tài liệu @ nhàthờlondon

SỢI CHỈ ĐỎ MÙA VỌNG & GIÁNG SINH năm A

Lm Carôlô

 

 

 

 

 

 

SỢI CHỈ ĐỎ

CÁC CHỦ NHẬT NĂM A

 

* Một chủ đề xuyên suốt Thánh lễ

* Nhiều gợi ý làm cho Thánh lễ sống động

* Một hình minh họa cho mỗi Thánh lễ

* Nhiều gợi ý giảng và cầu nguyện


 

MÙA VỌNG VÀ GIÁNG SINH

SỢI CHỈ ĐỎ TRONG MÙA VỌNG NĂM A

Chúa nhựt I : Hãy sẵn sàng cho một tương lai tốt đẹp.

Chúa nhựt II : Tương lai tốt đẹp ấy chính là Nước Thiên Chúa. Hãy xây dựng Nước Thiên Chúa trong công bình và bác ái.

Chúa nhựt III : Người khánh thành Nước Thiên Chúa là Đấng Messia (Đấng Cứu Độ). Ngài đã gần đến.

Chúa nhựt IV : Đấng Messia ấy chính là Đức Giêsu Kitô với biệt danh là Emmanuel, "Thiên Chúa ở cùng chúng ta".

CHÚA NHỰT I

CH ĐỀ :

HÃY SẴN SÀNG
CHO MỘT TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP

 

  

"Anh em hãy sẵn sàng"

(Mt 24,44)

Sợi chỉ đỏ :

- Tương lai tốt đẹp được khơi lên bởi ngôn sứ Isaia (Bài đọc I)

- Nghĩ đến nó, tác giả Tv 121 hân hoan hát mừng Thiên Chúa (Đáp ca)

- Đức Giêsu khuyên hãy tỉnh thức sẵn sàng chờ đón nó (Bài Tin Mừng)

- Thánh Phaolô giải thích thế nào là tỉnh thức sẵn sàng (Bài đọc II)

Minh họa

   - Hình : Mille images, trang 25 hình B hoặc E

   - Câu Thánh Kinh : "Anh em hãy sẵn sàng" (Mt 24,44)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Hôm nay Giáo Hội bước vào Mùa Vọng. Vọng là chờ, là mong. Nhưng chúng ta chờ mong điều gì ? Phải chăng là mong chờ Lễ Giáng sinh ? Thưa không, chúng ta không mong chờ một lễ vui, mà mong chờ chính Chúa sẽ đến với chúng ta. Khi Ngài đến, Ngài sẽ mang cho chúng ta bình an, hạnh phúc. Tuy nhiên chúng ta hãy nhớ rằng những ơn lành ấy chỉ đến với những ai đã chuẩn bị lòng mình sẵn sàng. Vậy kể từ hôm nay, mỗi người chúng ta hãy tích cực chuẩn bị tâm hồn, vì ơn cứu độ của Chúa đã đến gần.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Một năm phụng vụ đã trôi qua, hôm nay bắt đầu một năm phụng vụ mới. Phải chăng trong năm phụng vụ vừa qua chúng ta đã có phần thờ ơ, ươn lười, nhiều lầm lỗi ?

- Xã hội ngày nay đầy dẫy sự xấu. Phải chăng chúng ta cũng có phần tạo nên tình trạng ấy ?

- Chúng ta cũng mong rằng thế giới sẽ tốt hơn, con người sẽ thương yêu nhau hơn. Nhưng chúng ta có làm gì cho tương lai ấy mau đến không ?

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 2,1-5) :

Vào hậu bán thế kỷ VIII trước công nguyên, vương quốc Giuđa khá thịnh vượng về mặt vật chất, nhưng lại rất suy đồi về mặt đạo đức. Trước tình trạng ấy, ngôn sứ Isaia một mặt thẳng thắn vạch tội dân và kêu gọi họ ăn năn sám hối, mặt khác loan báo rằng nếu dân trở lại thì Thiên Chúa sẽ ban cho họ một tương lai tốt đẹp.

Tương lai ấy được Isaia diễn tả bằng những hình ảnh thi vị :

- Đó sẽ là thời dân Thiên Chúa được tôn vinh : "Núi Nhà Chúa sẽ được xây trên đỉnh các núi". Mà dân Thiên Chúa được tôn vinh cũng có nghĩa là Thiên Chúa được tôn vinh, vì chính nhờ đức tin của họ mà các dân tộc trên mặt đất sẽ biết tới Chúa và tôn thờ Ngài : "Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng : Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà của Giacóp".

- Khi mọi người đã biết tôn thờ Chúa thì đó cũng sẽ là một thời thái bình : "Người ta sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa".

2. Đáp ca (Tv 121)

Tâm tình đầy lạc quan hy vọng của Isaia được diễn tả qua Tv 121 : "Ôi tôi sung sướng biết bao khi nghe nói : Chúng ta sẽ về nhà Chúa"

3. Bài Tin Mng (Mt 24,37-44)

Đức Giêsu cho biết Ngày tốt đẹp ấy sắp đến. Nhưng Ngài đặc biệt lưu ý ba điều :

a/ Ngày ấy sẽ đến một cách không ai ngờ cũng như chuyện Hồng thuỷ thời Nôe : thiên hạ cứ mải mê với những chuyện thế tục "Người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Nôe vào tàu mà người ta cũng không ngờ".

b/ Trong Ngày ấy, số phận loài người sẽ phân thành hai hạng khác nhau : có người sẽ "được đem đi" (được tiếp nhận), nghĩa là được nhận vào hưởng tương lai hạnh phúc với Chúa, nhưng có người sẽ "bị bỏ lại", nghĩa là không được hưởng hạnh phúc ấy (Chú ý : một số bản Việt ngữ đã dịch ngược nghĩa là "bị đem đi" và "được để lại").

c/ Được tiếp nhận hay bị bỏ rơi là do người ta có chuẩn bị sẵn sàng hay không. Vì thế Đức Giêsu kết luận : "Vậy các con phải sẵn sàng"

4. Bài đọc II (Rm 13,11-14)

Thánh Phaolô nói rằng Ngày tươi sáng đó rất gần rồi : "Giờ đây phần rỗi của chúng ta gần đến… Đêm sắp tàn, ngày gần đến". Và Ngài giải thích thế nào là tỉnh thức sẵn sàng :

a/ Trước hết, tỉnh thức sẵn sàng là "từ bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu". Nghĩa là phải tích cực chiến đấu để loại trừ sự dữ và cổ vũ cho sự thiện.

b/ Kế đó, tỉnh thức sẵn sàng là thay đổi cách sống : Hãy bỏ nếp sống cũ theo xác thịt, thể hiện trong việc ăn uống say sưa, chơi bời dâm đãng, tranh chấp ganh tị, lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt ; thay vào đó bằng một cuộc sống mới theo gương Đức Giêsu Kitô.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Phải biết nuôi hy vọng

Alan Platon là một nhà văn Nam Phi, tác giả một quyển sách nhan đề Cry the Beloved Country trong đó ông mô tả hoàn cảnh khốn khổ của nước Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc apartheid. Platon có một giấc mơ : ông mơ có một ngày mà mọi người dân trong đất nước của ông đều được đối xử công bình và bình đẳng. Và để thực hiện giấc mơ ấy, ông đã lao mình vào chính trị, đấu tranh suốt mấy mươi năm để xoá bỏ chế độ apartheid ấy. Nhiều người cho rằng mơ ước và việc làm của Platon là không thể nào thực hiện được. Nhưng ông vẫn kiên trì vì tin rằng ngày mơ ước ấy sẽ đến. Chỉ tiếc là ông đã chết trước khi thấy được ngày đó, nhưng lịch sử chứng minh rằng ông đã đúng.

Ngôn sứ Isaia còn có một giấc mơ táo bạo hơn nữa : Ông mơ tới ngày các nước sẽ không còn tuốt gươm chém giết lẫn nhau nữa, người ta sẽ lấy gươm rèn thành lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm, và mọi người sẽ bước đi trong ánh sáng của Chúa. Thật là một giấc mơ tuyệt vời ! Có người cho rằng giấc mơ ấy sẽ đến khi Đấng Messia đến. Người khác cho rằng nó chỉ sẽ đến khi Đấng Messia lại đến lần thứ hai. Có kẻ nói nó sẽ chẳng bao giờ đến, đó chỉ là nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng vẫn có người tin rằng thế nào nó cũng đến nên miệt mài theo đuổi như Alan Platon trong chuyện trên.

