bà kia mời Linh mục đến làm phép nhà mình. Bà
hướng dẫn Cha đi rảy nước thánh mọi nơi trong nhà : phòng khách, phòng ngủ, nhà
bếp, phòng ăn… Cha thấy chỗ nào cũng sạch sẽ và ngăn nắp. Cho nên chỗ nào Cha
cũng rảy nước thánh, kể cả cầu thang. Ngay cả hai con mèo đang nằm ngủ trên một
bậc thang cũng được Cha rảy nước thánh, khiến nó giật mình thức dậy kêu meo meo
và chạy vội đi nơi khác, và mọi người hiện diện phải phì cười.
Sau khi làm phép xong mọi nơi ở nhà trên thì đến
hầm kho. Bà chủ nhà chần chừ không muốn dẫn Cha xuống. Vị Linh mục hỏi :
- Sao thế ?
- Dưới đó dơ lắm.
- Càng dơ thì càng phải làm phép chứ.
- Nhưng nó lộn xộn lắm.
- Càng lộn xộn càng phải làm phép.
- Và nó tối tăm lắm.
- Cho nên phải mang ánh sáng đến cho nó.
Lời bàn :
Con người chúng ta cũng giống như một gian nhà. Những nơi mình muốn che dấu nhất
chính là những nơi tối tăm xấu xa nhất. Nhưng đó cũng là những nơi cần mang ánh
sáng tới nhất.
b/ Mang ánh sáng đến chỗ tối tăm
Một ngày kia Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne,
Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn
phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng
có lấy một bóng đèn.
Mẹ Têrêsa bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Ông gắt lên :
"Cứ để yên mọi thứ cho tôi". Nhưng Mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp,
Mẹ Têrêxa tìm thấy một chiếc đèn trong một góc phòng. Đèn bám đầy bụi, chứng tỏ
lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi :
- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên ?
- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu
cần thấy mặt ai.
- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu
của tôi đến thăm ông không ?
- Vâng, nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ
thắp đèn lên.
Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêxa đều đến
thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy :
- Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi.
Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng ngọn đèn mà Bà đã thắp lên đến
nay vẫn sáng.
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Đức Giêsu là ánh
sáng trần gian. Ai theo Người sẽ không phải đi trong bòng tối, nhưng sẽ nhận
được ánh sáng đem lại sự sống. Với quyết tâm sống như con cái sự sáng, chúng ta
cùng dâng lời cầu xin.
1. Đức Kitô đã
dùng các tông đồ làm nền móng xây dựng Hội Thánh / và đã làm cho Hội Thánh lan
rộng khắp hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Giám mục / Linh mục / phó
tế / biết chu toàn sứ mạng Chúa trao cho / là nhiệt thành và khôn ngoan lãnh đạo
dân Chúa.
2. Từ hai ngàn
năm nay / có biết bao kitô hữu đã nhiệt tình đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô /
hăng say rao giảng Tin Mừng cứu độ / xả thân phục vụ những kẻ bần cùng đói rách
/ cũng như những người bất hạnh nhất trong xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin
cho những anh chị em ấy / luôn giữ được niềm phấn khởi lúc ban đầu.
3. Chúa Giêsu
kêu gọi / "Anh em phải sám hối vì Triều đại Thiên Chúa đã đến gần" / Chúng ta
hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu hiểu rằng / sám hối là việc phải làm thường
xuyên suốt cả cuộc đời / nếu muốn được hiệp thông với Thiên Chúa / vì mang lấy
thân phận con cháu Ađam / con người rất dễ phạm tội mà khó làm việc lành.
4. Thánh Phaolô
viết / "Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói / và đừng để có sự
chia rẽ giữa anh em / nhưng hãy sống hòa thuận / một lòng một ý với nhau" /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn cố gắng
thực hiện trọn vẹn lời khuyên tha thiết của Thánh Phaolô tông đồ.
CT :
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã gọi chúng con làm môn đệ Chúa. Xin ban ơn
giúp chúng con luôn sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa. Chúng con
cầu xin…
VI.
TRONG THÁNH LỄ
- Kinh Tiền
Tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Chúa nhựt thường niên I, vì có nói tới Giáo
Hội, Nước Trời ở trần gian.
- Trước kinh
Lạy Cha : Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình hiệp nhất với Đức
Giêsu và với tất cả những kitô hữu khác cùng một niềm tin vào Ngài.
VII.
GIẢI TÁN
Anh chị em đã
được ánh sáng Đức Giêsu soi sáng, anh chị em hãy cố gắng sống như con cái sự
sáng, và cùng Đức Giêsu xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian này.
CHÚA NHỰT IV
CHỦ ĐỀ
:
NƯỚC TRỜI DÀNH CHO
NHỮNG NGƯỜI BÉ
MỌN

"Phúc
cho anh em" (Mt 5,11)
Sợi chỉ đỏ :
Lời Chúa trong
Chúa nhựt thứ 3 vừa qua loan báo Nước Trời đã đến gần. Lời Chúa hôm nay cho ta
biết thêm Nước Trời được ưu tiên dành cho những người bé mọn.
- Bài đọc 1 :
Ngôn sứ Xôphônia tiên báo dân Chúa trong tương lai gồm những người nghèo hèn bé
nhỏ tìm nương ẩn nơi Chúa.
- Đáp ca : ca
tụng việc Thiên Chúa ưu ái những người khốn khổ.
- Tin Mừng : Đức
Giêsu công bố hiến chương Nước Trời "Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo…"
Minh họa
- Mille images 59
- "Phúc cho anh em" (Mt 5,11)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Chúa nhựt vừa
qua, chúng ta đã nghe Đức Giêsu loan báo "Nước Trời đã đến gần". Hôm nay, chúng
ta sẽ nghe Đức Giêsu cho biết những ai sẽ được làm công dân Nước Trời : đó là
những người có tâm hồn nghèo, những người sống hiền hòa, những người khao khát
sự công chính v.v.
Trong Thánh lễ
này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta tập luyện được những đức tính ấy.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Lòng chúng ta
quá lệ thuộc vào tiền bạc của cải.
- Chúng ta lo
tìm kiếm hạnh phúc ở nước trần gian hơn là tìm hạnh phúc Nước Trời.
- Nhiều lúc
chúng ta không coi việc làm công dân Nước Chúa là hạnh phúc, trái lại là một
gánh nặng.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
1 :
Xp 2,3 ; 3,12-13
Dưới ách đô hộ
của đế quốc Assyria, Israel trở thành nghèo hèn, bé nhỏ. Nhưng ngôn sứ Xôphônia
lại xem đó là điều kiện căn bản để họ trở thành dân của Chúa. Vì thế ngôn sứ vừa
an ủi họ, vừa khuyến khích họ sống công chính và khiêm nhu.
2.
Đáp
ca :
Tv 145
Những người bị
áp bức, những người đói khát, tù tội, mù lòa, lưu lạc tha phương, cô nhi quả phụ
v.v. - tóm lại là những người khốn khổ - không nên thất vọng, vì Thiên Chúa sẽ
đứng ra bênh vực và chăm sóc cho họ.
3.
Tin Mừng :
Mt 5,1-12
Đây là phần đầu
của bảng Hiến chương Nước Trời, trong đó Đức Giêsu tuyên bố hạnh phúc Nước Trời
được dành cho :
- Những ai có
tâm hồn nghèo
- Những ai hiền
hòa
- Những ai lo
phiền sầu khổ
- Những ai khao
khát sống đời công chính
- Những ai xót
thương người
- Những ai có
tâm hồn trong sạch
- Những ai xây
dựng hòa bình
- Những ai bị
ngược đãi vì sống công chính.
8 mối phúc này
đều quy về mối thứ nhất là tâm hồn nghèo và đều dẫn tới hạnh phúc là được hưởng
Nước Trời.
4.
Bài thánh thư :
1 Cr 1,26-31
Bài đọc II của
Chúa nhựt trước cho thấy tình trạng chia rẽ của giáo đoàn Côrintô : họ đã chia
thành 4 nhóm chống đối nhau.
Đoạn hôm nay cho
biết lý do : sở dĩ họ chia rẽ là vì họ kiêu căng cho rằng mình khôn ngoan hơn
người khác. Thánh Phaolô lập luận cho họ thấy thứ khôn ngoan mà họ tự phụ ấy
chẳng có chút giá trị gì. Ngài trình bày cho họ biết sự khôn ngoan của Chúa :
những gì thế gian cho là điên dại, yếu kém, hèn mạt thì Thiên Chúa đã chọn để hạ
nhục những kẻ khôn ngoan.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Những
lời
chúc mừng
Tám lời "phúc
thay" trong đoạn Tin Mừng này không phải là những lời hứa (Đức Giêsu hứa
rằng những ai nghèo khổ, đói khát, hiền lành… sẽ được hạnh phúc).
Tám lời này cũng
không phải là những chỉ dẫn để được hạnh phúc (nếu muốn hạnh phúc thì
phải có tâm hồn nghèo, phải hiền lành v.v.), mà trước hết đó là những lời
chúc mừng : Đức Giêsu nói với những người nghèo, đói, bị ức hiếp v.v. rằng
họ đừng buồn rầu nữa, đừng thất vọng nữa. Trái lại họ hãy ý thức rằng họ đang
rất hạnh phúc, bởi vì cho dù người đời bỏ rơi họ, nhưng họ được một Đấng rất
quyền phép luôn yêu thương họ, đó chính là Thiên Chúa ; cho dù họ thiếu thốn
nhiều điều mà người đời tìm kiếm, nhưng họ có được một kho tàng không gì quý
bằng, đó là Nước Trời. Họ hãy vui mừng vì Đức Giêsu đến trần gian để lập một
nước hạnh phúc, mà nước đó Ngài ưu tiên dành cho họ.
2.
Một
chương
trình hành
động
Bài giảng trên
núi mở đầu bằng những lời chúc phúc. Nghĩa là sứ điệp của Đức Giêsu chủ yếu là
loan báo hạnh phúc. Nhưng loan báo cho ai, và như thế nào ?
Phải đau đớn
nhận rằng các lời chúc phúc ấy đã bị hiểu sai và bị lợi dụng làm một thứ thuốc
phiện nhằm ru ngủ nỗi khổ đau và sự nổi loạn của những người nghèo. Người ta
muốn hiểu chúng như sau : "Hỡi những người nghèo, các người hạnh phúc lắm vì các
người được Thiên Chúa yêu thương... vậy cứ tiếp tục nghèo đi ! Hãy chấp nhận
thân phận của các người, rồi một nào đó ở trên trời các người sẽ được hạnh
phúc". Nhưng thực ra Đức Giêsu nói ngược hẳn lại : "Hỡi những người nghèo, chúng
con hạnh phúc, vì từ nay chúng con không còn nghèo nữa, vì triều đại của Thiên
Chúa đã đến".
Một vấn nạn :
nếu thực sự ý nghĩa lời chúc phúc của Đức Giêsu như thế thì... Ngài đã lầm, vì
vẫn luôn còn những người nghèo, và bất công vẫn còn đấy ! Nhưng đặt câu hỏi như
vậy thì hỡi ôi, những người Kitô hữu chúng ta đã không làm tròn bổn phận của
mình. Chúng ta chỉ chờ một mình Đấng Messia thành lập triều đại Thiên Chúa. Đúng
ra Đức Giêsu là người khánh thành nước Thiên Chúa và giao trách nhiệm cho chúng
ta là các môn đệ của Ngài phải hoàn thành. Những Kitô hữu đầu tiên đã hiểu rõ
điều ấy : họ để tài sản của họ thành của chung và không có người nghèo giữa họ
(Cv 4,34). Không thể chỉ công bố suông những lời chúc phúc mà chẳng làm gì cả
theo khả năng mình để cho sự nghèo khổ dưới mọi hình thức bị biến mất.
Công việc của
Đức Giêsu là khánh thành Nước Thiên Chúa. Nếu thế thì các lời chúc phúc (và
những giáo huấn triển khai các mối phúc ấy) đối với các Kitô hữu là một chương
trình hành động trong sinh hoạt cụ thể của họ về chính trị, kinh tế, gia đình...
Chúng nhắc chúng
ta nhớ rằng động cơ hành động của chúng ta chỉ là phục vụ tha nhân và trước tiên
là những người nghèo, chứ không bao giờ được là tiền bạc hoặc quyền lực.
Chúng còn ban
một ý nghĩa sâu sắc cho những việc người Kitô hữu làm : một y sĩ chiến đấu với
bệnh tật, một công nhân đem sản phẩm của mình làm cho đời sung túc hơn, một giáo
viên cố gắng giúp giới trẻ nên người... tất cả những người ấy đều có quyền nghĩ
rằng mình đang thực hiện Nước Chúa. (Etienne Charpentier)
3.
Phúc thay ai có
tâm hồn
nghèo khó
Phật Thích Ca mở đầu bài thuyết pháp đầu tiên tại
Bênarét bằng câu : "Vạn sự sự vô thường, vạn sự khổ", nghĩa là mọi sự đổi thay
không ngừng nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh, lão, bệnh, tử : con người sinh ra, để
rồi già yếu bệnh tật, và cuối cùng phải chết. Rõ thật cuộc đời chỉ là bể khổ.
Năm trăm năm sau, Đức Kitô xuất hiện bên đất Pa-lét-tin,
dõng dạc tuyên bố trong bài giảng đầu tiên : "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ !" (Mt 5,3)
Một người mang tiếng là bi quan yếm thế, người
kia lại bị coi như không tưởng, lạc quan quá cỡ. Một bên coi đời là bể khổ, còn
một bên lại nhìn thấy màu hồng trong cái thanh bạch trống trơn.
Người ta đã tốn khá nhiều giấy mực và thời giờ
sức lực để nghiên cứu, suy tư, bàn cãi về hai bài giảng đầu tiên của Đức Phật và
của Đức Giêsu. Đã có những luận án trình bày và so sánh hai bài giảng đó. Tuy
nhiên có lẽ chẳng mấy ai hiểu được chính xác nội dung ý nghĩa của hai bài giảng
có tính cách ngôn sứ ấy. Vì thực ra, cả Đức Phật lẫn Đức Giêsu đều không có chủ
ý đề ra một lý thuyết về vấn đề hạnh phúc và đau khổ, mà chỉ chia sẻ cho anh em
nhân loại của các Ngài chính kinh nghiệm sống của mình. Kinh nghiệm của Đức Phật
là kinh nghiệm của một người đã đạt tới Chân Như, vượt ra ngoài thế giới vô
thường của những đam mê mù quáng, của sự phân chia đối kháng ; còn kinh nghiệm
của Đức Kitô là kinh nghiệm của một người thấy được sự tồn tại trong cái mất (x.
Mt 10,39) và sự sống trong cái chết (x. Ga 12,24-25)
Đức Phật chỉ nói lên cái lý do, cái nguyên nhân
làm cho người ta khổ, nhưng Người không bao giờ lên án cuộc đời, cho nó chỉ là
bể khổ. Đức Kitô cũng không bảo rằng muốn hạnh phúc thì phải là kẻ khố rách áo
ôm. Do đó Mát-thêu đã có lý khi thêm ba chữ "có tâm hồn" vào trong câu nói của
Chúa, để xác định cho rõ cái nghèo nàn nào mới thực sự đem lại hạnh phúc cho con
người.
Trong cuộc đời, xưa cũng như ngày nay, vào thời
con người còn ăn lông ở lỗ, cũng như trong thời ở khách sạn 5 sao, vẫn luôn luôn
diễn ra những cảnh trái khuấy : nhiều người có đủ mọi điều kiện để hạnh phúc, mà
thực tế lại đau khổ khôn lường, còn những kẻ xem ra bần cùng tối tăm, lại tràn
trề hạnh phúc.
Thật ra ai cũng biết rằng nghèo khó không đương
nhiên là khổ, đã đành rằng nghèo và khổ thường đi đôi với nhau. Trái lại giàu có
cũng không tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở
cái TÂM. Bởi thế các bậc thánh hiền, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng hầu
như đều luôn luôn nhất trí trong việc đề cao đời sống tâm linh.
Chính đó là lý do tại sao Đức Giêsu đề cao tâm
hồn nghèo khó, hiền hậu, dám chấp nhận khổ đau, yêu thích sự chính trực, thương
xót đồng loại, trong sạch, và biết xây dựng hòa bình. Thực ra tất cả những đức
tính trên đây là những đức tính của "người nghèo của Thiên Chúa", của một
anawim theo truyền thống Kinh Thánh. Người nghèo của Thiên Chúa không
phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn
toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, biết sống cho Người và cho anh em
đồng loại của mình, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình lien
đới với anh em đồng loại, thực thi điều răn trọng nhất là mến Chúa yêu người.