Một chuyện khác : Một người thợ săn nghe nói tới một con chim đặc biệt có đôi cánh rộng màu trắng rực rỡ. Đó là con chim đẹp nhất trong các loài chim trên mặt đất. Vì thế người thợ săn không quản ngại đường xa, trèo đồi vượt suối đi tìm nó hết ngày này sang ngày khác, tháng này đến tháng nọ, năm này đến năm kia. Một lần anh đã may mắn thấy được bóng dáng nó ở một khoảng cách rất xa. Nhưng chỉ thoáng thấy là nó bay đi mất. Anh vẫn kiên trì đi tìm. Một ngày kia anh nhặt được một cọng lông trắng của nó. Rồi anh chết đi mà không bao giờ bắt được con chim mơ ước của mình.

Cuộc săn tìm của người thợ săn là hình ảnh của loài người tìm kiếm hòa bình. Giấc mơ toàn thế giới vui hưởng thái bình của Isaia có thể không thực hiện được nhưng nó không chỉ đơn thuần là nằm mơ giữa ban ngày, mà giống như một ngọn núi mà ta mơ có ngày sẽ đứng trên đó. Dĩ nhiên muốn thế thì ta không thể cứ ngồi một chỗ mà mơ, hoặc ước chi nó từ trên trời hạ thấp xuống tận chân ta. Ta phải leo, phải có chương trình và kiên trì làm theo chương trình ấy, cho dù có chậm chạp và lâu dài.

Ngay cả khi giấc mơ thái bình ấy sẽ không bao giờ được thực hiện trọn vẹn trên toàn thế giới đi nữa, thì việc theo đuổi giấc mơ ấy cũng có ảnh hưởng tốt trên đời ta. Điều quan trọng không phải là đạt được mục đích mà là sống có mục đích. Nhiều khi, có một mục đích tốt cho đời mình thì kể như đủ, miễn là không bao giờ ta bỏ mục đích ấy.

Thế giới ngày nay nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ có thể làm được hầu như mọi điều, nhưng lại bất lực không tạo ra hòa bình được : bất hòa khắp nơi, trên bình diện lớn như nước này với nước nọ, dân này với dân nọ ; hoặc trên bình diện nhỏ như nhóm này với nhóm kia, người này với người khác. Mỗi kitô hữu có thể góp phần mình vào việc thực hiện giấc mơ thái bình của Isaia, bằng những cố gắng xoá bỏ óc kỳ thị, sự đố kỵ, ích kỷ, chia rẻ nhau… ; bằng cách gieo rắc hòa thuận, cảm thông, hợp tác…

Chúng ta cũng nên biết rằng chúng ta không cô đơn trong những cố gắng ấy, mà có Chúa giúp ta : Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi sai Con Một của Ngài đến ở với loài người chúng ta, thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian này, và cùng đồng hành với chúng ta trong nỗ lực leo lên đỉnh núi thái bình.

2. "Đây là lúc chúng ta phải thức dậy"

Lời Thánh Phaolô trong bài đọc II làm cho chúng ta giật mình. Phải chăng chúng ta đang ngủ vùi ?

Đúng vậy, dù mắt chúng ta vẫn mở nhưng thực sự chúng ta đang ngủ trong bóng tối mịt mù :

- Chúng ta ngủ vì "những việc làm đen tối"

- Chúng ta ngủ vì cứ "chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng"

- Chúng ta ngủ vì lòng đầy "tranh chấp đố kỵ"

- Chúng ta ngủ vì chỉ "lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt".

Nhưng Thánh Phaolô nhắc nhở rằng : "Đêm sắp tàn, ngày gần đến" và "Giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo", vậy "Đây là lúc chúng ta phải thức dậy".

- "Hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày"

- Hãy "cầm lấy khí giới của sự sáng" để chiến đấu chống lại những sức mạnh của tối tăm tội lỗi.

- Hãy cởi bỏ con người cũ thiên về những dục vọng xác thịt để "mang lấy Đức Giêsu Kitô".

3. Hai người, hai số phận

"Hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi".

Đức Giêsu chỉ nói tình trạng như thế thôi chứ không nói rõ lý do tại sao. Tuy nhiên chúng ta có thể biết lý do qua câu chuyện Ngài kể về thời ông Nôe : Ông Nôe chính là người được tiếp nhận, nhờ ông đã tỉnh táo nghe được lời Chúa báo sắp có nạn Hồng thuỷ, và ông đã tích cực chuẩn bị đóng tàu. Còn mọi người khác là những kẻ bị bỏ rơi, vì họ chẳng để ý tới việc gì khác ngoài cuộc sống vật chất, "ăn uống, dựng vợ gả chồng". Những bận tâm đó đã chiếm hết tâm trí họ rồi, còn tâm trí đâu mà để ý đến lời Chúa. Giả như ông Nôe có kể lại cho họ nghe lời cảnh báo của Chúa thì họ cũng không tin và còn cho là chuyện viễn vông, không thiết thực như chuyện "ăn uống, dựng vợ gả chồng".

Trong cuộc sống của chúng ta, giữa những bề bộn lo lắng về vật chất, thế tục, Lời Chúa vẫn vang lên để nhắc chúng ta phải biết quan tâm đến nhiều việc khác thuộc phương diện tinh thần, phương diện siêu nhiên, phương diện đời đời… Ai tỉnh táo thì nghe được và sẽ "được tiếp nhận", kẻ nào mãi thờ ơ thì như "đàn gãy tai trâu" và sẽ "bị bỏ lại".

4. Chúa cấm con thất vọng

* Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quỵ, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế (ĐHV 971)

Cha Charles de Foucauld có để lại mấy giòng sau đây. Đọc kỹ, con sẽ thấy phấn khởi tâm hồn và lấy lại được niềm tin, nhất là những lúc hầu như con thất vọng :

- "Dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng về điều đó".

- "Dù con bội bạc cách mấy, khô khan cách mấy, hèn nhát cách mấy, lợi dụng ơn Chúa cách mấy. Chúa cũng vẫn bắt con phải hy vọng được sống đời đời dưới chân Chúa trong tình thương và sự thánh thiện".

- "Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nạn của con. Chúa không cho con nói ‘Tôi không thể đi tới được, đường lên trời khó khăn quá, tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp"

- "Trước những sa ngã trở đi trở lại của con, Chúa lại cấm không cho con nói : "Tôi không hề sửa mình được, tôi không có sức để nên thánh, tôi không xứng đáng để vào thiên đàng…"

- "Vậy Chúa muốn con phải trông cậy Chúa luôn, vì Chúa ra lệnh và vì con phải tin ở tình thương và quyền năng của Chúa" (ĐHY NVT, Trên đường lữ hành)

5. Thức dậy

Ở Mêhicô, giáo phận của Đức Cha Samuel Ruiz có tới 80 % giáo dân là người da đỏ bản xứ. Bản thân ngài nổi tiếng là người bênh vực cho dân da đỏ. Nhưng không phải tự nhiên mà ngài làm được việc đó đâu. Trong một buổi nói chuyện ở Nhà thờ Chính tòa Westminster Mùa Chay 1996, ngài đã thố lộ tâm sự như sau : "Suốt 20 năm làm giám mục giáo phận này, tôi như một con cá đang ngủ (sleeping fish), nghĩa là mắt vẫn mở nhưng chẳng thấy gì. Tôi còn hãnh diện vì giáo phận có nhiều nhà thờ và giáo dân đông đúc. Rồi một hôm tôi gặp cảnh một người da đỏ bị trói vào một thân cây và bị ông chủ dùng roi quất túi bụi vì lý do người này không chịu làm thêm 8 giờ phụ trội nữa." Chính cái biến cố đó đã làm cho Đức Cha Samuel Ruiz "thức dậy". Từ đó trở đi, Ngài hăng hái tranh đấu cho quyền lợi người da đỏ.

Chuyện trên cho ta thấy hai điều : 1/ Thiên Chúa có nhiều cách để kêu gọi người ta thức dậy ; 2/ Và cũng có nhiều cách thức dậy : thức dậy về thể xác (thôi ngủ), thức dậy về xã hội, thức dậy về đạo đức v.v.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến

Mùa Vọng, mùa Xuân của năm phụng vụ, là thời gian chuẩn bị đón mừng Đức Kitô, Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người, vừa hướng lòng trông đợi Người đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Trong niềm khát khao trông chờ Chúa ngự đến, chúng ta cùng tin tưởng nguyện xin.

1- Hội Thánh được Chúa Giêsu thiết lập / và trao ban sứ mạng rao giảng mọi nước mọi dân biết Thiên Chúa là Tình yêu. / Người yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh / luôn làm tròn sứ mạng cao quý nhưng hết sức khó khăn này.

2- Khát vọng sâu xa nhất của con người thời nay / là được sống trong hòa bình và thịnh vượng. / Nhưng chiến tranh vẫn bùng nổ ở nhiều nơi trên thế giới / gây ra biết bao cảnh tang thương. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho lòng bác ái yêu thương thâm nhập mọi sinh hoạt trần thế / để mọi người biết thương yêu và tôn trọng nhau hơn.

3- Thánh Phaolô kêu gọi : / "Hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày / không chè chén say sưa / không chơi bời dâm đãng / cũng không cãi cọ ghen tương" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai tin Chúa / biết luôn ghi nhớ và thực hiện lời mời gọi của vị tông đồ dân ngoại / để có thể trở nên muối ướp mặn đời / và ánh sáng chiếu soi trần gian.

4- Đức Giêsu nhắc nhở các môn đệ : / "Anh em hãy canh thức / vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến". / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn sẵn sàng đón Chúa ngự đến / bằng một đời sống sốt sắng thờ phượng Chúa và chan hòa tình bác ái yêu thương.

CT : Lạy Chúa, vì yêu thương thế gian, Chúa đã ban Con Một xuống thế làm người, sống kiếp phàm nhân, nên giống chúng con trong mọi sự, trừ tội lỗi. Xin cho tất cả chúng con thiết tha trông chờ Con Chúa ngự đến, biết chuẩn bị xứng đáng tâm hồn, để đón mừng mầu nhiệm Giáng sinh cao cả. Chúng con cầu xin…

(Phần "Lời nguyện cho mọi người" của Năm A này được trích từ Báo Công giáo và Dân tộc, số đặc biệt Giáng sinh năm Phụng vụ A, 1998-1999)

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Nên dùng Kinh nguyện Thánh Thể 3, nhấn mạnh một số nơi :

. (Sau lời tung hô sau truyền phép) : "Vì vậy lạy Cha, giờ đây chúng con tưởng nhớ… đồng thời mong đợi Người lại đến, chúng con dâng lên Cha hy lễ hằng sống và thánh thiện này…"

. (Sau truyền phép, đoạn 4) : "Lạy Cha, xin cho hy lễ hòa giải này… Còn những con cái Cha đang tản mát bốn phương trời, xin thương quy tụ tất cả về với Cha…"

- Trước Kinh Lạy Cha : Trong niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp "danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời", chúng ta hãy sốt sắng dâng lên Thiên Chúa là Cha chúng ta lời kinh Lạy Cha sau đây :

- Chúc bình an : Ngôn sứ Isaia đã mơ đến ngày thế giới không còn chiến tranh, người ta sẽ lấy gươm giáo rèn thành lưỡi hái lưỡi cày. Chúng ta hãy chúc cho nhau được bình an và trở thành những người xây dựng hòa bình cho cuộc sống.

- Trước lúc rước lễ : "Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng đã đến xóa tội trần gian và sẽ lại đến thăm viếng chúng ta, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa".

VII. GIẢI TÁN

Dùng công thức ban phúc lành cuối lễ long trọng của Mùa Vọng (Sách lễ Rôma, xuất bản 1992, trang 575)

CHÚA NHỰT 2

CHỦ ĐỀ :

XÂY DỰNG NƯỚC THIÊN CHÚA
TRONG CÔNG BÌNH VÀ BÁC ÁI

 

"Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa"

(Mt,3,3)

Sợi chỉ đỏ :

- Ngôn sứ Isaia nói tiên tri về nền hòa bình trong Nước Thiên Chúa (Bài đọc I)

- Tv 71 cầu nguyện cho Nước hoà bình ấy mau đến (Đáp ca)

- Gioan Tẩy giả loan báo Nước ấy sắp đến (Tin Mừng)

- Thánh Phaolô dạy những công dân Nước Thiên Chúa phải sống thế nào (Bài đọc II)

Minh họa

   - Hình : Mille images, trang 22, hình E

   - Câu Thánh Kinh : "Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa" (Mt,3,3)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Lời Chúa trong Chúa nhựt vừa qua hé mở cho chúng ta thấy một tương lai tốt đẹp đang sẵn chờ chúng ta, và kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức sẵn sàng để đón nhận nó. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy rõ hơn tương lai tốt đẹp ấy chính là Nước Thiên Chúa. Trong Nước này, chính Thiên Chúa sẽ trực tiếp cai trị và mọi công dân sẽ sống rất hạnh phúc trong công bình và bác ái.

Trên cơ bản, Giáo Hội chính là Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, trên thực tế Giáo Hội vẫn chưa thực sự là Nước Thiên Chúa vì ở một số phương diện vẫn còn rất nhiều lỗi lầm sai sót. Bởi đó mỗi người trong Giáo Hội cần phải sám hối sửa đổi cuộc sống mình để Giáo Hội ngày càng xứng đáng là Nước Thiên Chúa hơn.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Công dân Nước Thiên Chúa phải phục quyền Thiên Chúa là vua của mình. Nhưng chúng ta thường không vâng phục Thiên Chúa.

- Công dân Nước Thiên Chúa phải sống hòa thuận với nhau. Nhưng chúng ta thường bất hòa với nhau.

- Công dân Nước Thiên Chúa phải tích cực xây dựng và mở mang Nước Thiên Chúa. Nhưng chúng ta rất thờ ơ với trách nhiệm này.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 11,1-10)

Với Isaia, chúng ta đang ở thế kỷ VIII trước công nguyên. Khi ấy, dân do thái thất vọng chán chường về những ông vua đã và đang cai trị họ : chỉ lo cho bản thân và gia đình mình chứ không lo cho dân, xã hội đầy dẫy bất công, luân lý suy đồi, tín ngưỡng nguội lạnh…

Đúng lúc đó Ngôn sứ Isaia lên tiếng tiên báo rằng sẽ có ngày Thiên Chúa sai Đấng Messia của Ngài đến để thiết lập Nước Thiên Chúa :

- Đấng Messia ấy sẽ sinh ra từ gốc tổ Giêsê. Ngài sẽ đầy tràn thần linh Thiên Chúa, tức là thần khôn ngoan, thông suốt, thần chỉ dẫn và sức mạnh, thần hiểu biết và đạo đức, và thần ấy sẽ làm cho dân Ngài biết kính sợ Thiên Chúa.

- Ngài sẽ xét đoán công minh, bênh vực người hiền lành, trừng trị những kẻ áp bức.

- Dân sẽ sống hoà thuận hạnh phúc : "sói sống chung với chiên con, beo năm chung với dê, bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau… trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc…"

2. Đáp ca (Tv 71)

Tv 71 diễn tả lời cầu xin của dân chúng cho triều đại ấy mau đến : "Sự công chính và nền hòa bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại Người cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng".

3. Tin Mng (Mt 3,1-12)

Gioan Tẩy giả cho biết Đấng Messia mà ngôn sứ Isaia tiên báo sắp đến rồi và do đó Nước Thiên Chúa ấy cũng gần đến. Vậy mọi người hãy dọn đường cho Ngài. Dọn đường bằng cách :

- Sám hối từ bỏ tội lỗi

- làm việc lành cho xứng với lòng sám hối ấy.

4. Bài đọc II (Rm 15,4-9)

Đấng Messia chính là Đức Giêsu. Nước Thiên Chúa mà Ngài thiết lập chính là Giáo Hội.