Nói theo Đông phương chúng ta, thì hạnh phúc chủ
yếu ở chỗ thực hiện được sự hòa điệu giữa lòng mình với lòng Trời, giữa lòng
mình với lòng người, nghĩa là sống sao cho hợp lòng Trời và lấy lòng của trăm họ
làm lòng mình, "dĩ bách tánh tâm vi tâm" (ĐĐK XLIX, 1)
Theo truyền thống Ấn độ nói chung và Phật giáo
nói riêng, hạnh phúc là sukha, đó là tình trạng giống như tình
trạng của một bánh xe mà trong đó mọi sự ăn khớp với nhau : vành xe, ổ trục và
các đũa xe đều tốt và nằm đúng vị trí, hòa hợp với các thành phần khác, do đó mà
bánh xe chạy trơn tru. Còn đau khổ là dukha, đó là tình trạng một
bánh xe trục trặc, vì có những thành phần hư hỏng hay không ăn khớp với những
thành phần khác.
Nói tóm lại, không ai sướng khổ một mình hay chỉ
tại mình, mà tất cả chúng ta liên đới và chịu trách nhiệm về hạnh phúc cũng như
đau khổ của nhau. Vì thế mà trong Tám mối phúc thật, Đức Giêsu cho thấy hạnh
phúc của chúng ta tuỳ thuộc vào mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với Thiên
Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại.
(Lm Thiện Cẩm, OP, Công giáo và Dân tộc, số đặc
biệt Giáng sinh 1995)
4.
Chuyện
minh họa
a/ Bài học của chó
Ngày nọ, W. Scott ném hòn đá vào một con chó lạc
để đuổi nó đi. Nhưng ông hơi mạnh tay, nên con chó bị gãy chân. Thay vì chạy đi,
con chó khập khiễng chạy lại bên ông và liếm lên bàn tay vừa ném nó. W. Scott
bảo rằng ông không bao giờ quên chuyện đó, vì nó nhắc ông nhớ đến Bài giảng Trên
núi.
b/ Người hạnh phúc nhất
Nhà vua bị bệnh nặng. Quan ngự y lo lắng, nhưng
đành bó tay. Một nhà chiêm tinh đến bảo vua chỉ khỏi bệnh khi nào được mặc chiếc
áo của một người hạnh phúc nhất.
Quan quân đổ xô đi khắp nước để tìm người hạnh
phúc nhất. Cuối cùng thì họ cũng tìm được một người hạnh phúc thực sự. Nhưng khổ
thay, người ấy quá nghèo, chẳng có lấy một chiếc áo !
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Đức Giêsu mời
gọi tất cả chúng ta : "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là
Đấng hoàn thiện". Mà muốn nên hoàn thiện như Chúa Giêsu dạy, nhất thiết phải
sống theo "Tám mối phúc thật". Với ước mong nên hoàn thiện như Cha trên trời,
chúng ta cùng tha thiết nguyện xin.
1- Đức Giêsu kêu
gọi / "Anh em hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" / Chúng
ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn dân Chúa và các nhà lãnh đạo / biết luôn cư xử
hiền hòa nhân ái / và khiêm tốn với hết thảy mọi người.
2- Trong đời
sống thường ngày / vì gương mù gương xấu của một số kitô hữu / mà nhiều người đã
lìa xa Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa thương nâng đỡ họ / và cải hóa
chúng ta / để tất cả cùng nhau xây dụng một thế giới công bình bác ái.
3- "Phúc thay ai
có tâm hồn nghèo khó" / Sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng phải là lý tưởng
của người kitô hữu trên khắp trái đất / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín
hữu / biết luôn yêu mến tinh thần nghèo khó của Tin Mừng / và sống tinh thần đó
trong cuộc sống thường ngày.
4- "Phúc thay ai
xây dựng hòa bình" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta /
biết cố gắng sống bác ái yêu thương / luôn hiệp nhất và đoàn kết / nhờ đó trở
nên những người kiến tạo hòa bình.
CT :
Lạy Chúa Giêsu, ai trong chúng con cũng đều mong muốn được hạnh phúc lâu dài.
Nhưng trong thực tế, hạnh phúc mà chúng con đang có rất mong manh. Vậy, xin Chúa
cho chúng con hiểu rằng hạnh phúc chỉ thực sự bền vững khi chúng con sống theo
Lời Chúa dạy, đặc biệt Lời Chúa trong Bài giảng trên núi. Chúa hằng sống và hiển
trị muôn đời.
VI.
TRONG THÁNH LỄ
- Kinh Tiền
Tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Chúa nhựt thường niên I, vì có nói tới Giáo
Hội, Nước Trời ở trần gian.
- Trước kinh
Lạy Cha : Tuy chúng ta là những người nghèo nàn khốn khổ, nhưng chúng ta có
một người Cha cao sang trên trời. Chúng ta hãy cùng với Đức Giêsu dâng lên Ngài
lời kinh Lạy Cha mà chính Đức Giêsu đã dạy chúng ta.
VII.
GIẢI TÁN
Anh chị em hãy
ra về và cố gắng sống theo tinh thần 8 mối phúc. Chúc anh chị em bình an.
CHÚA NHỰT V
CHỦ ĐỀ
:
SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ
CHÚA

"Anh em là ánh sáng thế gian"
(Mt 5,14)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Sự sáng của ngươi tỏa rạng như hừng
đông
- Đáp ca : Trong u tối, người xuất hiện như sự
sáng soi kẻ lòng ngay.
- Tin Mừng : Các con là sự sáng thế gian
Minh họa
- Mille images 119 D
- "Anh em là ánh sáng thế gian" (Mt 5,14)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Chúa nhựt vừa qua, Lời Chúa cho chúng ta biết
chúng ta rất hạnh phúc vì được làm công dân Nước Trời. Lời Chúa hôm nay sẽ dạy
chúng ta biết sứ mạng cao cả của người công dân Nước Trời.
Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa để hiểu sứ mạng
ấy là gì, và chúng ta hãy sốt sắng xin Chúa giúp chúng ta thi hành sứ mạng cao
cả ấy.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta chưa hãnh diện vì được làm công dân
Nước Trời. Ngược lại có khi còn che dấu hoặc xấu hổ vì điều ấy.
- Sống với những người chưa biết Chúa, chúng ta
chẳng những không mang lại điều gì tốt cho họ, trái lại còn lây nhiễm những thói
xấu của họ.
- Sống giữa những người khác, chúng ta không nêu
gương sáng, ngược lại có khi còn làm gương mù gương xấu.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Is 58,7-10) :
Trong thời gian dân do thái bị lưu đày bên
Babylon, không còn Đền thờ, không còn các lễ nghi, các tư tế và luật sĩ sợ đức
tin của dân bị phai lạt nên đã nhấn mạnh rất nhiều vào những hình thức đạo đức
như ăn chay, cầu nguyện, bố thí. Đáng tiếc là vì quá nhấn mạnh đến hình thức, họ
sao nhãng phương diện tinh thần. Khi dân do thái từ chốn lưu đày trở về, cách
sống đạo của họ cũng nặng phần hình thức.
Đoạn này thuộc về phần III của sách Isaia (các
chương 56-66, được gọi là Đệ Tam Isaia), được viết khi dân do thái từ chốn lưu
đày đã được trở về quê hương. Tác giả nhắc nhở người ta phải sống đạo có chất
lượng, để làm sao cho cuộc sống mình như một ngọn đèn tỏa sáng trước mặt mọi
người.
Cách sống như một ngọn đèn tỏa sáng là :
- Lấy của cải mình giúp cho người nghèo đói.
- Đón vào nhà mình những kẻ tứ cố vô thân
- Đem áo cho kẻ trần truồng
- Không khinh bỉ người đồng loại
- Loại khỏi lòng mình những xiềng xích, hăm dọa,
nói xấu v.v.
Được như thế thì "Sự sáng của ngươi tỏa rạng như
hừng đông"
2.
Đáp
ca
(Tv 111) :
Tv 111 mô tả cách sống của người công chính : một
mặt đầy lòng kính mến Chúa, mặt khác hết lòng yêu thương tha nhân. Người công
chính được so sánh với ánh sáng xuất hiện trong đêm tối : "Trong u tối, người
xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay."
3.
Tin Mừng
(Mt 5,13-16) : Các con là sự
sáng thế
gian
Sau khi công bố Tám mối phúc thật (Tin Mừng Chúa
nhựt IV vừa qua), Đức Giêsu khuyến khích các môn đệ, những công dân mới của Nước
Trời, hãy đem những giáo huấn của Ngài ra thi hành. Làm được như thế, họ sẽ trở
thành muối ướp mặn cho đời và ánh sáng chiếu soi cho trần gian.
4.
Bài
đọc
II
(1 Cr 2,1-5) :
Văn mạch : Tín hữu Côrintô chia rẽ nhau (đoạn
được trích đọc Chúa nhựt III), lý do là họ tự cho mình là khôn ngoan hơn người
khác. Phaolô bảo rằng cái mà thế gian cho là khôn ngoan thì thực ra chỉ là điên
dại trước mặt Chúa, còn cái mà thế gian cho là điên dại lại thì sự khôn ngoan
(Chúa nhựt IV)
Trong đoạn được trích đọc hôm nay, Phaolô đưa bản
thân mình ra làm gương :
- Về nội dung rao giảng : không giảng về sự khôn
ngoan của loài người, mà về sự điên rồ của Thập giá.
- Về cách thức : không dựa vào uy thế của tài
hùng biện, không dùng những lời quyến rủ của thế gian, nhưng chân thành đến với
tín hữu "trong sự yếu hèn, run rảy và sợ hãi".
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Hướng
chiếu
của
ánh sáng
Ánh sáng chiếu ra ngoài nó hay chiếu vào trong nó ?
Đương nhiên là chiếu ra. Cây đèn có sức chiếu
sáng, nhưng không phải chiếu cho nó mà cho chung quanh nó. Chính Đức Giêsu đã
nói : "Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt trên giá hầu soi
sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của chúng con cũng phải chiếu giãi ra
trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha
các con trên trời".
Hình ảnh cây đèn rất đơn sơ, nhưng lý giải được
rất sâu sắc những bế tắc của đức tin nơi nhiều người môn đệ Chúa : Tại sao đức
tin của họ không lớn mạnh lên mà còn nhỏ yếu đi ? Tại sao đức tin ấy như không
đủ sức nâng đỡ cuộc sống của họ trong những lúc gian nan, chứ đừng nói chi đến
nâng đỡ người khác ? Câu trả lời của cây đèn rất đơn giản mà rõ ràng : tại vì họ
là đèn, thế mà chỉ biết quanh quẩn lo chiếu vào trong mình chứ không chiếu ra
ngoài.
Nhiều người môn đệ Chúa cứ mãi lo tuân giữ luật
Chúa, mãi lo tham dự đầy đủ các ngày lễ, mãi lo những sinh hoạt nội bộ của Giáo
Hội… Họ tưởng mình như thế là sống đức tin rồi đấy. Nhưng họ cứ băn khoăn : Tại
sao Giáo Hội không phát triển ? Tại sao nội bộ Giáo Hội cứ lục đục hoài ?
Khi so sánh đức tin của người môn đệ với cây đèn
và hạt muối, Đức Giêsu đã đưa ra một định hướng rất rõ : đức tin là để tỏa ra,
đức tin là phải hướng đến người khác. Nếu không tỏa ra, đức tin sẽ là hạt muối
lạt, cây đèn sẽ tắt… Chỉ còn ném bỏ.
Như thế, cách nuôi lớn đức tin là tập quên mình
để sống cho người khác, sống vì người khác. Khi các tín hữu, nghĩa là
người có đức tin, biết hướng đến người khác thì Giáo Hội sẽ phát triển, những
khó khăn nội bộ của Giáo Hội cũng dần dần biến tan.
2.
Sức
sáng của
tình thương
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy
làm ngọn đèn chiếu sáng trước mặt thiên hạ. Còn trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia
dạy chúng ta cách nào để cho đời mình thành đèn chiếu sáng : cách tiêu cực là
không khinh bỉ người khác, loại bỏ những tranh chấp, hăm dọa, nói xấu… ; cách
tích cực là chia cơm cho kẻ đói, chia áo cho người nghèo, làm cho người đau khổ
được hạnh phúc… Và Isaia bảo đảm : "Như thế, sự sáng của ngươi sẽ tỏa rạng như
hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành mạnh nhanh chóng… ánh sáng của ngươi
sẽ bừng lên trong đêm tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày".
Chúng ta đã biết mình có bổn phận làm gương sáng.
Isaia dạy cho chúng ta biết thêm : không gương sáng nào sáng bằng tình thương ;
không việc làm nào chiếu sáng bằng việc yêu thương.
3.
Sứ
mạng
ướp
mặn
cuộc
đời
Thời nay, những
sứ điệp nói có một tầm quan trọng rất lớn
(Radio, Tivi, sách báo v.v.) Trong Thánh Lễ, bài giảng rất quan trọng. Những nhà
thờ có Cha giảng chán thì giáo dân thưa thớt, ngủ gục, lo ra… Những nhà thờ có
Cha giảng hùng hồn, mạch lạc, truyền cảm thì giáo dân đông đúc, sinh động…
Tuy nhiên phẩm chất của lời nói và của
người nói càng quan trọng hơn. Đó là kinh nghiệm tâm đắc của Phaolô, vị tông đồ
thành công nhất của Giáo Hội : "Lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào
những lời quyến rủ của sự khôn ngoan loài người", "Tôi không cho là tôi biết
điều gì khác giữa anh em ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh", "Tôi đến với anh
em trong sự yếu hèn, sợ hãi và run rẩy"… Xem thế, Thánh Phaolô thành công không
phải vì ngài nói hay, mà vì tư cách, phẩm chất và cả con người của Ngài thấm mặn
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, đến nỗi Ngài có thể nói "Tôi sống,
nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi". Nhờ đó, khi Ngài đi
đến đâu, tiếp xúc với ai thì chất mặn của muối Tin Mừng từ trong Ngài tỏa ra và
thấm vào mọi người chung quanh.
4. "Chúng
con là ánh sáng thế
gian"
Nên để ý một chút đến văn phạm của
câu nói này : Đức Giêsu không khuyến khích "Chúng con
hãy là
ánh sáng", mà Ngài khẳng định "Chúng con
là ánh sáng".
Quả thực, chúng ta là ánh sáng, bởi vì khi
tạo dựng chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta khả năng làm những việc thiện
giúp cho người khác :
- Chúng ta có đôi mắt để thấy
- Chúng ta có đôi tai để nghe
- Chúng ta có đôi tay để chăm sóc
- Chúng ta có đôi chân để bước tới
- Chúng ta có lưỡi để nói
- Chúng ta có quả tim để yêu thương
Nhưng tiếc thay, vì lười, vì ích kỷ, vì hèn nhát,
ngọn đèn của chúng ta dần lu mờ đi và có khi tắt ngấm.
Xin Chúa giúp chúng ta dám tin vào ánh sáng của
mình và vào khả năng làm điều thiện của mình.
5.
Chuyện
minh họa
Ngày xưa có một nhà nghiên cứu Thánh Kinh suốt
ngày ở trong phòng để tìm hiểu Lời Chúa và cầu nguyện, suy gẫm. Một hôm hay tin
có một vị thánh nhân đến thành phố mình, nhà nghiên cứu này hăng hái đi tìm.
Ông tìm ở các nhà thờ lớn mà không gặp. Ông tìm ở
các nhà nguyện nhỏ cũng không gặp. Tìm đến các dòng tu cũng không gặp. Cuối cùng
đang khi đi ngang chợ thì ông gặp được vị thánh ấy. Ông liền trình bày thao thức
của mình, cũng là lý do chính khiến ông muốn gặp vị thánh :
- Xin Ngài chỉ cho con biết làm thế nào để nên
thánh.
Vị thánh hỏi lâu nay nhà nghiên cứu đã làm gì.
Nhà nghiên cứu cũng thành thật kể rõ mọi việc. Cuối cùng vị thánh đưa ra lời
khuyên :
- Làm thánh trong phòng thì dễ thôi. Hãy ra chợ
và cố gắng làm thánh ở đó.