Thánh Phaolô dạy các kitô hữu, tức là những công dân trong Nước Chúa, phải sống với nhau như thế nào : thông cảm với nhau, tiếp rước nhau, phục vụ nhau.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Giấc mơ thời thái bình

Khi đọc sách lịch sử, hoặc đọc báo mỗi ngày, chắc hẳn là nhiều lần chúng ta phải xấu hổ vì mình đã làm người. Lịch sử loài người thế nào ? Thưa là chiến tranh, chiến tranh và chiến tranh. Bao nhiêu là chết chóc, bao nhiêu là sợ hãi, bao nhiêu là nước mắt. Một triết gia đã than : Homo homini lupus ! (Con người là sói dữ của con người)

Các nhà du hành vũ trụ là những người đầu tiên được nhìn thấy trái đất từ bên ngoài. Từ ngoài vũ trụ nhìn vào, họ thấy trái đất như một gia đình đông đúc cùng cư ngụ trong một mái nhà chung. Một nhà du hành kể : ngày thứ nhất trong vũ trụ, mọi người chúng tôi ai cũng nhìn xuống tìm đất nước của mình ; ngày thứ hai tìm lục địa của mình, và ngày thứ ba ai nấy đều ý thức mình cùng chung một trái đất.

Trên đây là hai cái nhìn vào trái đất và loài người : một cái nhìn từ bên ngoài và một cái nhìn từ bên trong.

Trong bài đọc I, Ngôn sứ Isaia cũng dùng một cái nhìn từ bên ngoài để mô tả cảnh thái bình mà ông nghĩ sẽ được thực hiện vào thời đại Messia : "Sói sống chung với chiên con, beo nằm chung với dê, bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau ; con trẻ sẽ dẫn dắt các thú ấy. Bò con và gấu sẽ ăn chung một nơi, các con của chúng nằm ngủ chung với nhau ; sư tử cũng như bò đều ăn cỏ khô ; trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc ; các thú dữ ấy không làm hại ai, không giết chết người nào…"

Đức Giêsu chính là Đấng Messia. Khi Ngài đến, Ngài đã thiết lập thời đại thái bình ấy. Thánh Marcô kể rằng trong 40 ngày ở hoang địa, Đức Giêsu đã sống chung một cách hòa thuận với các dã thú, và các thiên sứ hầu hạ Ngài (Mc 1,12). Giáo Hội thời sơ khai cũng là một cảnh thái bình. Sách Công vụ tông đồ viết : "Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ Bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến" (Cv 3,44-47).

Nhưng rồi cảnh thái bình ấy đã dần dần biến mất : con người đối xử với nhau còn tệ hơn dã thú, thay vì chia sẻ cho nhau thì lại tranh dành với nhau, thay vì tất cả đồng tâm nhất trí thì mỗi người một ý không ai chịu ai… Trong Mùa Vọng, chúng ta hãy nỗ lực tái tạo cảnh thái bình ngày xưa, ít ra là trong gia đình mình, trong khu xóm mình, trong tập thể mà mình đang sống.

2. Thông cảm, tiếp rước và phục vụ

Khi Thánh Phaolô muốn dạy các tín hữu phải sống với nhau thế nào để cộng đoàn Giáo Hội của họ thực sự là một cuộc sống hạnh phúc trong Nước Chúa, Ngài đã chỉ họ 3 việc : thông cảm nhau, tiếp rước nhau và phục vụ nhau.

- Thông cảm : phải chăng lý do khiến người ta buồn giận nhau, chỉ trích nhau, kết án nhau… là vì người ta không thông cảm cho nhau ?

- Tiếp rước : phải chăng nguyên cớ của những cảnh "mạnh ai nấy sống", "đèn nhà ai nhà nấy sáng", "sống chết mặc bây"… là vì người ta không tiếp rước nhau ?

- Phục vụ : phải chăng nguồn gốc của những chèn ép, tranh dành, ích kỷ… là vì người ta không phục vụ nhau ?

Thử tưởng tượng một tập thể mà ai nấy đều thông cảm, tiếp rước và phục vụ mọi người khác. Cảnh tượng sẽ chẳng kém gì giấc mơ thái bình của ngôn sứ Isaia và bức tranh tuyệt vời của cộng đoàn tín hữu sơ khai.

3. "Hãy dọn đường Chúa"

"Hãy dọn đường Chúa", đó là lời Thánh Gioan Tiền hô kêu gọi.

Xin được phép gợi lên một vài suy nghĩ hơi thi vị về những con đường.

Thánh kinh có nói tới nhiều con đường :

- Con đường dân Do thái đã đi qua trong sa mạc : một con đường quanh co đi hoài đi mãi suốt 40 năm lang thang để tìm về Đất Hứa.

- Con đường từ Giêrusalem xuống thành Giêricô : một con đường hiểm trở đầy những ổ phục kích của bọn cướp, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn về một người lữ hành đi qua con đường đó bị bọn cướp đánh dở sống dở chết.

- Con đường của Chúa Giêsu và các tông đồ một lần kia đi ngang qua xứ Samaria ngoại đạo : một con đường đã bị chặn lại không cho đi vì những thành kiến thù nghịch giữa hai dân tộc.

- Con đường thập giá của Chúa Giêsu : một con đường khổ đau rải rác những giọt máu của Đấng Cứu thế.

- Con đường về làng Emmau mà có lần sau phục sinh, hai môn đệ của Chúa Giêsu đã cùng Ngài sánh bước : một con đường mù sương che mắt khiến hai ông không nhận ra Thầy mình.

- Và con đường là chính Chúa Giêsu "Ta là Đường, là sự thật và là sự sống".

Những con đường trong Thánh kinh ấy, thực ra là hình bóng của những con đường trong đời người : trong cuộc đời, có :

- có những con đường chăng dây kẽm gai : con đường của những kẻ thù hận nhau, nó ngăn chận những tương giao qua lại.

- Có những con đường đầy ổ phục kích : con đường của những kẻ cạnh tranh nhau, chờ cơ hội để khai thác nhau, lợi dụng nhau, làm hại nhau.

- có những con đường hầm u tối : con đường của những kẻ lọc lừa, gian dối.

- có những con đường quanh co trong rừng rậm : con đường của những kẻ lén lút sống trong vòng tội lỗi.

- có những con đường gồ ghề lồi lõm : con đường của những kẻ mang một tật xấu thâm căn cố đế, hoặc kiêu căng, hoặc hà tiện, hoặc đam mê sắc dục…

- có những con đường cỏ dại mọc đầy : con đường của những kẻ không vướng mắc tội nặng nhưng còn rất nhiều tội nhẹ.

- Có những con đường sa mạc cát nóng : con đường của những kẻ khô khan việc đạo.

- và cũng có những con đường cái quan thẳng tắp : con đường bình an của những kẻ đạo hạnh, ngày càng tiến nhanh về Chúa.

Cuộc đời mỗi người chúng ta là một con đường : con đường hai chiều đưa ta đến với Chúa và Chúa đến với ta, hay đưa ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.

- Đó chính là con đường mà Chúa Giáng Sinh muốn đi, đi để đến với ta, và qua ta để đến với tha nhân : đến để mang cho ta và cho anh em ta muôn ơn lành : ơn bình an, ơn hạnh phúc, ơn đạo hạnh.