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Đức Giêsu đã nói :
"Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công
việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời". Với
quyết tâm làm cho Danh Chúa được vinh quang rạng rỡ hơn, chúng ta cùng dâng lời
cầu nguyện.
1- Chúa Giêsu đã
để trái tim bị đâm thủng khiến máu cùng nước chảy ra / hầu khơi nguồn bí tích
dưỡng nuôi Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh không ngừng được
sống nhờ Chúa đã chết và sống lại.
2- Ngày nay /
một số sách báo nhảm nhí / không ít những hình băng đồi truỵ / cổ võ bạo lực /
khuyến khích những chuyện không tốt / đã làm hư hỏng một số người trẻ / và rất
nhiều lần đã dẫn đến phạm pháp nghiêm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các
bạn trẻ / biết khôn ngoan xa lánh những thứ độc dược giết người ấy / và nỗ lực
sống lành mạnh bằng việc đọc những sách báo tốt / cũng như chỉ xem những băng
hình bổ ích / và tích cực tham gia vào công tác xã hội.
3- Chúa Giêsu
nói / "Anh em là muối cho đời / là ánh sáng cho trần gian" / Chúng ta hiệp lời
cầu xin cho người kitô hữu biết luôn cố gắng sống theo tinh thần Tám mối phúc
thật / để nhờ đó mà trở nên những chứng nhân hữu hiệu của Chúa / trong xã hội họ
sang sống.
4- Trách nhiệm
của người Kitô hữu là giúp xã hội luôn thăng tiến / Chúng ta hiệp lời cầu xin
cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết dùng khả năng Chúa ban / cũng như đời sống
thấm nhuần tình bác ái yêu thương / mà giúp mọi người sống xứng với phẩm giá con
người.
CT :
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thương chọn chúng con giữa muôn người và ban cho được
phép làm con Chúa. Xin ban ơn giúp sức để chúng con luôn sống xứng đáng với tình
thương hải hà của Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu đã dạy
chúng ta phải trở nên ánh sáng và muối để làm cho thế giới này bớt tối tăm và
thêm mặn mà. Đó là cách làm cho Nước Chúa trị đến. Trong tâm tình mong cho Nước
Chúa trị đến, chúng ta hãy sốt sắng đọc kinh Lạy Cha.
- Sau kinh Lạy Cha : "… xin đoái thương
cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin giúp chúng con thực sự
trở thành ánh sáng và muối cho trần gian. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp…"
VII.
GIẢI TÁN
Thánh lễ vừa hết, đây là lúc bắt đầu cuộc sống
của chúng ta giữa đời. Chúng ta hãy nhớ lời Chúa dạy, cố gắng làm muối ướp mặn
đời và làm ngọn đèn soi sáng thế gian.
CHÚA NHỰT VI
CHỦ ĐỀ
:
SỐNG THEO LUẬT
CHÚA

"Thầy
đến không để hủy bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn"
(Mt 5,17)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : "Việc trung thành tuân giữ các giới
răn là tuỳ ở ngươi".
- Đáp ca : "Phúc đức những ai tiến thân trong
luật pháp của Chúa".
- Tin Mừng : "Đừng tưởng Ta đến để huỷ bỏ lề luật
hay các tiên tri. Ta không đến để huỷ bỏ mà để kiện toàn".
Minh họa
- Mille images 120 C
- "Thầy đến không để hủy bỏ lề luật, nhưng để
kiện toàn" (Mt 5,17)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Người ta thường nói "Quốc hữu quốc pháp, gia hữu
gia quy", nghĩa là nước có luật nước, nhà có luật nhà. Chúng ta là công dân của
Nước Thiên Chúa nên chúng ta cũng phải biết và tuân giữ Luật của Nước Thiên
Chúa.
Lời Chúa hôm nay sẽ dạy cho chúng ta biết tinh
thần của Luật Chúa là gì và sống theo Luật Chúa thì ích lợi như thế nào.
Xin Chúa giúp chúng ta hiểu biết, yêu mến và thi
hành luật Chúa.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ những lần chúng
ta lỗi phạm đến các điều răn của Chúa và của Giáo Hội.
- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì chúng ta chỉ
lo giữ hình thức của luật mà không chú ý đến tinh thần.
- Đặc biệt chúng ta hãy xin Chúa tha thứ những
tội phạm đến điều răn quan trọng nhất là mến Chúa yêu người.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Hc 15,16-21) :
Đức Huấn Ca là một quyển sách do Ben Sira biên
soạn. Sách này là một sưu tập những ý tưởng khôn ngoan của các bậc tiền bối
trong thiên hạ cách chung và trong dân do thái cách riêng.
Trong đoạn được Phụng vụ trích đọc hôm nay, Ben
Sira cho rằng người khôn ngoan là người tuân giữ Luật Chúa. Ông lập luận :
- Thực ra muốn giữ luật Chúa hay không là tuỳ mỗi
người, cũng như mỗi người đứng trước hai con đường. Ai muốn đi con đường nào tuỳ
ý.
- Nhưng con đường thứ nhất là nước, sự sống, sự
lành ; con đường thứ hai là lửa, sự chết và sự dữ. Sống theo Luật Chúa chính là
chọn theo con đường thứ nhất.
2.
Đáp
ca
(Tv 118) :
Tác giả Thánh vịnh 118 xác tín rằng Thiên Chúa
ban luật cho con người chỉ nhằm lợi ích cho họ, bởi vì Luật Chúa là con đường an
toàn và vững chắc dẫn tới sự sống. Vì xác tín như thế, nên tác giả cầu nguyện :
"Lạy Chúa, xin tỏ cho con biết đường lối thánh chỉ Ngài và dạy cho con biết tuân
cứ luật pháp của Ngài".
3.
Tin Mừng
(Mt 5,17-37) :
Trong các bài Tin Mừng của các Chúa nhựt trước,
chúng ta đã thấy Đức Giêsu như một Môsê mới, đứng trên núi Sinai mới (núi Bát
Phúc) để ban hành Luật mới của Nước Trời (Tám mối phúc thật).
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu so sánh
luật mới của Ngài với luật cũ của Môsê : Luật mới này không huỷ bỏ luật cũ mà
kiện toàn nó.
Sau đó, Chúa Giêsu đưa ra 4 trường hợp cụ thể :
a/ Luật cũ cấm giết người – Luật mới dạy phải coi
người khác là anh em và cấm "giết" anh em mình (chữ "anh em" được dùng rất nhiều
lần trong tiểu đoạn nay). Đã là anh em với nhau thì phải thương yêu nhau, nếu có
gì bất hòa thì hòa giải với nhau. Phẫn nộ với nhau, chửi nhau là ngốc là khùng,
hay giữ mãi sự bất hòa với nhau tức là không coi nhau là anh em, nói cách khác,
tức là "giết" chết người anh em đó rồi, vì người đó không còn là "anh em" của
mình nữa mà đã trở thành người ngoài, người dưng.
b/ Luật cũ cấm hành vi ngoại tình – Luật mới ngăn
chận ngoại tình từ ước muốn. Vậy phải chận đứng tất cả những gì gây nên ước muốn
xấu xa đó, như con mắt, cái tay, cái chân…
c/ Luật cũ quy định thủ tục li dị – Luật mới
triệt để cấm li dị.
d/ Luật cũ cấm thề gian – Luật mới dạy sống chân
thực. Khi đã sống chân thực rồi thì không cần thề nữa.
Chú ý : Trong tiểu đoạn này, vì muốn nhấn mạnh về
những giáo huấn của Luật mới, Chúa Giêsu nhiều lần dùng kiểu nói cường điệu như :
chửi anh em là khùng thì bị vạ lửa địa ngục, để lễ vật lại ở bàn thờ, chặt tay
móc mắt v.v. Chúng ta đừng hiểu những kiểu diễn tả cường điệu ấy theo sát nghĩa
đen.
4.
Bài
đọc
II
(1 Cr 2,6-10) (Chủ
đề
phụ) :
Phaolô nói tiếp về sự khôn ngoan đích thực : đó
là khôn ngoan của Tin Mừng.
Và ngài giải thích về hai loại khôn ngoan : khôn
ngoan thế gian chỉ dẫn đến hư vong ; còn khôn ngoan của Thiên Chúa, tuy có thể
bị thế gian cho là ngu dại (khôn ngoan Thập giá) nhưng đưa đến vinh quang.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Con
đường
sống
Trong bài đọc I, Ben Sira nói đến 2 con đường :
con đường được vạch ra bởi các giới răn là con đường sống, con đường nước, con
đường sự lành ; con đường thứ hai thực ra không phải là đường mà là muốn đi đâu
thì đi, không có chỉ dẫn, không có định hướng, không có ngăn cản… đó là con
đường lửa, con đường sự dữ, con đường sự chết.
Chỉ cần một thí dụ nhỏ cũng đủ để nhất trí với
Ben Sira : lái xe trên xa lộ. Muốn an toàn, hay nói cách khác là muốn sống,
người lái xe phải tuân thủ rất nhiều luật : đoạn nào phải chạy với tốc độ nào,
chỗ nào được quẹo, chỗ nào phải dừng lại, muốn vượt thì phải làm sao v.v. và
v.v.
Người lái xe nào nghĩ rằng tất cả những luật ấy
là bó buộc, là bóp chết sự tự do của mình, rồi bất chấp tất cả. Kết quả sẽ thế
nào ? Người đó chết. Chẳng những thế, có thể làm cho nhiều người khác chết theo.
Đi trên một đoạn đường xa lộ mà đã thế. Huống chi
trọn cuộc hành trình của đường đời.
2.
Luật
là luật !
Nhiều người nói "luật là luật". Những người này
bám sát mặt chữ của các khoản luật và buộc người ta tuân thủ một cách nô lệ từng
chữ ấy. Lúc đó, luật trở thành chủ, và con người trở thành nô lệ. Cuộc sống quá
nặng nề, không chịu nổi. Luật của pharisêu là như thế đó. Ngày sabát, nếu có
người bệnh cũng không được chữa, bởi vì "luật" cấm không được làm việc gì trong
ngày đó.
Nếu chú ý đọc hết bài giảng trên núi rất dài của
Đức Giêsu (từ đầu chương 5 đến hết chương 7 Tin Mừng Mátthêu), chúng ta sẽ ngạc
nhiên là tuy Ngài nói đến luật cũ và luật mới, nhưng Ngài chỉ giải thích những
khoản luật cũ chứ không đưa thêm khoản luật nào "mới" của Ngài cả. Đức Giêsu
không thêm luật, nhưng Ngài chỉ cho thấy tinh thần của luật. Vì thế ta có thể
nói : luật của Chúa Giêsu không phải là luật, mà là tinh thần. Tinh thần là sự
sống của luật. Đã có quá nhiều khoản luật, chỉ thiếu tinh thần và sự sống thôi.
Sau này, trong một cuộc đối thoại với một luật
sĩ, Đức Giêsu có nói tới hai khoản "luật" quan trọng nhất là mến Chúa và yêu
người. Nhưng thực ra hai khoản đó cũng đã có sẵn trong bộ luật cũ Cựu Ước. Khoản
luật thì vẫn cũ, cái mới là tinh thần : tinh thần "yêu" và tinh thần "mến".
Tín hữu chúng ta đang cố gắng tuân giữ rất nhiều
luật : Luật Chúa và luật Giáo Hội. Nhưng hãy lưu ý kỹ điều này : nếu chỉ giữ
"luật" mà không giữ đúng "tinh thần" của luật thì ta sẽ thành nô lệ, sẽ thành
pharisêu.
3.
Luật
gia
đình :
Cha con, anh em
Tinh thần bao trùm tất cả mọi khoản luật là tinh
thần gia đình : đối xử với Thiên Chúa bằng tình hiếu thảo cha con và đối xử với
người khác bằng tình huynh đệ anh em.
Đọc lại Bài giảng trên núi rất dài từ chương 5
đến hết chương 7 Tin Mừng Mt, ta thấy mỗi lần nói đến Thiên Chúa thì Đức Giêsu
đều nhắc ta nhớ Ngài là Cha, và mỗi lần nói đến người khác thì Đức Giêsu cũng
nhắc ta nhớ họ là anh em của ta.
- Thí dụ như về luật đối xử với người khác (Mt
5,21-26) : "Ai giận anh em mình… Ai mắng anh em mình… Ai
chửi anh em mình… Khi con sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có
người anh em đang có chuyện bất bình với con…"
- Thí dụ về những việc đạo đức (Mt 6,1-18) : "Khi
bố thí thì đừng có khua chiêng đánh trống… Cha của anh, Đấng thấu suốt
những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh… Khi cầu nguyện… Hãy cầu nguyện với Cha
của anh, Đấng thấu suốt những điều kín đáo… Còn khi ăn chay… Cha của anh
Đấng thấu suốt những gì kín đáo…"
Thánh Kinh thường gọi Luật là "ách" và "gánh".
Nhưng luật của Chúa Giêsu là luật gia đình. Luật gia đình tuy cũng là "ách" và
"gánh" nhưng rất nhẹ nhàng, êm ái : "Aùch Ta êm ái, gánh ta nhẹ nhàng".
4. "Đừng
nổi
giận
với
anh em mình"
Đức Giêsu không bảo "Đừng nổi
giận", mà bảo "Đừng nổi giận với
anh em mình". Nhận xét này có nhiều ý nghĩa.
Xét về mặt tâm lý, giận là một trong "thất tình",
nghĩa là một trong 7 thứ tình cảm tự nhiên mà người lành mạnh nào cũng có. Nếu
ta biết yêu ta và tự trọng ta thì khi ai đó đối xử bất công với ta thì tự nhiên
ta nổi giận. Khoa tâm bệnh học còn cho biết rằng cứ đè nén cơn giận mãi còn có
thể gây hại cho tâm thần và cả sức khoẻ nữa. Tự nó, tình cảm giận không có gì
xấu. Chính Đức Giêsu cũng từng nổi giận khi thấy người ta buôn bán trong sân Đền
thờ Giêrusalem.
Chỉ xấu khi "nổi giận với anh em mình", nghĩa là
vì giận quá mà không còn coi người anh em mình như anh em nữa, trái lại coi họ
là người dưng, thậm chí là kẻ thù. Nói tóm lại là giận đến nỗi mất tình huynh
đệ. Trong trường hợp này "giận" đồng nghĩa với "giết" : không phải giết chết một
mạng sống mà giết chết một mối tình, vì người trước đây là anh em nay không còn
là anh em nữa.
5.
Chuyện
minh họa
a/ Giận dữ
Khi R. Weaver còn làm công nhân hầm mỏ, có lần
anh vô tình chọc giận một công nhân khác. Anh này gầm lên :
- Chắc tao phải cho mày mấy bạt tai quá !
- Nếu anh thấy cần thì cứ làm đi.
Người ấy tát Weaver một cái. Anh đưa má kia,
tát nữa. Tất cả là 5 lần. Đến lần thứ 6, người kia hậm hực bỏ đi. Weaver còn nói
theo : "Chúa tha thứ cho anh. Tôi cũng thế. Xin Chúa cứu anh."
Sáng hôm sau khi xuống mỏ, người đầu tiên mà
Weaver gặp là người tát mình. Anh mỉm cười lại gần. Người ấy chợt bật khóc : "Ôi
anh Richard. anh thực sự tha thứ cho tôi chứ ?"
Cả hai ôm chầm lấy nhau. Rồi người ấy nhập đạo.
b/ Tha thứ
Dick và Dorothy
là hai chú bé luôn bị một chú nọ to con bắt nạt. Hai chú tức mà không làm gì
được. Ngày nọ, hai chú đọc đoạn Tin Mừng kể chuyện Phêrô hỏi Chúa : "Khi
anh em xúc phạm đến con, thì con phải tha bao nhiêu lần ? Có phải 7 lần không ?"-
"... Không phải 7 lần, mà là 70 lần 7."
Dick làm tính nhẩm : "Vậy là Chúa bảo tha 490 lần." Hai đứa thinh lặng một lúc,
rồi Dorothy nói : "Ta hãy mua một cuốn vở, mỗi khi tha cho hắn, mình ghi vào."
Và Dick reo lên : "Sau lần thứ 490, tụi mình sẽ cho hắn biết tay !"
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Chúa ban lề luật
để giúp những ai có niềm tin luôn bước đi trong ánh sáng của Người và được sống
muôn đời. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.
1- Chúa Giêsu đã
đón nhận niềm tin yêu của Thánh Phêrô / và trao cho ngài nhiệm vụ dẫn dắt đoàn
chiên của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho đấng kế vị ngài / cũng được lòng
tin yêu như vậy.
2- Một trong
những nguyên nhân quan trọng gây ra biết bao đổ vỡ trong đời sống hôn nhân và
gia đình / chính là sự gian dối và thiếu chung thuỷ / Chúng ta hiệp lời cầu xin
cho những ai đang sống trong bậc hôn nhân / được ơn trung thành với nhau đến
cùng.
3- Ngày hôm nay
/ nhiều trẻ em và thanh niên hư hỏng / một phần do cha mẹ quá cưng chiều / một
phần do cha mẹ bất hòa dẫn tới li dị / không ai quan tâm dạy dỗ con cái / Chúng
ta hiệp lời cầu xin cho các bậc cha mẹ / luôn sống hòa thuận thương yêu nhau /
và hết lòng giáo dục đức tin / và nhân bản cho con cái của mình.
4- Sống trung
thành / không gian dối / phải là lối sống thường ngày của người kitô hữu / Chúng
ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn sống ngay thẳng và
chân thành như Chúa Giêsu đã dạy.
CT :
Lạy Chúa là Thiên Chúa trung thành, xin ban ơn trợ giúp để chúng con hiểu rằng
nếu muốn đứng vững giữa muôn ngàn thử thách trên đường đời, cũng như muốn khỏi
sa vào hố diệt vong, chúng con cần phải giữ trọn lề luật Chúa. Chúng con cầu xin…
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Kinh Tiền tụng : nên dùng Kinh tiền tụng
Chúa nhựt thường niên số VII, nêu gương vâng phục của Đức Giêsu.
- Trước kinh Lạy Cha : Luật Chúa Giêsu dạy
chúng ta đối xử với Thiên Chúa như con đối với Cha, và đối xử với tha nhân như
anh em đối xử với nhau. Trong tình gia đình, tất cả chúng ta cùng dâng lên Cha
chúng ta lời kinh sau đây.
VII.
GIẢI TÁN
Chúng ta đã cùng nhau tham dự Thánh lễ trong tình
nghĩa cha con, anh em. Giờ đây, Thánh lễ đã hết, chúng ta ra về. Hãy tiếp tục
sống với Chúa và với nhau bằng tình nghĩa gia đình ấy. Chúc anh chị em luôn bình
an.
CHÚA NHỰT VII
CHỦ ĐỀ
:
SỐNG BẰNG YÊU
THƯƠNG

"Hãy
yêu thương kẻ thù" (Mt 5,44)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : "Ngươi hãy yêu mến đồng loại ngươi
như chính mình ngươi".
- Đáp ca : "Chúa là Đấng thương xót và nhân ái".
- Tin Mừng : "Hãy yêu thương thù địch"
Minh họa
- Mille images 121 B
- "Hãy yêu thương kẻ thù" (Mt 5,44)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Ở đời này, và cả ở đời sau, không có gì quan
trọng cho bằng tình yêu. Hạnh phúc chính là yêu và được yêu lại. Nhưng chắc gì
chúng ta đã hiểu đúng về tình yêu. Trong Thánh Lễ này, Lời Chúa sẽ dạy chúng ta
điều quan trọng đó. Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu và thực thi yêu
thương trong cuộc sống chúng ta.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta yêu thương một số người, nhưng đồng
thời cũng ghét bỏ nhiều người khác.
- Chúng ta muốn người ta yêu thương mình, nhưng
mình lại không yêu thương người khác.
- Đặc biệt chúng ta nuôi dưỡng lòng ganh ghét,
hận thù, là điều hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Chúa.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Lv 19,1-2.17-18) :
Sách Lêvi là một bộ sưu tập những khoản luật rất
cổ xưa, trong đó các chương từ 17 đến 25 (đoạn được trích đọc hôm nay nằm trong
phần này) được gọi là "Bộ luật về sự thánh thiện".
Vấn đề căn bản được đặt ra trong bộ luật này là :
Thiên Chúa là thánh, con người là tội lỗi. Vậy làm thế nào con người tội lỗi như
chúng ta có thể đến gần Thiên Chúa thánh thiện được ?
Câu trả lời tuy rất đơn giản nhưng lại rất sâu
sắc : Hãy sống yêu thương như chính Thiên Chúa đã yêu thương. Sách Lêvi diễn tả
cuộc sống yêu thương theo hai phương diện :
- Phương diện tiêu cực là "Ngươi sẽ không thù
ghét anh em ngươi… Ngươi sẽ không báo oán, không cưu thù với con cái dân ngươi".
- Phương diện tích cực là "Ngươi hãy yêu mến đồng
loại ngươi như chính mình ngươi".
Chúng ta hãy chú ý : đối tượng của lòng yêu
thương là "anh em ngươi, con cái dân ngươi, đồng loại ngươi". Những kiểu nói đó
đều chỉ về dân Israel. Điều này có nghĩa là lòng yêu thương trong Cựu Ước còn
giới hạn nơi những người Israel với nhau.
2.
Đáp
ca
(Tv 102) :
Thánh vịnh này ca tụng tình thương của Thiên
Chúa, thể hiện qua những nét : ban ân huệ, tha thứ, cứu chữa, chuộc mạng, thương
xót và nhân ái. Ngài yêu thương loài người như Cha thương con cái.
3.
Tin Mừng
(Mt 5,38-48) :
Đức Giêsu đã nói ở phần đầu bài giảng trên núi là
giáo huấn của Ngài hoàn thiện Luật cũ. Trong bài đọc I, chúng ta đã thấy Luật về
sự thánh dạy phải yêu thương, nhưng lòng yêu thương ấy chỉ giới hạn trong những
người Israel với nhau. Còn trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy phải mở rộng
yêu thương đến kẻ thù nữa.
- Theo tinh thần Cựu Ước, người ta có quyền trả
đũa "Mắt đền mắt, răng thế răng". Còn theo giáo huấn của Đức Giêsu thì đừng trả
đũa nhưng hãy nhường nhịn.
- Theo tinh thần Cựu Ước, người ta chỉ yêu thương
người đồng bào. Còn theo giáo huấn của Đức Giêsu thì hãy yêu thương thù địch và
lấy ơn để báo oán.
Lý do của lòng yêu thương bao la ấy là chúng ta
phải noi gương Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời, "Đấng làm cho mặt trời
mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên người công chính
lẫn kẻ bất lương".
Như thế, giáo huấn về yêu thương của Đức Giêsu
thể hiện đúng nguyên tắc mà Luật về sự thánh trong sách Lêvi đã đề ra : "Các
ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh".
4.
Bài
đọc
II
(1 Cr 3,16-23) (Chủ
đề
phụ) :
Ôn lại những đoạn được trích đọc các Chúa nhựt
trước : Tín hữu Côrintô tự hào mình khôn ngoan nên chia rẽ nhau, nhóm thì theo
Phaolô, nhóm khác theo Apollô, nhóm khác nữa theo Kêpha (tức Phêrô).
Thánh Phaolô nói cho họ biết rằng tất cả là Đền
thờ của Thiên Chúa, một thể thống nhất liên kết với nhau. Do đó họ không nên dựa
vào sự khôn ngoan để kình chống nhau, làm hại đến tính thống nhất của giáo đoàn.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Thế
nào là thánh ?
Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta nghe được hai
lời kêu gọi nên thánh như Thiên Chúa : "Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng
Thánh" (bài đọc I) ; "Các con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là
Đấng trọn lành" (Bài Tin Mừng).
Thánh là thế nào ?
Người ta thường hình dung vị thánh là một người
khổ hạnh, xa lánh thế gian, chuyên chăm đọc kinh cầu nguyện… Vì hình dung như
thế, người ta ngưỡng mộ các vị thánh nhưng không thích làm thánh.
Bài đọc I và bài Tin Mừng hôm nay hình dung vị
thánh một cách rất dễ thương, dễ thích : Thánh là người cố gắng giống Chúa. Mà
vì Chúa là tình yêu cho nên thánh là người sống yêu thương, chẳng những yêu
thương những người thân cận với mình, mà còn yêu thương cả những kẻ thù ghét
mình.
Một vị thánh như thế, ai mà không thích ? Hình
ảnh một vị thánh như thế, ai mà không muốn trở thành ? Và những người thánh như
thế, xã hội nào mà không cần đến ?
2. "Mắt
đền
mắt,
răng
thế
răng"
Toàn văn của khoản luật trả đũa được ghi trong
sách Xuất hành (Xh 21,24) như sau : "Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay,
chân đền chân, phỏng đền phỏng, bầm đền bầm, sưng đền sưng". Mục đích của khoản
luật này là tuy cho phép trả đũa nhưng giới hạn sự trả đũa đúng mức bị gây hại :
kẻ thù làm mình hư một mắt, mình có thể trả đũa làm cho nó hư lại một mắt (không
được hai) ; nó đánh mình bầm, mình có thể đánh nó bầm lại (không được hơn)…
Một điều đáng buồn là ngay trong thời đại Tân Ước
này, nhiều người chẳng những chưa giữ được giới hạn tối thiểu của luật Cựu Ước
mà còn tệ hơn thế nhiều. Họ sống theo luật "Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại".
Hãy nhìn tình hình xung đột bên Trung Đông giữa Palestine và Israel : một người
của bên này bị bắn tỉa chết là liền sau đó một làng của bên kia bị máy bay bên
này ném bom. Trên bình diện nhỏ hơn : hai đứa trẻ đánh nhau kéo theo hai gia
đình xung đột với nhau ; khi hai người cãi nhau, người này chửi một câu thì
người kia đáp lại ba câu ; người này nói "Cha mầy" thì người kia đáp lại "Tổ
tiên sư mầy"…
Làm thế nào để chấm dứt xung đột ? Cách giải
quyết "Mắt đền mắt răng đền răng" rất khó dừng lại ở giới hạn hợp lý mà thường
có khuynh hướng leo thang trả đũa. Còn nếu giải quyết bằng cách "Hòn đất ném đi
hòn chì ném lại" thì xung đột càng leo thang nhanh hơn.
Đến đây chúng ta mới thấy giáo huấn của Đức Giêsu
rất khôn ngoan. Xung đột chỉ chấm dứt được khi một bên chịu nhường nhịn. Nhường
nhịn không có nghĩa là mình yếu, mình thua, nhưng là mình đang cố gắng nên thánh
như Thiên Chúa ở trên trời là Đấng thánh.
3.
Yêu thương
kẻ
thù không phải
là thiện
cảm,
mà là thiện
chí
Martin Luther King là một mục sư da đen, người đã
đấu tranh để người da đen không còn bị người da trắng ngược đãi. Ông có một cách
hiểu rất dễ chấp nhận về lời Chúa Giêsu dạy "Hãy yêu thương kẻ thù", như sau :
"Trong Tân Ước, chúng ta thấy từ Agapè được dùng
để chỉ tình yêu. Đó chính là tình yêu dồi dào không đòi một đáp trả nào hết. Các
nhà thần học nói đó là tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nới tâm hồn con người.
Khi vươn lên một đỉnh tình yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không
phải vì chúng ta có thiện cảm với họ, cũng không phải vì chúng ta đánh giá cao
lối sống của họ. Chúng ta yêu thương họ vì Thiên Chúa yêu thương họ. Đó chính là
ý nghĩa lời Đức Giêsu dạy "Anh em hãy yêu thương kẻ thù". Phần tôi, tôi sung
sướng vì Ngài đã không nói "Anh em hãy có thiện cảm với kẻ thù của anh em"
bởi vì có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi. Thiện cảm là một xúc cảm. Tôi
không thể có xúc cảm với người đã ném bom vào gia đình tôi. Tôi không thể có
thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi
dưới sự bất công. Không, không thể có một thiện cảm nào đối với người đêm ngày
đe dọa giết tôi. Nhưng Đức Giêsu nhắc tôi rằng tình yêu còn lớn hơn thiện cảm,
rằng tình yêu là thiện chí biết cảm thông, có tính sáng tạo, cứu độ đối
với hết mọi người" (Trích bởi Fiches dominuicales, Năm A, trang 201)
4.
Mảnh
suy tư
- Khi đọc lịch sử người ta rất buồn, không phải
buồn vì những tội ác mà những kẻ ác đã phạm, cho bằng vì những sự trừng phạt mà
người lành phải gánh chịu ; và một cộng đoàn trở nên hung ác không phải do những
tội ác thỉnh thoảng xảy ra cho bằng do thói quen xử dụng hình phạt. (Oscar
Wilde)
- Tha thứ giống như cái gì ? Giống như mùi hương
mà bông hoa tỏa ra khi nó bị giẫm nát.
5.
Lời
cầu
nguyện
cuối
ngày
Lạy Chúa
mỗi ngày khi chúng con đi ngủ là đi vào một cái
chết nho nhỏ
để chịu một cuộc phán xét nho nhỏ về một ngày vừa
qua.
Ước gì khi đó từng điều lầm lỗi của chúng con đều
đã được tha thứ,
và từng điều không thánh thiện của chúng con đều
đã được thánh hóa.
Xin đừng để còn một điều gì đi theo chúng con vào
giấc ngủ mà chưa được tha thứ và thánh hóa.
Có như thế chúng con mới luôn sẵn sàng cho cuộc
tái sinh vào cõi đời đời,
chúng con dám nhìn về phía trước với ánh mắt chan
chứa tình yêu và hy vọng
và có thể đứng vững trước mặt Chúa là Đấng vừa là
quan tòa vừa là Đấng cứu độ chúng con, một quan tòa thánh thiện và một đấng cứu
độ yêu thương. (Đức Giám Mục Appleton)
6.
Chuyện
minh hoạ
a/ Trả thù
Một thanh niên trong làng bị lăng mạ cách thậm
tệ. Anh vội vàng đến mục sư kể cho ông nghe và muốn đi trả thù ngay.
- Tốt hơn, con nên về nhà.
- Nhưng con bị nhục mạ.
- Vậy thì con càng nên về nhà ngay lúc này. Sự
nhục mạ cũng giống như bùn.
- Đúng thế. Con sẽ làm sạch nó.
- Này con, có một điều con có thể học hỏi tốt
ngay bây giờ và sau này : Bùn được gạt sạch dễ dàng khi nó khô.
b/ Tiêu diệt kẻ thù
Một hoàng đế Trung hoa tuyên bố sẽ tiêu diệt
hết các kẻ thù. Nhưng ít lâu sau, thần dân thấy nhà vua đi lại, ăn uống với kẻ
thù trước kia.
- Chẳng phải ngài đã từng nói là sẽ tiêu diệt
hết kẻ thù ?
- Đúng, ta đã tiêu diệt hết kẻ thù, vì ta đã
biến họ thành bạn bè của ta.
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Chúng ta hãy cầu
xin Chúa dùng tình yêu Đức Kitô mà thiêu đốt lòng chúng ta. Và chúng ta hãy dâng
lên Chúa những lời cầu xin tha thiết sau đây :
1- Chúng ta hãy
cầu xin Chúa cho Hội Thánh luôn luôn dùng tiếng nói tình thương để giới thiệu
Đức Kitô là Đấng Thiên sai, là Người Tôi Tớ đau khổ và là Con Thiên Chúa.
2- Chúng ta hãy
cầu xin Chúa cho ánh sáng Chúa Kitô được chiếu tỏa trên mọi dân tộc và mang ơn
cứu độ đến cho mọi người.
3- Chúng ta hãy
cầu xin Chúa cho mọi kitô hữu đã lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, luôn luôn theo sự
hướng dẫn của Ngài mà bền tâm theo tiếng gọi trọn lành của Chúa.
4- Chúng ta hãy
cầu xin Chúa cho việc tham dự Thánh lễ Chúa nhật hôm nay trở nên nguồn mạch tình
thương và ơn cứu độ cho tất cả mọi người trong xứ đạo chúng ta.
CT :
Lạy Chúa, Ngài hằng ban phát mọi ơn lành. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện mà
soi dẫn cho biết những gì là ngay chính, và giúp cho đủ sức thi hành những việc
ấy. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Hôm nay, khi đọc kinh
Lạy Cha, chúng ta hãy đặc biệt lưu ý câu "Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con
cũng tha kẻ có nợ chúng con".
- Chúc bình an : Chúng ta hãy chúc bình an
cho nhau trong tâm tình thực sự yêu thương và tha thứ.
VII.
GIẢI TÁN
Anh chị em sắp trở lại với cuộc sống, một cuộc
sống nhiều va chạm, xung khắc. Hãy cố gắng thực thi điều Chúa Giêsu đã dạy :
"Các con hãy yêu thương thù địch các con".