4. Hội Thánh là tôi

* Hội Thánh có nhiều khuyết điểm và gương xấu, nhưng Hội Thánh có Lời Hứa của Chúa. Hội Thánh là một phép lạ liên lỉ. Tuy nhiên đừng vì thế mà phơi bày khuyết điểm và gương xấu cho mọi người. Cũng đừng vì đó mà tha hồ làm gương xấu để Chúa phải làm phép lạ mỗi ngày (ĐHV 264)

Nữ tu đời Ange Hattei, trong tác phẩm "Jesus caritas" có thuật lại câu chuyện như sau :

Trước Công đồng Vaticanô II, một hôm có người bạn vô thần tôi yêu mến đã nhận định với tôi rằng : Hội Thánh là một thế lực tiền bạc, là điểm tựa của các nhà độc tài và đại tư bản. Ông ta thắc mắc về các vị lãnh đạo Hội Thánh độc đoán và phe phái, về các tín hữu tự cho mình là tốt mà hành động xấu xa, về các Linh mục lo lắng thụ hưởng và làm giàu… Tôi kiên nhẫn lắng nghe ông rồi nói : "Tôi đã làm gì mà anh hạ nhục tôi như vậy ?" Ông ta sừng sỏ bảo : "Tôi sỉ nhục cô ư ? Nhưng tôi đâu có nói gì cô ! Không nói gì cô mà cũng chẳng nói gì về một người bạn nào của cô cả, như Linh mục X, hay chị Y chẳng hạn. Tôi nói đến Hội Thánh cách chung mà !" Tôi trả lời : "Hội Thánh cách chung là tôi, Hội Thánh cách chung là tất cả những người mà anh chỉ trích, những kẻ mà anh loại trừ. Họ trộn lẫn với nhau một cách không thể phân ly được. Hội Thánh cách chung là họ, là tôi, là tất cả những người ấy". Ông bạn tôi từ đó không bao giờ còn thắc mắc với tôi về Hội Thánh. Và nhiều lần trước mặt tôi ông còn tìm cách làm nổi bật những dấu hiệu tích cực về sự hiện diện của Hội Thánh trong thế giới này nữa. (ĐHY NVT, Trên đường lữ hành)

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thánh Gioan Tẩy giả mời gọi người kitô hữu cố gắng làm nhiều việc lành phúc đức để chứng tỏ lòng thống hối thực sự và quyết tâm đổi mới đời sống. Với lòng sám hối chân thành, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện :

1- Hội Thánh không ngừng nhắc nhở các kitô hữu sám hối tội lỗi và canh tân đời sống / để nên hoàn thiện như Cha trên trời. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi tín hữu / biết luôn khiêm tốn lắng nghe / và hết lòng thực hiện lời giáo huấn của Hội Thánh.

2- Ngày nay / tội ác vẫn hoành hành trên khắp thế giới / tạo nên một bầu khí bất an / đe dọa nếp sống yên lành của những người lương thiện. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi kitô hữu / biết nỗ lực sống thánh thiện / để nêu gương sáng cho những người chung quanh.

3- Ngôn sứ Isaia đã mô tả một thế giới lý tưởng / trong đó không còn hận thù / không còn chiến tranh / không còn những thảm cảnh đau lòng / vì muôn loài muôn vật đều chung sống hòa bình với nhau. / Nhưng tiếc thay / cho đến ngày hôm nay / đó chỉ là một giấc mơ đẹp. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho ước mơ này sớm trở thành hiện thực / để mọi người đang hiện diện trên trái đất / đều sống trong an bình và hạnh phúc.

4- Thánh Gioan kêu gọi : / "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / trong Mùa Vọng này / biết can đảm dứa khoát với tội lỗi / khôn ngoan xa lánh dịp tội / cố gắng sửa chữa các tật xấu / và nhất là quyết tâm làm nhiều việc thiện / như giúp đỡ những người nghèo khổ bất hạnh / những ai đang đau khổ vì bệnh tật / đang gặp hoạn nạn vì thiên tai.

CT : lạy Chúa là Cha nhân ái, tất cả chúng con đang buồn sầu vì tội lỗi đã phạm. Chúng con hết lòng sám hối ăn năn. Cúi xin Chúa đoái thương thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, để xứng đáng đón mừng Ngôi Hai Con Chúa giáng trần. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Hôm nay khi cùng nhau đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hãy đặc biệt cầu xin cho "Nước Cha trị đến".

- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin ban cho chúng con một lòng sám hối chân thành để chuẩn bị đón Con Cha lại đến. Xin đoái thương ban cho những ngày chúng con đang sống được bình an… đang khi chúng con đời chờ ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô Đấng cứu độ chúng con ngự đến".

- Chúc bình an : Ngôn sứ Isaia viết "Trong ngày ấy, sói sống chung với chiên, beo nằm chung với dê…", nghĩa là mọi người không ai làm hại ai, mọi người đều hòa thuận với nhau. Chúng ta hãy chúc cho nhau được hưởng sự hòa thuận đó.

- Trước rước lễ : "Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng mà thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu cho chúng ta là Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến…"

VII. GIẢI TÁN

Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta lo dọn đường cho Chúa đến. Trong tuần này, anh chị em hãy tích cực dọn đường cho Chúa đến với tâm hồn mình và với anh chị em mình.

CHÚA NHỰT 3

CHỦ ĐỀ :

ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ GẦN ĐẾN

 

 

"Thầy có đúng là Đấng phải đến không ?"

(Mt 11,3)

Sợi chỉ đỏ :

- Ngôn sứ Isaia loan báo Đấng Cứu độ sẽ đến (Bài đọc I)

- Tv 145 cầu xin Chúa đến (Đáp ca)

- Gioan Tẩy giả sai môn đệ đến hỏi Đức Giêsu xem Ngài có phải là Đấng cứu độ không (Tin Mừng)

- Thánh Phaolô khuyên tín hữu bền chí chờ đợi Chúa lại đến lần thứ hai (Bài đọc II)

Minh họa

   - Hình : Mille images, trang 24, hình D

   - Câu Thánh Kinh : "Thầy có đúng là Đấng phải đến không ?" (Mt 11,3)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Trong Mùa Vọng, lễ phục của chủ tế màu tím. Nhưng hôm nay chủ tế mặc lễ phục màu hồng, màu vui mừng ! Bởi vì hôm nay Lời Chúa loan báo cho chúng ta một tin hết sức vui mừng : Chúa sắp đến viếng thăm chúng ta !

Nhưng không phải là Chúa đã đến ở Bêlem cách nay khoảng 2000 năm hay sao ? Tại sao lại nói là Chúa sắp đến ? Thưa quả thực ở Bêlem Chúa đã đến với trần gian, nhưng chưa đến với tâm hồn mọi người. Mà điều Chúa thiết tha mong muốn không phải là đến một nơi nhưng là đến với con người.

Chỉ còn hơn một tuần lễ nữa thôi là chúng ta lại mừng lễ Giáng sinh, kỷ niệm lần đầu tiên Ngôi Hai Thiên Chúa đến trần gian. Nhưng phải chăng một lần nữa Chúa chỉ đến trong hang đá lạnh lẽo, mà không đến được với tâm hồn mỗi người chúng ta ?

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa dạy chúng ta phải làm gì để Chúa có thể đến tận tâm hồn chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Đã bao nhiêu lần Chúa muốn đến thăm viếng tâm hồn chúng ta, nhưng bấy nhiêu lần Ngài đều không đến được vì cánh cửa tâm hồn chúng ta đã khóa chặt.

- Chúng ta mong chờ biết bao người đến thăm chúng ta, như những người thân, những người mang lại lợi lộc vật chất. Nhưng rất ít khi chúng ta mong chờ Chúa đến.

- Thậm chí nhiều lần chúng ta còn xua đuổi Chúa.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 35,1-6a) :

Nhìn chung quanh mình, ngôn sứ Isaia thấy những cảnh bất hạnh : nhiều người mệt mỏi chán chường với "những bàn tay rời rã, những đầu gối mỏi mòn" ; nhiều người khác bi quan sợ hãi trước những áp bức, bất công ; nhiều người khác nữa đau buồn rên siết trong biển khổ cuộc đời…

Ngôn sứ Isaia an ủi và khích lệ họ : mọi bất hạnh sẽ biến mất khi Thiên Chúa đến : "Chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi"

2. Đáp ca (Tv 145) :

Lời cầu nguyện của Tv 145 này biểu lộ niềm tin tưởng vào lời Chúa phán qua miệng ngôn sứ Isaia. Tác giả tin rằng khi Thiên Chúa đến, Ngài sẽ minh oan cho người bị áp bức, nâng đỡ những người yếu đuối, chở che những người cô thế cô thân… Bởi thế, tác giả cất tiếng nài van "Lạy Chúa, xin đến cứu thoát chúng tôi".

3. Tin Mng (Mt 11,2-11) :

Cũng như mọi người khác đương thời, Gioan Tẩy Giả nôn nóng chờ Đấng Messia của Thiên Chúa đến. Gioan cũng đoán rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia ấy. Chỉ có điều Gioan lại quan niệm rằng Đấng Messia là một vị Thẩm phán nghiêm minh. Ngài đến để trừng trị những người gian ác. Vì thế khi thấy Đức Giêsu chưa làm gì để trừng trị kẻ ác, thậm chí bản thân Gioan đang bị kẻ ác giam giữ trong ngục mà Ngài cũng chưa ra tay. Gioan đâm ra hoang mang, ông sai môn đệ đến thưa Người rằng : "Thầy có phải là Đấng phải đến chăng ?"