CHÚA NHỰT VIII
CHỦ ĐỀ
:
SỐNG TRONG SỰ CHĂM SÓC
CỦA
CHÚA

"Hãy ngắm xem chim trời… Hãy ngắm xem hoa huệ
ngoài đồng"
(Mt 6,26.28)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Is 49,14-15) : "Ta sẽ không quên
ngươi đâu"
- Đáp ca (Tv 61) : "Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn
tôi được an vui"
- Tin Mừng (Mt 6,24-34) : "Cha các con biết rõ
các con cần gì"
- Bài đọc II (1 Cr 4,1-5) (Chủ đề phụ) : "Anh em
đừng xét đoán"
Minh họa
- Mille images 130 C
- "Hãy ngắm xem chim trời… Hãy ngắm xem hoa huệ
ngoài đồng" (Mt 6,26.28)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Trong Thánh lễ hôm nay, Lời Chúa sẽ cho chúng ta
biết rằng Ngài rất yêu thương chúng ta, Ngài biết rõ chúng ta cần gì ngay trước
khi chúng ta mở miệng xin Ngài, Ngài hằng chăm sóc chúng ta từng phút từng giây,
và ngay cả khi chúng ta quên Ngài thì Ngài vẫn không quên chúng ta.
Vậy chúng ta hãy dâng Thánh lễ trong tâm tình tạ
ơn, và hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta luôn sống phó thác trong sự chăm sóc của
Ngài.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta quá lo lắng về những nhu cầu của cuộc
sống vật chất đến nỗi quên phó thác vào Chúa.
- Chúng ta bỏ nhiều thời giờ và công sức để tìm
kiếm của cải vật chất, mà không ưu tiên tìm biết để thi hành Thánh ý Chúa.
- Chúng ta hay xét đoán và lên án người khác.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Is 49,14-15) :
Vì phải sống kiếp lưu đày bên Babylon, chịu biết
bao khổ cực, cay đắng, dân Israel nản lòng, đức tin yếu đi. Họ than "Chúa bỏ rơi
tôi, Chúa đã quên tôi rồi".
Đoạn sách này là phần thứ hai của sách mang tên
ngôn sứ Isaia, còn được gọi là "Sách an ủi". Tác giả, một đồ đệ của Isaia, khẳng
định với dân : Thiên Chúa không bao giờ bỏ quên họ, bởi vì họ là con của Ngài.
"Nào người mẹ có thể quên con mình sao ? Cho dù có người mẹ nào quên con thì Ta,
Ta sẽ không quên con đâu".
2.
Đáp
ca
(Tv 61) :
Tv này nối tiếp ý tưởng của Đệ nhị Isaia : Bởi vì
Chúa không bao giờ quên chúng ta là con cái của Ngài, cho nên chúng ta hãy vững
tin rằng lúc nào cũng có thể tìm được nơi Ngài sự nghỉ ngơi, ơn cứu độ và sự che
chở : "Duy nơi Thiên Chúa mà thôi, linh hồn tôi mới nghỉ ngơi yên hàn".
3.
Tin Mừng
(Mt 6,24-34) :
Khởi đầu đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu bảo chúng
ta hãy chọn lựa một là phụng sự Thiên Chúa, hai là phụng sự tiền của, bởi vì
"không ai có thể làm tôi hai chủ được".
Phụng sự Thiên Chúa là ưu tiên tìm Nước Thiên
Chúa – nghĩa là cố gắng sống theo Hiến chương Nước Trời – và tìm sự công chính
của Ngài – nghĩa là tìm biết và thi hành thánh ý Chúa.
Ngài còn bảo đảm : tất cả mọi như cầu khác về
cuộc sống vật chất, như của ăn, áo mặc, sức khoẻ v.v. Ngài sẽ lo hết cho chúng
ta.
4.
Bài
đọc
II
(1 Cr 4,1-5) :
Tín hữu Côrintô có rất nhiều tính xấu. Chúng ta
đã thấy một số tính xấu trong những đoạn thư được trích đọc trong các Chúa nhựt
trước, như óc bè phái, tính hay tranh cãi, tính tự kiêu v.v. Hôm nay ta thấy
thêm một tính xấu khác, đó là hay xét đoán.
Thánh Phaolô lưu ý họ một chân lý nền tảng : Chỉ
có Thiên Chúa mới có quyền xét đoán, bởi vì duy có Ngài là biết rõ mọi sự trong
đầu và trong tim mỗi người. Còn chúng ta là người phàm không biết rõ thì đừng
bao giờ xét đoán ai.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1. "Có
người
mẹ
nào quên con mình
được
không ?"
Tại Dublin có một người mẹ hết sức đau khổ vì bà
có một đứa con trai hư đốn. Nó không chịu học hành mà cũng chẳng chịu làm ăn.
Suốt ngày chỉ biết ăn uống nhậu nhẹt và kết bạn với những tên lưu manh. Tiền bạc
và đồ đạc gì có giá trị của bà hể hở ra thì bị nó ăn cắp. Nhiều lần Bà hết
khuyên dạy đến năn nỉ nó sửa mình, nhưng chẳng bao giờ nó nghe theo. Cuối cùng
nó bị bắt giam trong tù. Nhiều người nghĩ rằng bây giờ bà có thể nhẹ gánh khỏi
phải lo cho nó nữa. Nhưng không, tuần nào bà cũng đều đặn vào tù thăm nó với một
túi xách đầy những thứ nó cần.
Một hôm khi Bà đang trên đường vào tù thăm con
thì gặp Cha Xứ. Cha nói :
- Thằng con của Bà đã phá hỏng tất cả hạnh phúc
của đời Bà. Thôi từ này về sau đừng thèm nghĩ tới nó nữa.
Nhưng Cha rất đỗi ngạc nhiên khi Bà đáp lại :
- Dù nó đã gây biết bao tội lỗi và dù con không
hề thích những tội lỗi của nó, nhưng dù sao nó vẫn luôn là con của con, con
không thể bỏ nó được.
Lời bà mẹ này nói cũng chính là lời Chúa nói qua
miệng ngôn sứ Isaia trong bài đọc I hôm nay : "Có người mẹ nào quên con mình
được chăng ? Và cho dù có người mẹ nào như thế, thì Ta, Ta sẽ chẳng bao giờ quên
ngươi đâu".
Quả thật không có tình yêu nào bao la và bền vững
như tình mẹ,ï tình cha, và trên cả tình mẹ cha là tình yêu Thiên Chúa.
Chính vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta với một
tình yêu bao là bền vững như thế cho nên trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mới
khuyên chúng ta hãy phó thác tất cả nơi tình yêu của Ngài : Đừng lo chi đến cái
ăn, cái mặc, cũng đừng lo đến mạng sống và tuổi thọ. Hãy chỉ lo một điều duy
nhất mà thôi là lo tím kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.
2.
Hãy xem chim trời
và cỏ
hoa
đồng
nội
Những người lớn quá bận rộn nên không còn thời
giờ làm một việc mà hồi nhỏ rất thường làm, đó là ngắm nhìn thiên nhiên. Hôm
nay, chúng ta hãy tạm gác qua một bên mọi bận rộn của người lớn để tìm lại thú
vui thời con nít.
Hãy ngắm chim trời : mặt trời mọc lên, chim thức
giấc với những tiếng hót líu lo, bắt đầu một ngày cách rất lạc quan. Rồi chim mẹ
đi kiếm ăn. Xem ra ngay cả việc kiếm ăn này dù cực khổ nhưng cũng rất lạc quan :
chim bay đi bay lại trong bầu trời cao rộng, lượn lờ trên những khóm cây, vừa
bay lượn vừa tíu tít ca hót. Tìm được một chút thức ăn, chim vui mừng mang về tổ
cho con, chim còn vui mừng hơn nữa khi thấy đám con vui sướng với những miếng
mồi nhỏ xíu mình mang về… Cứ thế cho đến khi mặt trời sắp gác bóng, chim tìm về
tổ ấm, cả gia đình chim cùng nhau đi vào giấc ngủ thảnh thơi, không cần lo lắng
gì cho ngày mai…
Hãy ngắm hoa cỏ ngoài đồng : chúng đẹp rực rỡ,
"ngay cả Salomon trong tất cả vinh hoa của ông cũng không trang phục được bằng
một trong những đóa hoa đó". Có đóa màu vàng tươi sáng, có đóa màu hồng êm dịu,
có đóa màu trắng khiết trinh, rồi màu tím, màu đỏ, màu xanh… Thật là muôn màu
muôn sắc. Nhưng thử hỏi hoa làm gì để có những màu sắc tuyệt vời ấy ? Ta có hỏi
hoa thì hoa cũng chẳng biết trả lời. Hoa chỉ nói : "Em chỉ biết sống trong thiên
nhiên thôi, em hứng lấy sương trời, em tiếp nhận nhựa sống từ thân cây, em vui
đùa trong ánh nắng. Em không biết tại sao từ một chiếc búp rồi tới ngày em hé
nhụy, cánh em nở ra, sắc màu em tươi thắm". Nếu hoa biết suy nghĩ thì hoa sẽ nói
thêm : "Chúa làm đó !"
Chim và hoa chỉ biết làm theo những gì mà thiên
nhiên hướng dẫn chúng làm. Ngoài ra, chúng chẳng lo lắng gì cả. Mọi kết quả tốt
đẹp rực rỡ đều là thiên nhiên làm cho chúng. Mà "thiên nhiên" là gì ? Thưa là
Tạo Hoá, là Thiên Chúa. "Tiên vàn các con hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự
công chính của Người. Còn tất cả những điều khác Người sẽ ban thêm cho các con".
3.
Suy nghĩ
về
sự
lo lắng
Theo kết quả thống kê, người Mỹ thường lo lắng về
những điều sau đây :
- Lo về tiền bạc : 45 %
- Lo về người khác : 39 %
- Lo về sức khoẻ bản thân : 32 %
- Lo về học hành thi cử : 20 %
- Lo mất công ăn việc làm : 15 %
Thực ra biết lo không phải là vô ích, vì nhờ biết
lo xa nên người ta mới thoát khỏi những tình trạng bối rối (như chuyện ngụ ngôn
Con Ve và Con Kiến của Lafontaine). Nhưng sự lo lắng thái quá rất có hại.
Chính vì thế, Đức Giêsu không bảo ta đừng lo gì
hết. Ngài dạy chúng ta cách giảm bớt sự lo lắng : một mặt là tin tưởng và phó
thác vào tình yêu của Thiên Chúa là Cha, mặt khác là hãy tập trung lo điều chủ
yếu quan trọng nhất mà thôi, tức là lo làm theo ý Chúa (ý nghĩa của kiểu nói
"Tìm Nước Thiên Chúa và Sự công chính của Ngài").
Thánh Augustinô chia xẻ cho chúng ta một cách
sống hồn nhiên và vô tư như sau : "Phó thác quá khứ cho lòng Thương xót của
Chúa, hiện tại cho Tình yêu của Ngài, và tương lai cho sự Quan phòng của Ngài".
4.
Làm tôi tiền
của
"Làm tôi tiền của", một câu nói quá nặng ! Chắc
không ai chịu nhận rằng mình đang làm tôi mọi cho tiền của. Tuy nhiên, ta hãy
bình tĩnh để làm hai bảng trắc nghiệm.
A/ Bảng trắc nghiệm thứ nhất :
- Tôi vừa khai trương quán ăn. Mấy bữa trước
khách đến lưa thưa. Hôm nay Chúa nhựt chắc chắn sẽ đông từ sáng tới chiều. Tiếc
quá, tôi phải đến nhà thờ dự lễ. Không có tôi thì ai đón khách ? ai coi chừng tủ
tiền ? rủi có chuyện gì xảy đến thì ai có thể xử lý ? Tôi nên bỏ lễ không ?
- Con của thằng em tôi bệnh nặng phải đưa vào
bệnh viện. Nó túng quá đến mượn tiền tôi. Mà tôi thì đang để dành tiền để sắm
một chiếc Wave. Tôi sẽ từ chối nó ?
- Khi trả tiền mua một món hàng, cô bán hàng thối
lại cho tôi dư một số. Tôi biết cô này thường bán mắc lắm, tôi nghĩ bấy lâu này
cô đã lời của tôi hơn số tiền này nhiều. Vậy tôi sẽ làm như không biết gì cả,
coi như hôm nay mình hên vậy chăng ?
Đặt mình vào 3 tình huống trên, nếu bạn đều trả
lời "Phải" hay "Có" thì bạn đã làm tôi cho tiền của rồi, vì rõ ràng bạn đã coi
tiền của trọng hơn Chúa, trọng hơn anh em ruột của mình, thậm chí còn trọng hơn
danh dự và lương tâm của mình nữa.
B/ Bảng trắc nghiệm thứ hai :
- Nhà tôi bị trộm, vợ tôi tiếc nên cứ than vắn
thở dài mãi. Phần tôi thì nghĩ "Có tiếc thì cũng mất rồi. Thôi từ từ sẽ làm
lại".
- Đồng bào nhiều nơi đang bị lũ lụt. Nhiều tổ
chức từ thiện đi quyên góp. Gia đình tôi thì không dư dả gì, nhưng cũng hy sinh
góp một ít tiền, vì tôi nghĩ "Mình nhịn ăn nhịn xài một chút, để giúp cho những
người đang thiếu thốn những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống".
- Tôi đang thất nghiệp. Có người bạn chỉ tôi đi
buôn lậu, vốn rất ít mà lời rất nhiều. Tôi thà nghèo chứ không thèm đến những
đồng tiền bất chính.
Nếu tôi đồng ý với cách những giải quyết trên thì
chứng tỏ tôi quả thực không bị nô lệ cho đồng tiền.
5.
Đừng
xét
đoán
Một thực tế rất rõ ràng là người ta hay xét đoán
nhau, chính chúng ta cũng hay xét đoán người khác : Anh đó sai, Cô đó làm vậy là
xấu, mấy người ấy thật đáng trách… Thử nhớ lại những cuộc trò chuyện của chúng
ta. Có bao nhiêu cuộc trò chuyện mà trong đó không có những lời xét đoán người
khác ?
Giả như ai đó vì tín nhiệm chúng ta nên đem một
vụ việc đến nhờ chúng ta xét đoán. Muốn xét đoán cho nghiêm túc, chúng ta phải
làm gì ? Trước tiên là tìm hiểu vụ việc, không chỉ tìm hiểu một phía mà cả hai,
có khi nhiều phía. Rồi tìm bằng chứng hay lý chứng. Rồi suy nghĩ thật kỹ. Sau
cùng mới đưa ra kết luận.
Có khi nào chúng ta làm đúng và đủ những việc cần
thiết đó không ? Ngay cả các quan tòa làm việc rất nghiêm túc mà cũng có khi đưa
ra những xét đoán sai lầm.
Bởi vậy, Thánh Giacôbê hỏi : "Bạn là ai mà dám
xét đoán người khác ?"
Còn thánh Phaolô trong bài Thánh thư hôm nay
nhắc : "Anh em đừng đoán xét ; Đấng đoán xét chính là Thiên Chúa".
6.
Chuyện
minh họa
Dân chúng ở một thành phố nọ có quá nhiều điều
phải lo lắng. Vì thế họ họp nhau bàn cách giải quyết vấn đề này.
Một người đề nghị phải lập một công viên để người
ta đến đó giải khuây. Người thứ hai đề nghị làm một sân chơi golf. Người thứ ba
đề nghị xây một rạp xinê. Người thứ tư có một đề nghị độc đáo :
- Chúng ta hãy hùn tiền mướn một người gánh hết
mọi nỗi lo của chúng ta.
- Nhưng người đó là ai ?
- Là anh thợ vá giày David đó.
- Mướn bao nhiêu ?
- Mỗi tuần 1000 bảng anh.
Tất cả mọi người đồng ý. Họ hỏi David người thợ
vá giày :
- Anh có đồng ý với việc làm mới này không ?
David cười rạng rỡ :
- Tại sao không !
Tưởng là mọi việc đã thu xếp ổn thỏa. Nhưng bỗng
một người đặt vấn đề :
- Chúng ta mướn David gánh hết mọi nỗi lo. Nhưng
mỗi tuần hắn có 1000 bảng anh thì hắn còn gì phải lo nữa ? (Flor McCarthy)
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Thiên Chúa quan
phòng muốn chúng ta ưu tiên tìm biết để thi hành thánh ý của Người, còn mọi sự
khác hãy phó thác để Người lo cho chúng ta. Chúng ta hãy cảm tạ tình thương của
Chúa và dâng lên Người những lời cầu xin tha thiết.