Đức Giêsu không trả lời trực tiếp. Ngài bảo các môn đệ của Gioan về thuật lại cho thầy họ tất cả những điều họ thấy Ngài làm : những kẻ bệnh hoạn tật nguyền được cứu chữa và Tin Mừng được loan báo cho người nghèo. Đó là những chi tiết mà ngôn sứ Isaia dùng để mô tả Đấng Messia, nhưng không phải là một Đấng Messia thẩm phán, mà là một Đấng Messia Tôi Tớ.

Như thế, một cách gián tiếp, Đức Giêsu đã trả lời cho Gioan biết rằng Ngài chính là Đấng Messia ; đồng thời Ngài cũng điều chỉnh lại quan niệm Messia của Gioan : Đấng Messia đến không phải để trừng trị mà để cứu vớt.

Quan niệm này quả là quá xa lạ với suy nghĩ của Gioan. Vì thế, Đức Giêsu nhắn với ông "Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".

4. Bài đọc II (Gcb 5,7-10) :

Thời Giáo Hội sơ khai, các tín hữu mong chờ Chúa lại đến lần thứ hai. Càng khổ sở vì cuộc sống vất vả, càng cảm thấy yếu thế trước những áp bức bất công, họ càng mong Chúa mau đến. Thế nhưng mong chờ đã lâu mà sao vẫn chưa thấy Chúa đến ? Họ bắt đầu nản lòng.

Thánh Giacôbê khuyến khích họ hãy làm như bác nông phu : đã gieo giống rồi thì thế nào cũng tới mùa gặt hái, chỉ cần kiên nhẫn chờ đợi thôi : "Anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến".

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Người ta đang cần Chúa

Nhìn bề ngoài thì xem ra con người thời nay rất đầy đủ. Nhưng nếu đi sâu đến tận đáy lòng, ta mới thấy nhiều khoảng trống mênh mông rất cần được lấp đầy :

- Khoảng trống "siêu vật chất" : Mặc dù tiền bạc, của cải, tiện nghi… - nói chung là vật chất - có rất nhiều, nhưng lòng người vẫn luôn thấy thiếu. Chỗ thiếu vắng này không thế lấy tiền mà mua được, không thể lấy vật chất mà lấp đầy được.

- Khoảng trống "tình yêu" : người ta sống với nhau vì quyền lợi. Ai có lợi cho tôi thì tôi đến ; ai không có lợi thì tôi thờ ơ, ai không còn có lợi thì tôi bỏ, ai có hại thì tôi tìm cách diệt trừ… Hình như tình yêu không có chỗ trong lòng người.

- Khoảng trống "vĩnh hằng" : mọi thứ mà người thời nay có đều chỉ là tạm bợ, kéo dài lắm cũng chỉ là "trăm năm trong cõi người ta". Con người cần cái gì đó dài hơn, lâu hơn, mãi mãi…

Những khoảng trống ấy thật là mênh mông, và không ai ngoài Chúa có thể lấp đầy. Con người thời nay đang rất cần Chúa.

2. Đừng nóng vội

Trước một vấn đề quan trọng cần giải quyết, người ta chia thành hai hạng khác nhau :

- Những người nóng vội : muốn giải quyết ngay tức khắc, bằng cách nào cũng được, kết quả thế nào cũng được.

- Những người kiên nhẫn : tìm hiểu kỹ vấn đề, suy nghĩ cách giải quyết thỏa đáng nhất, chờ có đủ điều kiện thuận lợi nhất.

Phần Thiên Chúa, Ngài không nóng vội nhưng rất kiên nhẫn, bởi vì Ngài muốn cứu chữa tận căn, muốn cải tạo con người, muốn canh tân thế giới.

Phần mỗi người chúng ta, cũng chớ tìm những giải pháp nhanh chóng mà hời hợt, nhưng hãy kiên nhẫn : kiên nhẫn điều trị tận gốc căn bệnh của mình, kiên nhẫn cải tạo từng mặt cuộc sống của mình, và kiên nhẫn góp phần canh tân thế giới.

3. "Hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác ?"

Tuy Gioan là một ngôn sứ và còn là vị Tiền hô, nhưng câu hỏi này của ông lại rất "phàm trần" : Ông nghĩ rằng Đức Giêsu là Đấng Messia Thẩm phán. Nhưng khi thấy Ngài chẳng xét xử và trừng trị ai thì ông nghĩ tới "một Đấng nào khác".

Nhưng chúng ta còn "phàm trần" hơn Gioan nhiều : Dù đã biết Đức Giêsu chính là Đấng Messia, nhưng chúng ta không đủ tin nơi Ngài, chúng ta hướng về nhiều "đấng messia khác" : messia-tiền-bạc, messia-thế-lực, messia-lạc-thú…

Tuyên ngôn Dominus Jesus khẳng định rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất, ngoài Ngài ra chẳng có đấng messia nào cả. Không hết lòng tin tưởng vào Đức Giêsu là "vấp ngã", chạy theo những đấng messia khác cũng là "vấp ngã". Vì thế Đức Giêsu đã khuyến cáo : "Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".

4. Một cây sậy phất phơ trước gió

Gioan Tẩy giả không phải là một cây sậy phất phơ trước gió, vì Gioan không phải là người yếu đuối nhu nhược dễ uốn mình trước áp lực và dư luận.

Nhưng hình ảnh cậy sậy phất phơ trước gió có thể dạy ta nhiều điều :

- Nó vừa mềm vừa nhẹ nên gió thổi nó nghiêng về hướng nào cũng được.

- Nhưng nó lại rất mạnh : giông to gió lớn có thể xô ngã những cây cổ thụ to lớn, nhưng không thể bứng gốc cây sậy nhỏ bé này.

Lạy Chúa,

- xin dạy chúng con hiểu rằng sức mạnh ở trong sự yếu đuối và dịu dàng

- xin dạy chúng con khôn ngoan biết khi nào phải cong xuống và khi nào phải trụ vững vàng.

5. Chuyện minh họa

a/ Ông có phải là Chúa Giêsu không ?

Một nhóm thương gia dự một cuộc họp. Người nào cũng báo trước với vợ con là sẽ về nhà đúng giờ ăn bữa tối. Nhưng cuộc họp kéo dài hơn dự định. Tan buổi họp, ai nấy hối hả chạy ra xe buýt. Một người xô phải quầy bán táo của một cậu bé, táo rơi tứ tung. Nhưng không ai dừng lại để lượm giúp cậu. Rồi mọi người đều lên được xe buýt, thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng ít giây sau, một người trong nhóm cảm thấy bứt rứt về chuyện cậu bé bán táo. Ông xuống xe trở lại chỗ cũ. Ông thấy cậu bé đang vất vả mò tìm từng trái táo để lượm lại. Thì ra cậu bị mù ! Tội nghiệp quá, ông giúp cậu lượm lại từng quả cho đến hết. Một số quả đã bị giập. Ông móc túi dúi vào tay cậu bé một món tiền, rồi ra đi. Cậu bé bán táo hỏi với theo "Ông có phải là Chúa Giêsu không ?"

Theo một nghĩa nào đó, ông ta là Chúa Giêsu. Thời nay đang cần có nhiều Chúa Giêsu như thế.

b/ Đối phó với Đấng Messia

Ngày kia đang lúc trời mưa như trút nước, một người chủ nông trại giàu có từ đồng trở về nhà và than phiền với giọng đầy lo lắng :

- Rebecca, nghe đâu trong thành người ta đang kể một câu chuyện kinh khủng lắm : Đấng Messia đã đến giữa chúng ta !

Người vợ hỏi :

- Có gì mà kinh khủng hả ? Tôi tưởng đó là chuyện tuyệt vời chứ. Sao mà ông hoảng hốt vậy ?

Người chồng lớn tiếng than :

- Tôi hoảng hốt ư ? Sao biết bao năm trời vất vả lao nhọc, chúng ta mới được giàu có với bầy súc vật hàng ngàn con, với những kho lẫm đầy ắp và cây cối nặng trĩu quả. Thế mà, bà biết không, chúng ta sắp phải bỏ hết để đi theo Ngài.