1- Sứ mạng của
Hội Thánh là hướng dẫn cho mọi người biết thánh ý Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu
xin cho các tín hữu biết làm theo những hướng dẫn của Hội Thánh.
2- Chúa trao cho
những vị lãnh đạo các nước trách nhiệm lo cho dân mình được ấm no hạnh phúc /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người cầm quyền / xin Chúa cho các vị biết
hết lòng thương dân và lo cho dân.
3- Có nhiều
người khổ sở vì thiếu thốn vật chất / nhưng lại có nhiều người khác khổ sở hơn /
vì tuy dư thừa về vật chất nhưng lại túng thiếu về tinh thần / Chúng ta hiệp lời
cầu xin cho những người ấy / biết quan tâm đến những giá trị tinh thần và đạo
đức.
4- Ngay cả nhiều
người tuy là kitô hữu mà cũng chưa dám phó thác trọn vẹn vào Chúa quan phòng /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn xứ đạo chúng ta / xác tín tình thương
bao bọc của Chúa / để có thể an tâm ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công
chính của Ngài.
CT :
Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con. Cha đã hứa rằng dù có người mẹ nào quên con
mình thì Cha cũng không bao giờ quên chúng con. Chúng con thành thật xin lỗi vì
biết bao lần không tin tưởng phó thác vào tình thương của Cha. Từ nay chúng con
sẽ cố gắng ưu tiên làm theo ý Cha và phó thác mọi sự khác trong tay Cha. Chúng
con cầu xin nhờ Đức Kitô là Chúa chúng con.
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Kinh Tiền tụng :
Chúa nhựt thường niên V, nhấn mạnh câu "Cha
đã sáng tạo muôn loài trong vũ trụ, và sắp đặt cho thời tiết bốn mùa thay đổi
nối tiếp nhau"
-
Trước kinh Lạy Cha : Trong kinh Lạy Cha
sau đây, chúng ta hãy đặc biệt sốt sắng khi cầu nguyện cho Nước Cha trị đến, ý
Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
- Sau kinh Lạy Cha : "… xin đoái thương
cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin cho chúng con luôn phó
thác vào sự chăm sóc quan phòng của Cha. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp…"
VII.
GIẢI TÁN
Anh chị em đã biết mình có Thiên Chúa là một
người Cha luôn chăm sóc chu đáo cho mọi nhu cầu cuộc sống của mình. Chúng ta hãy
an tâm sống phó thác trong tay Chúa Quan Phòng. Chúc anh chị em luôn được bình
an.
CHÚA NHỰT IX
CHỦ ĐỀ
:
THỰC HÀNH ĐIỀU CHÚA
DẠY

Người khôn xây nhà trên đá
(Mt 7,24)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Đnl 11,18.26-28) : "Nếu các ngươi
tuân giữ các giới răn của Chúa là Thiên Chúa các ngươi… thì các ngươi được chúc
phúc"
- Đáp ca (Tv 30) : "Xin Chúa trở thành núi đá cho
tôi trú ẩn"
- Tin Mừng (Mt 7,21-27) : "Chỉ những người thực
hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào Nước Trời".
- Bài đọc II (Rm 3,21-25a.28) (Chủ đề phụ) : "Con
người nhờ đức tin mà được nên công chính"
Minh họa
- Mille images 63 D
- Người khôn xây nhà trên đá (Mt 7,24)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói :
"Không phải những ai nói với Ta ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời.
Nhưng chỉ có những người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào Nước
Trời". Thực ra, chúng ta nói "Lạy Chúa" thì nhiều, nhưng thi hành ý Chúa thì quá
ít.
Chúng ta cùng dâng Thánh lễ này để xin lỗi Chúa
vì cách giữ đạo bằng miệng bấy lâu nay của chúng ta ; và hãy tha thiết xin Chúa
ban ơn giúp chúng ta từ nay sửa đổi lại để biết sống đạo bằng một cuộc sống luôn
quan tâm thi hành ý Chúa.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta dễ dàng thưa "Lạy Chúa lạy Chúa", mà
không lo thi hành thánh ý Chúa.
- Những khi đọc kinh cầu nguyện, chúng ta thường
xin Chúa thực hiện ý chúng ta, chứ không xin Ngài cho chúng ta biết ý của Ngài.
- Biết bao lần chúng ta bỏ ý Chúa để làm theo ý
riêng của chúng ta.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Đnl
11,18.26-28)
Đệ nhị luật là quyển sách ghi lại những lời được
đặt vào miệng Ông Môsê nói với dân Israel trước lúc ông chết và họ sắp vào được
Đất Hứa. Trong thời điểm quan trọng đó, Môsê tha thiết căn dặn dân phải ghi nhớ
và thực thi những điều Thiên Chúa đã truyền dạy họ. Ông coi việc thi hành lệnh
truyền của Thiên Chúa là con đường sống cho dân : "Đây hôm nay ta đặt trước mặt
các ngươi sự chúc lành và sự chúc dữ : nếu các ngươi tuân giữ các giới răn của
Chúa là Thiên Chúa các ngươi… thì các ngươi được chúc phúc ; còn nếu các ngươi
không tuân giữ các giới răn của Chúa là Thiên Chúa các ngươi… thì sẽ bị chúc
dữ".
2.
Đáp
ca
(Tv 30)
Vì tuyệt đối tin tưởng vào sự che chở của Thiên
Chúa, nên tác giả Tv 30 coi Thiên Chúa là nơi trú ẩn, là Đấng giải thoát và là
Đấng cứu sống.
3.
Tin Mừng
(Mt 7,21-27)
Đây là phần cuối của Bài giảng trên núi. Sau khi
giảng dạy rất nhiều điều, Chúa Giêsu kết luận :
- Việc quan trọng nhất không phải là nghe những
lới giảng đó, cũng không phải là thưa lại bằng miệng "Lạy Chúa, lạy Chúa", mà là
đem những điều ấy ra thi hành.
- Người nào nghe mà không thi hành thì giống như
người ngu xây nhà trên cát ; còn người đã nghe mà còn thi hành nữa thì giống
người khôn xây nhà trên đá.
- Chính vì điều quan trọng nhất là thi hành, cho
nên có những kẻ đã từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ và làm nhiều
phép lạ nhưng cũng không được vào Nước Trời, bởi vì họ tuy làm rất nhiều thứ
nhưng lại không thi hành ý Chúa.
4.
Bài
đọc
II
(Rm 3,21-25a.28) (Chủ
đề
phụ)
* Từ Chúa nhựt IX đến Chúa nhựt
XXIV, bài đọc II được chọn từ thư thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma. (Xin
hãy đọc bài giới thiệu tổng quát về Thư Rôma ngay sau bài này)
Giáo đoàn Rôma không do Phaolô thành lập. Nhưng
ông rất muốn đến đấy, vì Rôma là thủ đô của Đế quốc. Nhưng trước khi đến, Phaolô
gửi bức thư này cho họ để chuẩn bị tinh thần. Được viết trong hoàn cảnh và mục
đích như thế, thư Rôma chứa đựng những chủ đề giáo lý cơ bản và quan trọng.
Đoạn thư này chứa đựng một chủ đề rất quan trọng
mà thánh Phaolô quãng diễn nhiều lần trong các thư Rôma, Galát và Côlôxê : Người
ta được công chính hóa không phải nhờ những việc làm, mà chỉ nhờ Đức Tin vào
Thiên Chúa.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa quan niệm của
những người biệt phái và của Đức Giêsu :
- Biệt phái cho rằng càng làm nhiều việc lành
chừng nào thì càng trở nên công chính chừng ấy.
- Phần Đức Giêsu thì dạy rằng công chính là ơn do
lòng nhân từ Thiên Chúa ban cho. Vì thế phải khiêm tốn cầu xin và đón nhận ơn
công chính, chứ không được ỷ lại vào công nghiệp của mình.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Nền
nào vững
chắc ?
Theo cách diễn tả của Đức Giêsu trong bài Tin
Mừng này thì sống đạo cũng giống như xây nhà. Có người xây nhà trên nền bằng cát
không vững, có người xây nhà trên nền bằng đá tảng rất vững vàng.
Chúng ta hãy suy nghĩ về một số cách sống đạo, để
xem đó có phải là xây nhà trên nền đá vững chắc không.
- Sống đạo bằng cách đọc kinh, dự lễ rất đầy đủ
và chuyên cần. Có lẽ đa số giáo dân chúng ta theo cách này. Ngày Chúa nhựt và
những ngày lễ, nhà thờ chật ních. Nhiều nơi xây thêm nhà thờ mới. Nhiều nhà thờ
ngày càng trở nên chật hẹp, phải nới rộng thêm. Đây cũng là cách của những người
biệt phái và luật sĩ thời Đức Giêsu. Nhưng Đức Giêsu đã nói "Không phải những ai
thưa ‘Lạy Chúa lạy Chúa’ mà được vào Nước Trời". Đọc kinh dự lễ rất nhiều mà rốt
cuộc không được vào Nước Trời. Đó là xây nhà trên cát.
- Sống đạo bằng cách chọn Chúa là Đấng bảo vệ che
chở cho đời mình : người ta có kẻ thờ Quan Công, có người thờ thần tài, có người
thờ Phật Bà Quan Aâm. Nhưng tôi nhất quyết chọn Chúa vì tin rằng Ngài quyền phép
hơn tất cả những thần thánh kia. Bởi thế, khi bắt đầu làm ăn, tôi cầu xin Chúa
giúp ; khi gặp trục trặc, tôi xin Ngài giải quyết ; khi thành công, tôi dâng lễ
vật tạ ơn Ngài ; cho đến khi sắp chết, tôi xin Ngài rước tôi lên thiên đàng với
Ngài. Thiên Chúa trở thành ô dù, là nhà tài trợ, là mạnh thường quân, là lá bùa
hộ mệnh. Những người này có phần "khôn khéo" vì biết chọn theo Thiên Chúa mạnh
thế hơn, nhưng xét cho cùng thì cách sống đạo của họ cũng không khác gì những
người thờ các thần khác. Cũng là xây nhà trên cát.
- Có những người bệnh tật không đến nhà thờ được,
hoặc ở nơi không có nhà thờ. Họ không dự lễ nhiều, nhưng họ luôn cố gắng thực
hành những điều Chúa dạy trong Tin Mừng, họ quan tâm tìm hiểu ý Chúa và làm theo
ý Chúa. Chúng ta hãy nghe Chúa Giêsu nói về họ : "Ai nghe những lời Thầy nói đây
và đem ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan, đã xây nhà mình trên đá".
2.
Mưa
tuôn, sóng vỗ…
Nhiều kitô hữu nghĩ rằng khi họ đặt niềm tin vào
Chúa thì giống như họ xây ngôi nhà của mình trên đá. Cuộc đời của họ sẽ an toàn.
Nhưng rồi mọi chuyện không xảy ra như vậy : họ phải gặp hết khó khăn này đến đau
khổ khác. Họ thất vọng. Ngôi nhà của họ đã được xây trên "đá" đức tin, nhưng tại
sao nó vẫn sụp đổ ?
Thực ra, những người đó đã hiểu sai, ít là ở hai
điểm :
1/ Cái nền đá vững chắc mà Chúa nói không phải là
tin suông mà là một đức tin thể hiện ra bằng việc làm. Đây ta hãy
nghe lại cho kỹ lời Ngài nói : "Không phải những ai nói với Ta ‘lạy Chúa, lạy
Chúa’ mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ có người nào thực hiện ý Cha Ta trên
trời, kẻ ấy mới được vào Nước Trời", "Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây và đem
ra thực hành thì giống như người không ngoan đã xây nhà mình trên đá".
2/ Chúa không hề hứa là ngôi nhà trên đá đó sẽ
không bị mưa tuôn, sóng vỗ. Điều Chúa hứa là cho dù ngôi nhà đó có bị bao nhiêu
mưa tuôn và sóng vỗ đi nữa thì nó vẫn đứng vững. Nhờ đâu mà đứng vững ? Nhờ sống
thực hành Lời Chúa.
Việc tìm hiểu kỹ lời Chúa như trên giúp chúng ta
hiểu rõ hơn về cuộc sống kitô hữu :
- Kitô hữu không phải chỉ là người tin Chúa. Ma
quỷ còn tin Chúa hơn ta nữa, nhưng ma quỷ đâu có được vào Nước Trời !
- Là kitô hữu không phải là được bảo hiểm khỏi
mọi khó khăn gian khổ - có khi còn gặp khó khăn gian khổ hơn nhiều người khác
nữa. Nhưng Chúa hứa họ sẽ đứng vững trước mọi khó khăn gian khổ ấy, nếu họ sống
thực hành Lời Chúa.
3.
Hai con
đường
Người ta thường nói "Chúa phạt xuống hỏa ngục".
Có người hiểu giáo lý hơn nên cãi lại : "Thiên Chúa nhân từ vô cùng, không thể
nào phạt ai xuống hỏa ngục được".
Đúng vậy, Thiên Chúa nhân từ chẳng phạt ai cả. Sở
dĩ có người xuống hỏa ngục là vì người đó đã dùng tự do của mình mà chọn sai con
đường thôi.
Như Ông Môsê đã nói với dân do thái : "Đây ta đặt
trước mặt các ngươi sự chúc lành và sự chúc dữ : nếu các ngươi tuân giữ các giới
răn của Chúa là Thiên Chúa các ngươi… thì các ngươi được chúc phúc ; còn nếu các
ngươi không tuân giữ các giới răn của Chúa là Thiên Chúa các ngươi… thì sẽ bị
chúc dữ".
Cũng như cha mẹ nói với đứa con đã trưởng thành :
"Cha mẹ sẵn sàng lo cho con học hành đến nơi đến chốn. Nếu con chịu khó học hành
thì sẽ có một tương lai tươi sáng. Còn nếu con cứ chơi bời lêu lỏng như hiện nay
thì tương lai rất đáng lo ngại".
Vì chúng ta có tự do nên Thiên Chúa và cha mẹ
không thể ép buộc ta được, nhưng các Ngài sẵn sàng giúp đỡ nếu ta chọn con đường
tốt.
4.
Chuyện
minh họa
a/ Đức tin và việc làm
Tâm là một người cứng cỏi. Khi trận lụt xảy đến
trong vùng, anh trèo lên mái nhà. Một chiếc tàu đến cứu nhưng anh từ chối :
"Không, cám ơn. Tôi tin vào Thiên Chúa, Ngài sẽ cứu tôi".
Sóng nước dâng cao hơn và Tâm đã trườn lên tận
nóc nhà. Một chiếc tàu khác đến cứu anh nhưng anh xua đi. Anh tin là Thiên Chúa
sẽ cứu anh. Khi nước chạm đến chân anh, anh lại trèo lên đỉnh ống khói. Một
chiếc trực thăng xà xuống cứu, nhưng anh vẫn dựa vào Thiên Chúa. Bạn đoán xem
điều gì xảy ra ? Tôm chết đuối.
Trước mặt Chúa, anh phàn nàn : "Lạy Chúa, con có
đức tin mạnh như thế, tại sao Ngài không cứu con ?" Chúa trả lời : " Con còn
muốn Ta làm gì cho con nữa ? Ta đã gởi tới con hai chiếc tàu và một chiếc máy
bay !"
b/ Làm và hưởng thiên đàng
Truyện kể :
một nông dân nghèo Nhật bản vào thiên đàng và điều đầu tiên ông nhìn thấy là một
kệ dài với những vật rất kỳ lạ. Ông hỏi :
- Cái gì thế ? Có phải để nấu xúp ?
- Không, đó là những cái tai. Chúng là của những
người khi sống ở đời nghe được những điều tốt, nhưng họ không làm. Nên khi chết,
tai họ vào thiên đàng, nhưng các phần khác của cơ thể thì không.
Một lát sau, ông lại thấy một kệ khác với những
vật kỳ quái. Ông hỏi :
- Cái gì thế ? Có phải để nấu xúp ?
- Không, đó là những cái lưỡi. Chúng là của những
người sống ở đời bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ không
làm hoặc không sống điều đó. Nên khi chết, lưỡi họ vào thiên đàng, nhưng các
phần khác của cơ thể thì không.
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Thiên Chúa ban
cho loài người chúng ta một ơn vô cùng quý giá, đó là quyền tự do. Nhưng quyền
này cũng là một con dao hai lưỡi vì chúng ta có thể dùng nó để làm điều tốt đẹp
lòng Chúa và có lợi cho chúng ta ; nhưng cũng có thể dùng nó để làm điều xấu
chống lại Chúa và hại cho chính bản thân mình.