Bà vợ ôn tồn như muốn an ủi ông :

- Thôi, bình tĩnh đi ông. Chúa là Thiên Chúa nhân lành. Ngài biết rõ người do thái chúng ta đã luôn luôn phải chịu đau khổ, chúng ta phải đương đầu với Pharaon, Haman, Hitler… nghĩa là luôn luôn với một kẻ nào đó. Nhưng Thiên Chúa chúng ta đã có cách đối phó với họ mà, phải không ? Thế thì Ngài cũng có cách đối phó với Đấng Messia chứ ! (Anthony de Mello, Lời kinh của Con Ếch)

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Đức Giêsu Kitô, Ngôi hai Thiên Chúa, sắp ngự xuống trần gian. Người sẽ mang đến cho nhân loại đang đau khổ vì chiến tranh ơn hòa bình, đang oằn oại trong tội lỗi ơn giải thoát, đang sống trong bất hạnh được hạnh phúc tràn đầy. Chúng ta cùng chung lời cảm tạ Chúa và tha thiết khẩn cầu :

1- Sứ mạng cao cả của Hội Thánh / là rao giảng Tin Mừng cứu độ cho các dân tộc. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho việc rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh / luôn đạt nhiều kết quả tốt đẹp.

2- Trên thế giới ngày nay / việc phân bố tài nguyên các quốc gia không đồng đều / vì có những nước quá giàu / trong khi đó có những nước quá nghèo. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những nước giàu / biết quan tâm giúp đỡ một cách vô vị lợi / những nước chậm phát triển / cách riêng những nước mà một phần lớn dân chúng sống dưới mức tối thiểu.

3- Trong cuộc sống thường ngày / có một số người tôn thờ cá nhân chủ nghĩa / chỉ lo sống hưởng thụ ích kỷ. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho người kitô hữu hiểu rằng / không ai sống cho mình / mà là sống cho Chúa và sống vì người khác / vì không ai là một hòn đảo trong đại dương bao la của cuộc đời này.

4- Ngày xưa / Đức Giêsu đã chinh phục người khác bằng tình thương hy sinh / bằng việc phục vụ hết lòng. / Ngày nay / Người đòi hỏi các kitô hữu cũng phải sống như Người. / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho mọi người trong giáo xứ chúng ta / biết yêu thương / tôn trọng / và giúp đỡ những người chung quanh mình / nhất là những ai đói nghèo / túng thiếu và đang gặp đau khổ.

CT : Lạy Chúa là Cha từ bi nhân hậu, xin cho chúng con biết kiên trì tỉnh thức mà chờ đợi Ngôi Hai Con Chúa giáng trần, và biết cầm đèn cháy sáng trong tay mà hăm hở đón Người đang ngự đến. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Kinh Tiền Tụng : nên dùng Kinh Tiền Tụng Mùa Vọng II vì nó nhấn mạnh đến vai trò của Gioan Tẩy Giả và diễn tả niềm vui của tín hữu đang khi chờ đợi lễ Giáng sinh.

- Kinh Nguyện Thánh Thể : nên dùng KNTT 4, nhấn mạnh một số nơi :

. (Cuối đoạn 3) : "… Người đã loan Tin Mừng cứu độ cho người nghèo khó, công bố ơn giải thoát cho kẻ tù đày, đem lại niềm vui cho những ai sầu khổ."

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy tha thiết dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha, xin cho Nước Ngài mau trị đến, để lấp đầy những khát vọng của những kẻ nghèo hèn là con cái đích thực của Ngài.

VII. GIẢI TÁN

Đức Giêsu đã nói với các môn đệ của Thánh Gioan Tẩy giả : "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các anh nghe và thấy". Giờ đây, anh chị em sắp trở về với cuộc sống xã hội, Đức Giêsu cũng nói với anh chị em : Hãy đi thuật lại cho mọi người những gì mà trong Thánh lễ này Chúa đã cho anh chị em được nghe và được thấy.

CHÚA NHỰT 4

CHỦ ĐỀ :

ĐG KITÔ CHÍNH LÀ EMMANUEL "THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA"

 

 

"Giuse đón vợ về nhà"

(Mt 1,24)

Sợi chỉ đỏ :

- Ngôn sứ Isaia báo cho vua Achaz về một nhân vật mệnh danh là Emmanuel (Bài đọc I)

- Tv 23 bày tỏ niềm tin tưởng Thiên Chúa sẽ đến như một vị Vua vinh hiển (Đáp ca)

- Đức Giêsu chính là Emmanuel mà Isaia đã tiên báo (Tin Mừng)

- Thánh Phaolô khẳng định Đức Giêsu thực hiện những lời tiên tri xưa (Bài đọc II)

Minh họa

   - Hình : Mille images, 12 D

   - Câu Thánh Kinh : "Giuse đón vợ về nhà" (Mt 1,24)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Trong suốt Mùa Vọng, chúng ta mong chờ Đức Giêsu đến. Nhưng chúng ta mong chờ Ngài mang gì đến cho chúng ta : Tiền bạc chăng ? Thành công chăng ? Sức khoẻ chăng ?

Lời Chúa hôm nay trả lời rằng : Ngài mang đến cho chúng ta chính bản thân Ngài, bởi vì Ngài là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đó là điều quý báu nhất và bao gồm tất cả mọi điều báu.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy nguyện "ở với" Chúa cũng như Ngài đã "ở với" chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Đức Giêsu đã bỏ trời xuống thế để ở với loài người chúng ta. Nhưng lắm khi chúng ta quên mất Ngài, không hề nhớ tới Ngài.

- Đức Giêsu ngự trong Nhà Tạm để chúng ta dễ đến với Ngài. Nhưng rất ít khi chúng ta đến đó để gặp Ngài.

- Chúng ta không "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" với Đức Giêsu trong cuộc sống hằng ngày.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 7,10-14) :

Khi ấy vương quốc Giuđa đang bị đế quốc Assyria đe dọa. Ngôn sứ Isaia khuyên vua Achaz đừng sợ, hãy trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Nhưng vua Achaz hoài nghi. Để khuyến khích nhà vua thêm tin tưởng, Isaia cho nhà vua một dấu chỉ : "Này đây một phụ nữ sẽ thụ thai, sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở với chúng ta".

Lời tiên tri này trước tiên ứng vào hoàn cảnh của vua Achaz : Quả thực sau đó hoàng hậu vợ vua Achaz ("phụ nữ") đã thụ thai và sinh cho nhà vua một thái tử. Việc sinh ra thái tử là dấu chỉ chứng minh rằng Thiên Chúa sẵn sàng phù hộ cho vua Achaz nếu ông thực lòng trông cậy nơi Ngài ("Thiên Chúa ở cùng chúng ta").

Về sau người ta đã hiểu rộng hơn và coi đây là lời tiên tri về Đấng Messia sẽ đến. Người ta còn tin rằng Đấng Messia ấy sẽ do một trinh nữ sinh ra. Vì thế bản dịch 70 bằng tiếng hy lạp đã dùng chữ "trinh nữ" thay vì chữ "phụ nữ".

2. Đáp ca (Tv 23) :

Tv 23 được dùng trong những cuộc hành hương lên đền thờ Giêrusalem. Người ta ý thức rằng Thiên Chúa chính là Vua vinh hiển ; và chỉ những ai có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch mới xứng đáng đến trước nhan Ngài.

Quan niệm này đúng. Nhưng đến thời Tân Ước (như bài Tin Mừng sẽ cho ta thấy), Thiên Chúa sẽ ưu ái loài người đến nỗi bỏ qua đòi hỏi trên : chẳng những không đòi những người muốn đến với Ngài phải có tay sạch lòng thanh, Ngài còn hạ cố xuống với loài người để thành Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

3. Tin Mng (Mt 1,18-24) :

Đức Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa đã sinh ra, làm một con người như mọi người : có mẹ là một người nữ mang tên Maria, cha là một bác thợ mộc tên là Giuse.

Nhưng thiên thần Gabriel cho thánh Giuse biết những đặc tính thiêng linh của Đức Giêsu : Ngài được thụ thai là "bởi phép Chúa Thánh Thần", Ngài đến trần gian là "để cứu dân mình khỏi tội".