Chúng ta hãy cám
ơn Chúa và tha thiết cầu xin với Ngài.
1- Hội Thánh
được giao trọng trách hướng dẫn mọi người những điều tốt nên làm và những điều
xấu phải tránh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử được sáng suốt để
chu toàn sứ mạng cao cả của mình.
2- Xã hội ngày
nay đầy dẫy những tệ đoan / Tuổi trẻ không được hướng dẫn đủ nên dễ bị lôi cuốn
vào những sinh hoạt không lành mạnh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người
cầm quyền / biết đề ra những biện pháp tốt để lành mạnh hóa xã hội.
3- Tự do là
quyền cao quý Chúa ban cho con người / Nhưng có những người sử dụng sai quyền tự
do của mình để làm điều xấu / gây hại cho bản thân và xã hội / Chúng ta hiệp lời
cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng và trợ lực / để những người ấy ý thức lại và
chọn theo con đường tốt.
4- Cách sống đạo
của giáo dân Việt Nam còn trọng về đọc kinh dự lễ / chứ chưa đi sâu vào đức tin
/ chưa ý thức điều quan trọng nhất là làm theo ý Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu
xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / siêng năng học hỏi Lời Chúa / và can đảm
làm theo ý Chúa.
CT :
Lạy Chúa là Cha nhân lành, Chúa chỉ muốn chúng con sống tốt để được hạnh phúc
đời này và đời sau. Xin giúp chúng con biết dùng quyền tự do của mình để chọn
Chúa và luôn làm theo thánh ý Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa
chúng con.
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Người khôn ngoan xây
ngôi nhà cuộc đời mình trên đá là người biết thi hành thánh ý Chúa. Trong kinh
Lạy Cha sau đây, chúng ta hãy xin cho mọi người biết làm theo ý Cha, ở dưới đất
cũng như trên trời.
- Sau kinh Lạy Cha : "... xin đoái thương
cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin giúp chúng con khôn
ngoan xây ngôi nhà đời mình trên nền đá vững chắc là những lời Con Cha đã dạy.
Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp..."
VII.
GIẢI TÁN
Trong Thánh Lễ hôm nay, anh chị em đã nghe Lời
Chúa dạy. Bây giờ Thánh lễ sắp kết thúc. Anh chị em trở lại cuộc sống hằng ngày.
Hãy quan tâm thi hành những gì Chúa đã dạy anh chị em.
Bài đọc thêm 1
THƯ RÔMA
A. TẦM QUAN TRỌNG
Trong tất cả các
thư của Phaolô, thư này dài nhất và quan trọng nhất. Quan trọng vì các lý do
sau :
- Về giáo lý :
thư này chứa đựng tất cả những tư tưởng chủ yếu của Phaolô. Mà những tư tưởng
này, như ta sẽ thấy trong phần nói về hoàn cảnh và mục đích của thư, Phaolô chú
ý trình bày thành hệ thống mạch lạc (không như trong các thư khác tùy hoàn cảnh
của một giáo đoàn cần nhấn mạnh đến một vài điểm nào đó hơn). Rất nhiều nhà
chuyên môn đã đặc biệt chú giải thư này.
- Trong lịch sử
Giáo Hội, chính những người chủ trương cải cách, những ông tổ của việc li khai
khỏi Giáo Hội và lập ra Giáo hội Tin Lành, như Luther, Calvin v.v. đã lấy thư
này làm nền tảng cho quan điểm thần học của họ.
- Trong phong
trào đại kết, chính thư này là điểm then chốt có thể gây chia rẽ hoặc nối kết
các kitô hữu thuộc các Giáo hội khác nhau. Bởi đó các chuyên viên Thánh Kinh
trong nhóm dịch đại kết (TOB) đã quyết định bắt đầu dịch thư Rôma trước. Họ cho
rằng khi mọi người đã đồng ý được với nhau về bản dịch thư Rm thì sẽ dễ đồng ý
trong tất cả các phần khác của Sách Thánh.
B. GIÁO ĐOÀN RÔMA
Ngày nay người
ta vẫn còn chưa biết rõ về nguồn gốc thành lập giáo đoàn Rôma. Nhưng chắc chắn
giáo đoàn này đã có rất sớm, ngay trong những năm đầu của Giáo Hội. Có lẽ nó do
những kitô hữu đầu tiên (gồm do thái tòng giáo và lương dân tòng giáo) từ những
nơi khác di cư đến Rôma thành lập. Sau đó Phêrô mới tới Rôma và trở thành lãnh
đạo của giáo đoàn này cũng như của cả Giáo Hội. Giáo đoàn Rôma gồm phần lớn là
những lương dân tòng giáo và một thiểu số những người do thái tòng giáo.
C. HOÀN CẢNH VÀ MỤC ĐÍCH
Thành phố Rôma
là trung tâm của đế quốc Rôma, cũng là trung tâm của "thế giới" theo cái nhìn
của người thời đó. Cho nên một nhà truyền giáo hăng say như Phaolô không thể nào
không chú ý đến Rôma được. Ông đã ao ước đến đó từ lâu nhưng vì bận bịu với
những cuộc du hành truyền giáo nên chưa tới đó được.
Vào khoảng năm
57-58 Phaolô đang ở Côrintô. Lúc bấy giờ ông nghĩ rằng đã hoàn thành việc truyền
giáo ở phía Đông nên muốn bắt đầu hướng sang phía Tây, và ông nghĩ ngay tới
Rôma. Phaolô coi giáo đoàn này rất quan trọng nên trước khi đến ông soạn sẵn
những gì sẽ nói ở đó và viết thành thư này. Chính vì thế mà thư này chứa đựng
cách hệ thống những tư tưởng chủ yếu của Phaolô như ta đã nói ở phần trên.
D. CHỦ ĐỀ
Phaolô thấy
trước độc giả của mình gồm 2 hạng là do thái và lương dân. Tâm thức của họ thế
nào ? Những người do thái luôn tự hào về luật lệ của mình. Họ bám vào luật lệ và
cho rằng giữ đạo là giữ luật. Họ còn khinh rẻ lương dân là hạng "không có luật".
Phần lương dân thì cho rằng mình đã có lương tâm soi sáng và chỉ sống theo lương
tâm được quảng diễn bằng những nguyên tắc chủ quan của họ. Hai thái độ đó đều
sai lầm. Phaolô muốn nói cho cả hai hạng rằng : đạo không phải chỉ là một mớ lề
luật hoặc một mớ nguyên tắc luân lý mà chính là cuộc sống trong tương quan sinh
động với Thiên Chúa.
E. BỐ CỤC
Lời mở đầu :
1,1-15
Chủ đề : Con người được cứu độ nhờ Đức
tin :
- Thiên Chúa làm cho con người nên công chính :
1,16—4,25
A. Cả người ngoại lẫn người do thái đều phải chịu
cơn thịnh nộ của Thiên Chúa (1,18—3,20)
B. Con người được nên công chính nhờ Đức Kitô
(3,21-31)
C. Gương tổ phụ Abraham (4,1-25)
- Thiên Chúa cứu độ con người : 5,1—11,36
A. Chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, sự chết
và lề luật (5,12—7,25)
B. Người tín hữu sống theo Thần khí (8,1-39)
C. Vấn đề Israel không tin (9,1—11,36)
Khuyên nhủ :
12,1—15,13
Kết :
15,14—16,27
CHÚA NHỰT X VÀ XI
(Lễ đặc biệt)
CHÚA NHỰT XII
CHỦ ĐỀ
:
VỮNG LÒNG TRÔNG CẬY CHÚA
DÙ ĐANG SỐNG GIỮA KHÓ
KHĂN

"Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn
chim sẻ"
(Mt 10,31)
Sợi chỉ đỏ :
Các bài đọc hôm nay nêu lên ba tình huống khó khăn khác nhau :
- Ngôn sứ Giêrêmia bị dân do thái tìm cách làm
hại (Bài đọc I - Gr 20,10-13) : "Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng"
- Tác giả Tv 68 bị những người thân thích bài
xích (Đáp ca - Tv 68) : "Chúa nghe những người cơ khổ"
- Các sứ giả Tin Mừng bị bách hại (Mt 10,26-33) :
"Tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi"
Những vai chính trong 3 bài đọc trên đều vững
lòng trông cậy nơi Chúa, với niềm xác tín được Chúa bảo vệ và giải thoát.
- Bài đọc II (Rm 5,12-15) (Chủ đề phụ) : "Do tội
của một người mà nhiều người phải chết, thì ơn nghĩa của Thiên Chúa và ân huệ
ban do ơn một người là Đức Giêsu Kitô làm cho nhiều người được ơn dư đầy hơn bội
phần"
Minh họa
- Mille images 137 E
- "Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn
vàn chim sẻ" (Mt 10,31)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Cuộc sống của chúng ta trên dương thế này thường
xuyên gặp phải biết bao khó khăn gian khổ. Nhưng Lời Chúa hôm nay xác quyết rằng
nếu chúng ta trông cậy vào Chúa thì Ngài sẽ bảo vệ và giải thoát chúng ta.
Trong Thánh Lễ này, chúng ta hãy đặc biệt xin
Chúa củng cố lòng trông cậy của chúng ta.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Nhiều khi gặp đau khổ, chúng ta đã bỏ đọc kinh
cầu nguyện.
- Nhiều khi vì quá khổ, chúng ta phiền trách
Chúa.
- Nhiều khi trong lúc khó khăn, chúng ta mê tín
dị đoan.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(Gr 20,10-13)
Giêrêmia là một ngôn sứ phải nhận lãnh một sứ
mạng rất khó khăn và cay đắng, đó là vạch tội của dân và cảnh cáo rằng Chúa sẽ
trừng phạt họ. Vì thế, dân chúng thù ghét ông và nhiều lần tìm cách hãm hại ông.
Nhưng giữa những khó khăn và khổ sở đó, Giêrêmia
luôn trông cậy vào Chúa. Ông tin vững vàng rằng "Chúa ở cùng tôi như người lính
chiến hùng dũng".
2.
Đáp
ca
(Tv 68)
Thánh vịnh này là lời cầu nguyện của một người
công chính đáng bị kẻ ác hãm hại, cùng một tâm tình với ngôn sứ Giêrêmia. Giữa
những lúc khó khăn như thế, tác giả vẫn ngợi khen Chúa và tin chắc rằng Ngài sẽ
nhậm lời.
3.
Tin Mừng
(Mt 10,26-33)
Đoạn Tin Mừng này tiếp nối những lời Đức Giêsu
sai các môn đệ ra đi truyền giáo. Ngài khuyến cáo họ rằng có thể họ sẽ gặp nhiều
khó khăn và cả bách hại nữa. Nhưng Ngài bảo họ "Đừng sợ", bởi vì Chúa quan phòng
luôn ở bên họ để che chở : "Tóc trên đầu chúng con đã được đếm cả rồi"
4.
Bài
đọc
II
(Rm 5,12-15) (Chủ
đề
phụ)
Văn mạch : Trong đoạn được trích đọc tuần trước,
Phaolô đã bắt đầu luận đề người ta được công chính hóa không phải nhờ việc làm,
mà là nhờ đức tin.
Trong đoạn thư hôm nay, Phaolô đưa ra lập luận
thứ nhất để chứng minh luận đề ấy :
- Do tội của Ađam mà tất cả loài người phải gánh
hậu quả là cái chết.
- Do công của Đức Giêsu Ađam mới mà tất cả loài
người được ơn nghĩa dư đầy của Thiên Chúa.
Như thế, con người được ơn nghĩa của Thiên Chúa
là nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Bàn về
sự
sợ
Con người có nhiều nỗi sợ : sợ khổ, sợ chết, sợ
thất bại, sợ cô đơn, sợ dấn thân v.v.
Cái sợ làm tê liệt con người : không có sức làm
việc, không suy nghĩ sáng suốt, không giải quyết được tình huống v.v.
Ngay cả những người làm việc tông đồ cũng không
tránh khỏi nỗi sợ : sợ không đủ khả năng, sợ người ta không nghe mình, sợ bị
chống đối bởi những người không có thiện cảm với Tin Mừng v.v. Vì sợ như thế nên
có người không dám mạnh dạn rao giảng, có người trốn tránh sứ mạng.
Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu bảo "đừng sợ".
Ngài không chỉ cho chúng ta cách làm thế nào để khỏi sợ. Lý do duy nhất Ngài đưa
ra là gương của Ngài :
- Chúng ta là môn đệ của Ngài. Vì thế việc chúng
ta gặp khó khăn và bách hại không có gì lạ, vì Thầy của chúng ta cũng đã từng bị
như thế và còn bị năng hơn chúng ta nhiều. Vì vậy, nếu là môn đệ Đức Giêsu thì
đừng tìm cách trốn tránh khó khăn và bách hại.
- Hãy noi gương Đức Giêsu mà can đảm giữ vững lập
trường của mình và tiếp tục sứ mạng của mình, không phải bận tâm về bất cứ điều
gì khác : a/ không cần bận tâm đến mạng sống bởi vì ngay cả mạng sống một con
chim sẻ nhỏ bé mà còn do Chúa định đoạt, huống chi mạng sống con người ; b/
không cần bận tâm đến sự chống đối của người đời, vì "Ai tuyền xưng Thầy trước
mặt người đời thì Thầy sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Thầy".
Cha Charles de Foucauld đã nói : "Cách làm chứng
tốt nhất cho Chúa là chúng ta không bao giờ sợ gì cả"
2.
Suy nghĩ
về
Chúa Quan Phòng
Nhiều người có một thái độ rất đặc biệt : gặp
chuyện vui hay chuyện buồn, họ cũng đều nói "Đó là ý Chúa" ; thành công hay thất
bại, họ cũng nói "đó là ý Chúa" ; trước mọi khó khăn, nguy hiểm, họ nói "Để Chúa
lo"… Phải chăng thái độ đó là quá ngây thơ : đành rằng có Chúa đó, nhưng bản
thân mình cũng phải xoay trở chứ ! "Hãy tự giúp mình trước, rồi Chúa sẽ giúp
thêm" !
Nhưng suy cho cùng, thái độ tin tưởng phó thác
vào Chúa quan phòng có những cơ sở rất vững vàng :
- Người phó thác vào Chúa quan phòng tin rằng
Chúa luôn hiện diện bên cạnh con người trong mọi tình huống. Tin như thế là rất
đúng, vì Thánh Kinh hằng lặp đi lặp lại biết bao lần chân lý ấy : "Ta hằng ở với
con" (Gr 1,10), "Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20)…
- Người phó thác vào Chúa cũng tin rằng Chúa có
kế hoạch của Ngài và không điều gì xảy ra ngoài kế hoạch của Thiên Chúa. Tin như
thế cũng rất đúng : "Không con chim sẻ nào rơi xuống đất mà Cha các con không
biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi" (bài Tin Mừng
hôm nay)
- Người phó thác vào Chúa còn xác tín rằng Thiên
Chúa là Cha và mình là con. Một người Cha toàn năng và hết sức yêu thương con
như Thiên Chúa thì chắc chắn biết cách an bài cho con cái mình những điều tốt
nhất : "Cha chúng con trên trời thừa biết chúng con cần gì" (Mt 632).
3.
Im hay nói ?
Ngày nay, Kitô hữu nói về Thiên Chúa ít hơn xưa.
Tuy nhiên Đức Giêsu yêu cầu ta "Hãy la lớn trên mái nhà" điều gì đã "thì thầm
vào tai". Lời chúc dữ của Người : "Ai từ chối Ta trước mặt người đời, Ta cũng sẽ
từ chối họ trước mặt Cha Ta trên trời".
Im hay nói ? Có nhiều loại im lặng. Im lặng sợ
hãi, im lặng lãnh đạm, im lặng phản bội. Cũng có những im lặng mừng vui, im lặng
sung mãn, im lặng yêu thương, im lặng dấu kín một bí mật. Những phút mãnh liệt
nhất trong đời là những lúc "không còn lời lẽ". Lúc ấy im lặng còn diễn tả hơn
mọi lời lẽ : nó cho ta nghe điều không diễn tả được.
Làm sao trẻ em và giới trẻ biết được Đức Giêsu
nếu ta cứ im lặng mãi ? Ta đề nghị niềm hy vọng nào nếu ta lặng thinh ? Im lặng
cần có từ ngữ mới có sức mạnh : nếu không có bản giao hưởng, làm sao nghe được
sự im lặng tràn ngập căn phòng sau hợp âm cuối cùng ?
Đức Giêsu đã chẳng nói đó sao : "Tất cả những gì
che dấu sẽ được tỏ lộ. Tất cả những gì dấu diếm rồi mọi người sẽ biết". Phải
chăng ta không cần như thánh Phaolô, nói "vào lúc thuận tiện cũng như lúc không
thuận tiện" để rao giảng Phúc âm cho cả nhân loại qua mọi thế hệ ?
Cần phải loan báo thứ sứ điệp vượt quá mọi từ ngữ
và mọi giáo thuyết. Nhà khôn ngoan lớn tuổi viết sách Giảng viên đã nói : "Có
thời để nói, có thời để im lặng". Những thời điểm này nối tiếp nhau trong cuộc
đời con người cũng như trong Giáo Hội từ ngàn đời. Vì đôi khi ta nói quá nhiều,
rồi sẽ tới ngày những từ ngữ biến nghĩa và chẳng còn "nói lên được điều gì nữa".
Chính sự sống và sự im lặng để làm chín muồi những lời lẽ mới mẻ và tươi trẻ.
Ta đang ở vào một mùa lịch sử mà nhiều từ ngữ
không nói lên điều gì nữa : vì đôi khi trong quá khứ người ta đã dùng sai từ
ngữ, và vì ta đã bước vào một lối hiện hữu mới nơi mọi người đang thay đổi lối
sống, l61i suy nghĩ, diễn tả và truyền đạt.
Mong sao kitô hữu cố gắng mỗi ngày sống Phúc âm
hơn. Thánh Thần của Đức Giêsu sẽ khơi dậy trong lòng họ sự im lặng hoặc từ ngữ.
Lời đầu tiên của họ vẫn luôn luôn là sự sống của họ. Còn những lời khác sẽ không
ngừng tái tạo, từ thời đại này qua thời đại khác, mà không bao giờ bị sa lầy
trong những từ ngữ bị thói quen làm cho lu mờ. (G. Bessière, Dieu si proche,
DDB, trích dịch bởi Fiches dominicales, năm A, trang 211-212).
4.
Chuyện
minh họa
a/ Đức Giám mục Oscar Romero
Khi mới lên làm Tổng Giám Mục giáo phận San
Salvador, Đức Cha Oscar Romero vẫn còn theo lập trường bảo thủ. Nhưng chẳng bao
lâu sau, khi nhìn thấy những bất công xã hội, ngài đã thay đổi. Mỗi ngày Chúa
nhật, ngài giảng ở nhà thờ chánh tòa tố cáo những tội ác đã diễn ra mà đa số là
do các viên chức chính phủ. Các bài giảng của ngài như một luồng điện mạnh chạm
đến toàn xã hội. Khi ngài nói, hầu như mọi người đều ngưng việc để lắng nghe.
Ngài bị đặt vào tình trạng bị đe dọa thường
xuyên. Một vài bạn bè thân thích của ngài đã bị giết chết. Nhưng ngài vẫn không
im tiếng, cũng không lánh đi nơi khác an toàn hơn. Ngài nói : "Một mục tử chân
chính khi thấy nguy hiểm không thể bỏ đoàn chiên để cứu lấy mạng sống mình. Tôi
sẽ ở lại với dân tôi". Và ngài đã bị chết dưới lằn đạn tháng ba năm 1980 đang
lúc dâng Thánh Lễ.
b/ Trái tim chuột
Có một con chuột kia rất sợ mèo. Một vị thần tội
nghiệp nó nên biến nó thành mèo. Thành mèo rồi nó lại sợ chó. Vị thần biến nó
thành chó. Thành chó rồi nó lại sợ cọp. Vị thần cho nó thành cọp. Nhưng thành
cọp rồi nó lại sợ người thợ săn. Vị thần đành chịu thua : "Ta có biến mi thành
bất cứ thứ gì đi nữa thì cũng không giúp mi hết sợ, bởi vì trái tim của mi vẫn
là trái tim chuột".
V.
LỜI NGUYỆN CHO
MỌI NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Tin tưởng mãnh
liệt vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, và hân hoan sống trọn vẹn niềm
tin đã lãnh nhận, phải là quyết tâm của từng người kitô hữu. Trông cậy vào ơn
Chúa trợ giúp, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.
1- Đức Thánh Cha
có sứ mạng củng cố đức tin của người tín hữu trên toàn thế giới / Chúng ta hiệp
lời cầu xin Chúa ân cần chăm sóc giữ gìn Người / để nhờ Người / đức tin của mọi
tín hữu luôn bền vững sắc son.
2- Ngày nay /
nhiều kitô hữu / nhất là các kitô hữu trẻ / mất đức tin chỉ vì vốn liếng giáo lý
không đủ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu biết tận dùng thời giờ Chúa
ban / để học hỏi sâu rộng giáo lý của Chúa / nhờ đó đức tin của họ ngày càng
vững chắc và trưởng thành hơn.
3- Nhiều tín hữu
hiểu một cách đơn giản rằng / tin là giữ một số lề luật của Chúa và Hội Thánh /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi kitô hữu hiểu rằng / tin là gắn bó cùng Chúa
và dấn thân theo Người đến cùng.
4- Tin tưởng
tuyệt đối vào sự quan phòng của Chúa / và hiên ngang sống đức tin / phải là thái
độ căn bản của mọi tín hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ
chúng ta / biết luôn khôn ngoan chỉ tin tưởng một mình Chúa / và mạnh dạn tuyên
xưng đức tin trong đời sống thường ngày.
CT :
Lạy Chúa, đức tin của chúng con còn rất yếu kém, chúng con dễ hoang mang giao
động trước mọi thử th1ch trong cuộc sống. Vậy, xin Chúa ban thêm đức tin cho
chúng con. Chúng con cầu xin nhờ…
VI.
TRONG THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Khi đọc lời "Xin tha
nợ chúng con", chúng ta hãy đặc biệt xin Chúa tha thứ cho những lần chúng ta
không phó thác vào sự quan phòng của Chúa.
- Sau kinh Lạy Cha : "... xin đoái thương
cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Xin giúp chúng con thoát
khỏi mọi nỗi sợ hãi. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp..."
VII.
GIẢI TÁN
Thánh lễ đã hết, anh chị em hãy mạnh dạn ra đi
làm chứng cho Chúa giữa đời.
CHÚA NHỰT XIII
CHỦ ĐỀ
:
CHIA XẺ THÂN PHẬN CỦA ĐỨC KITÔ -
THÁI ĐỘ TIẾP
ĐÓN

"Ai cho một trong những kẻ bé mọn dù chỉ một ly
nước lã, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu"
(Mt 10,42)
- Bài đọc I (2V 4,8-11.14-18) : "Người đến trọ
nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa"
- Đáp ca (Tv 88) : "Tôi sẽ ca ngợi tình thương
Chúa đến muôn đời"
- Tin Mừng (Mt 10,37-42) : "Kẻ nào đành mất
mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm lại được nó" - "Kẻ nào tiếp đón các con là
tiếp đón Thầy"
- Bài đọc 2 (Rm 6,3-4.8-11) (Chủ đề phụ) :
"Nếu chúng ta chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Ngài".
Sợi chỉ đỏ :
Lời Chúa hôm nay có hai chủ đề :
1. Chủ đề tiếp đón : được diễn tả qua chuyện một
gia đình miền Sunam cho ngôn sứ Êlisê đến trọ tại nhà (Bài đọc I), và phần thứ
hai của bài Tin Mừng : "Kẻ nào tiếp đón các con là tiếp đón Thầy"
2. Chủ đề chia xẻ thân phận của Đức Giêsu : được
diễn tả qua phần đầu của bài Tin Mừng : "Kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy
thì sẽ tìm lại được nó", và bài đọc II : "Nếu chúng ta chết với Đức Kitô, chúng
ta sẽ cùng sống với Ngài".
Minh họa
- Mille images 137 D
- "Ai cho một trong những kẻ bé mọn dù chỉ một ly
nước lã, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu" (Mt 10,42)
I.
DẪN VÀO THÁNH LỄ
- (Nếu
chọn chủ đề I) : Anh chị em thân mến
Trong xã hội thời nay, người ta thường sống theo
kiểu chủ nghĩa cá nhân : mạnh ai nấy lo, sống chết mặc bây, đèn nhà ai nhà nấy
sáng. Kết quả của lối sống này là một xã hội thiếu vắng tình thương, ích kỷ, thờ
ơ.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy cầu xin Chúa
giúp chúng ta biết quan tâm tới người khác, yêu thương người khác và tiếp đón
người khác như tiếp đón chính Chúa.
- (Nếu chọn chủ đề II) : Anh chị em thân
mến
Lời Chúa hôm nay trình bày một nghịch lý : "Kẻ
nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất ; Kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy
thì sẽ tìm lại được nó".
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp
chúng ta hiểu được chân lý lạ lùng đó, và nhất là dám liều mạng sống vì Chúa, để
được chia sẻ sự sống của chính Chúa.
II.
GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta rất thờ ơ với những anh chị em sống
chung quanh chúng ta.
- Chúng ta coi thường những người nghèo nàn, thất
học và không có địa vị.
- Chúng ta ít khi hy sinh vì Chúa.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài
đọc
I
(2V 4,8-11.14-18)
Tường thuật câu chuyện giữa ngôn sứ Êlisê và một
phụ nữ xứ Sunam :
- Trên đường sứ mạng, ngày kia Eâlisê đến vùng
Sunam
- Ở đấy, một phụ nữ đã mời Ông vào nhà dùng bữa.
Sau đó bà còn nói với chồng mình rằng Eâlisê là một vị thánh của Thiên Chúa.
Được sự đồng ý của chồng, bà còn dọn sẵn cho Eâlisê một căn phòng có đầy đủ
những thứ cần thiết, để bất cứ lúc nào ngôn sứ cũng có thể đến trú ngụ.
- Đáp lại lòng tốt của vợ chồng này, ngôn sứ
Eâlisê đã làm phép lạ giúp họ đang son sẻ mà có được một đứa con trai đầu lòng.
(Sau này đứa con ấy chết, Eâlisê lại làm phép lạ cho nó sống lại).
2.
Đáp
ca
(Tv 88)
Tv này ca ngợi tình thương của Chúa. Tác giả còn
nguyện sẽ ca ngợi như thế mãi tới muôn đời.
3.
Tin Mừng
(Mt 10,37-42)
Có thể chia đoạn Tin Mừng này thành 2 phần :
- Phần đầu (các câu 37-39) Đức Giêsu dạy các môn
đệ về sự từ bỏ : Nếu muốn làm môn đệ xứng đáng của Ngài thì phải từ bỏ rất
nhiều : tình yêu gia đình, mạng sống ; và còn phải sẵn sàng vác thập giá mình mà
đi theo Ngài.
- Phần sau (các câu 40-42) dạy về sự tiếp đón :
ai tiếp đón các sứ giả Tin Mừng thì được coi như là tiếp đón chính Đức Giêsu,
thậm chí là tiếp đón chính Thiên Chúa là Đấng đã sai Đức Giêsu đến ; ai tiếp đón
một kẻ bé mọn thì cũng được phần thưởng.
4.
Bài
đọc
2
(Rm 6,3-4.8-11) (Chủ
đề
phụ)
Văn mạch : Phaolô đang đưa ra những lập luận để
chứng minh rằng người ta được công chính hóa không phải nhờ việc làm, mà nhờ tin
vào Đức Giêsu Kitô. Đoạn tuần trước là lập luận thứ nhất : con người đã mất ơn
nghĩa với Thiên Chúa do tội của Adam, nhưng con người lại được ơn nghĩa nhờ cái
chết của Đức Giêsu Kitô. Cho nên muốn được ơn nghĩa thì phải tin vào Đức Giêsu
Kitô.
Đoạn tuần này đưa ra lập luận thứ hai : muốn được
ơn nghĩa với Thiên Chúa thì phải liên kết với Đức Giêsu bằng phép rửa :
- Chịu phép rửa nghĩa là cùng chết với Đức Giêsu
để được cùng sống lại với Ngài.
- Như thế, kẻ đã lãnh nhận phép rửa hãy dứt khoác
chết cho tội lỗi để hoàn toàn sống cho Thiên Chúa.
IV.
GỢI Ý GIẢNG
1.
Những
nét
đẹp
của
sự
Tiếp
đón
Thánh Kinh ghi lại những cuộc tiếp đón rất đẹp và
rất dễ thương : 1/ Abraham thấy 3 người khách lạ đang đi trong sa mạc. Ông chạy
ra năn nỉ họ vào nhà và ân cần chăm sóc họ. Đó là 3 sứ giả của Thiên Chúa. Đáp
lại tấm lòng của Abraham, 3 sứ giả này ban ơn cho vợ chồng son sẻ của Abraham có
con trai đầu lòng (St 18) ; 2/ Một gia đình ở Sunam chẳng những tiếp đón ngôn sứ
Eâlisê, mà còn dọn hẳn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới có chỗ
trọ. Đáp lại, Eâlisê cũng giúp họ thoát khỏi tình trạng son sẻ (bài đọc I) ; 3/
Gia đình Matta, Maria và Lazarô ở Bêtania là nơi thường xuyên tiếp đón Đức Giêsu
và các môn đệ. Đáp lại, Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại.
Qua những chuyện trên, chúng ta hãy tìm hiểu thêm
hai vấn đề :
1/ Tại sao những chủ nhà ấy quảng đại tiếp đón
khách ? Thưa vì họ không chỉ nghĩ đến mình mà còn quan tâm tới người khác :
Abraham lo cho 3 người khách kia đi trong sa mạc sẽ bị đói khát và không có chỗ
nghỉ ngơi để lấy lại sức ; gia đình ở Sunam lo sợ ngôn sứ Eâlisê phải bơ vơ tứ
cố vô thân ở một miền đất lạ ; gia đình Bêthania thì muốn Đức Giêsu và các môn
đệ được nghỉ ngơi sau một thời gian mệt mỏi vì công việc rao giảng Tin Mừng.
Trong hai chuyện sau, còn một lý do nữa, là những chủ nhà ấy ý thức rằng những
người khách mà mình tiếp đón là sứ giả của Thiên Chúa.
2/ Phần thưởng của tấm lòng quảng đại ấy là gì ?
Là sự sống : hai đứa con trai đầu lòng cho hai vợ chồng son sẻ, và mạng sống
được trả lại cho Ladarô đã chết 4 ngày. Xét cho cùng, ơn ban sự sống ấy không
phải do những người khách, mà chính Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống, ban cho họ.
Những câu chuyện rất đẹp trên đây khuyến khích
chúng ta hãy quảng đại tiếp đón :
- Tiếp đón không chỉ là đón người vào trọ trong
nhà mình, cho họ ăn, cho họ nghỉ, mà còn là biết quan tâm tới nhu cầu của người
khác và đáp ứng theo khả năng của mình.
- Khi tiếp đón, dĩ nhiên chúng ta phải mất mát :
mất giờ, mất tiền của, mất công… Nhưng Thiên Chúa sẽ trọng thưởng chúng ta :
Ngài sẽ cho sức sống thần linh của Ngài thêm lớn mạnh trong sự sống chúng ta.
2.
Chúa Giêsu là số
mấy ?
Phần đầu của bài Tin Mừng hôm nay đặt vấn đề :
người môn đệ của Đức Giêsu đặt Ngài ở số mấy trong đời họ ?
Bình thường, người ta coi bản thân là số một, vợ
chồng số hai, gia đình số ba, thân nhân số bốn… Chúa thì có lẽ cao lắm cũng chỉ
từ số năm trở xuống.
Trong đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu kể ra những
người dành cho Chúa vị trí số hai :
- một là cha mẹ, hai là Chúa
- một là con cái, hai là Chúa
- một là mạng sống mình, hai là Chúa
Được xếp ở vị trí số hai như thế cũng là được coi
trọng lắm rồi. Nhưng Đức Giêsu vẫn không chịu. Ngài nhất quyết đòi vị trí số
một : "Ai yêu mến cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy ; ai yêu mến con
trai con gái hơn thầy thì không xứng đáng với Thầy" ; Ngài còn đòi chúng ta phải
dám mất mạng sống vì Ngài nữa !
Mỗi người chúng ta hãy tự hỏi : phần tôi, tôi xếp
Chúa vào vị trí số mấy ?
3.
Nhiều
loại
từ
bỏ
|