Thánh Matthêu hiểu rằng việc này làm ứng nghiệm lời tiên tri của ngôn sứ Isaia : Đức Giêsu chính là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

4. Bài đọc II (Rm 1,1-7) :

Thánh Phaolô muốn tín hữu Rôma hiểu rõ về Đức Giêsu : Tuy Ngài đã sinh ra "theo huyết nhục", nhưng nguồn gốc của Ngài rất cao sang vì Ngài "bởi dòng Đavít", "đã được tiền định là Con Thiên Chúa", và "đã sống lại từ cõi chết".

Từ ý thức đó, Thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy sung sướng vì được thuộc về một Đấng cao sang như thế : "Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta", đồng thời cũng hãy sung sướng với ơn gọi của mình : "Anh em là những người mà Chúa Giêsu Kitô đã kêu gọi".

V. GỢI Ý GIẢNG

1. Ch cn mt so sánh tm thường

Đức Giêsu là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Chỉ cần một so sánh rất tầm thường, chúng ta sẽ thấy đó là một ơn rất to lớn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta :

Tôi có một người bạn vừa tốt vừa đa tài đa năng. Mỗi khi có chuyện gì cần, tôi gọi thì anh đến và anh giúp tôi giải quyết rất tốt đẹp. Tôi sung sướng lắm. Nhưng nhiều khi tôi đang cần mà anh lại đang đi vắng xa nên không giúp gì cho tôi được. Khi đó tôi ao ước : phải chi người bạn ấy luôn ở với tôi !

Chúa Giêsu hơn người bạn ấy rất nhiều : Ngài không chỉ là một con người mà còn là Thiên Chúa. Ngài không chỉ đa tài đa năng mà còn là toàn tài toàn năng. Ngài nói "Này Ta ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế". Ngài đúng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Còn gì quý hơn !

2. Thế nào là mt Tin Mng ?

Một tin chỉ là Tin Mừng khi nó đáp ứng một ước mong mà người ta chờ đợi. Thí dụ chén cơm là tin mừng cho người đang đói, mùa gặt bội thu là tin mừng cho người nông dân đã khổ công cấy cày. Nếu không ước mong đợi chờ thì chẳng có tin mừng : chén cơm không phải là tin mừng cho người đã no, mùa gặt cũng chẳng là tin mừng cho người không làm ruộng.

Thánh Phaolô nói với tín hữu Rôma rằng ngài mang đến cho họ một Tin Mừng, đó là Thiên Chúa đã ban Con của Ngài cho loài người. Và tín hữu Rôma đã vui mừng vì họ có được một Đức Chúa cao cả quyền năng hơn các thần thánh nhan nhãn trong các đền thờ ở Rôma.

Lẽ ra sống trong Mùa Vọng thì phải mong chờ Chúa. Nếu ta không mong chờ Chúa thì việc Chúa Giáng sinh không là Tin Mừng cho ta gì cả.

3. Chúa cùng chúng con

Lạy Chúa, tên Chúa là Emmanuel, Chúa ở cùng chúng con.

Nhưng đã có biết bao người lấy danh thánh Chúa khắc vào dây lưng, hùng hùng hổ hổ xông ra trận để chém giết anh em đồng loại ! Biết bao người đã đi tàn sát nhân danh Chúa, tuy họ không xâm tên Chúa vào ngực hay khắc vào dây nịt.

Chúa ở với chúng con để kéo chúng con ra khỏi tội lỗi, chứ không phải làm cớ cho chúng con bênh vực mình, bênh vực những hành vi tội lỗi của mình.

Chúa ở với chúng con để giúp chúng con vượt qua những chướng ngại trên con đường đi tìm công lý và tình huynh đệ, chứ không phải để dẫn chúng con đến những quần đảo thoát ly.

Chúa hãy ở với chúng con những khi vì sợ hãi, chúng con ngừng bước hay lui bước. Chúa hãy ở với chúng con khi vì lơ đễnh chúng con đi lạc đàng chính nẻo ngay.

Thân lạy Emmanuel, xin Chúa hãy luôn ở cùng chúng con ! (Trích Công giáo và Dân tộc, số đặc biệt giáng sinh 1998)

4. Chun b L Giáng sinh

Ngày nay thói quen mừng lễ Giáng sinh có thể nói là rất phổ biến : hầu hết mọi người trên thế giới, dù là người có đạo hay không có đạo, cũng đều quen mừng lễ Giáng sinh. Tuy nhiên, hầu như ai ai cũng coi đây là một dịp lễ vui, có nhiều hoa đèn, nhiều tiếng thánh ca. Trong dịp lễ Giáng sinh người ta cũng sáng tác nhiều tiêu phẩm văn nghệ rất cảm động nhưng qua đó ta thấy được khía cạnh mỉa mai là lễ Giáng sinh đã không được mừng đúng ý nghĩa. Có một tiểu phẩm kể chuyện một em bé gái nghèo, đêm Giáng sinh phải co ro lặn lội trong sương tuyết để bán từng hộp que diêm, trong khi đó thì xa xa vọng lại tiếng hát thánh ca réo rắt ; một tiểu phẩm khác kể chuyện một tên ăn trộm coi lễ Giáng sinh là dịp tốt để hành nghề, nó biết đêm đó nhà giàu nào cũng có nhiều bánh trái, cho nên nó đợi đến lúc người ta di dự lễ ở nhà thờ để lẻn vào ăn trộm, và xa xa vọng lại cũng những hồi chuông giáng sinh rộn rã.

Cũng có một tác phẩm tuy không nói về lễ Giáng sinh nhưng cũng mang cùng một ý nghĩa. Đây là một chuyện phim tưởng tượng. Đạo diễn tưởng tượng có một Đức Giáo hoàng vì chán cảnh lễ nghi rườm rà trong Tòa Thánh Vatican nên nhân một dịp đi lạc khỏi Tòa Thánh, đã đi luôn vào sống ở một ngôi làng nghèo. Làng này đang bị bệnh dịch hoành hành nên bị cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài, lương thực khan hiếm. Trong làng có một cái cối dùng sức gió để cung cấp nước, nhưng cối gió đã hư và không ai sửa. Nếp sống quá khổ cực khiến người ta không đến nhà thờ nữa, nhà thờ bị hoang phế, và chính vị Linh mục coi sóc nhà thờ đó cũng chán nản hồi tục đi làm nghề chăn cừu. Đức Giáo hoàng đã cùng với dân làng đi moi đống rác, tiếp xúc với những trẻ em lang thang bụi đời, và động viên người ta cùng Ngài sửa lại cái cối xay nước. Sau một thời gian làm việc vất vả với rất nhiều khó khăn, cái cối xay gió ấy đã được sửa chữa và hoạt động lại. Cho tới lúc đó dân làng mới biết Ngài chính là Giáo hoàng. Và Ngài giã từ họ trở về Tòa Thánh. Cuốn phim kết thúc với cảnh Đức Giáo hoàng chủ tọa một Thánh lễ có rất đông người tham dự, đặc biệt trong số đó có dân chúng của cái làng nghèo khổ kia và cả vị Linh mục nữa, vị Linh mục này đã trở về với đoàn chiên giáo dân của mình. Chắc chúng ta hiểu được ngụ ý của đạo diễn : Nếu giáo hội chỉ thu mình trong các lễ nghi ở nhà thờ thì dần dần Giáo hội sẽ xa lìa quần chúng và quần chúng cũng xa lìa Giáo hội. Còn Giáo hội dấn thân phục vụ những nhu cầu thiết thực của quần chúng thì quần chúng sẽ đến vây quanh Giáo hội.

Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh là Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Giáo Hội cũng phải là Emmanuel. Và mỗi tín hữu cũng phải là Emmanuel.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Sau lời truyền tin của sứ thần Gabriel và lời đáp "Xin vâng" của Trinh nữ Maria, Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Mẹ. Tin tưởng vào tình thương của Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

1- Hội Thánh là dấu chỉ tình thương cứu độ của Chúa đối với nhân loại. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần trong Hội Thánh / biết luôn cố gắng sống bác ái yêu thương / để trở nên khí cụ Chúa dùng đem tình thương đến cho mọi người.

2- Hiện tại / sự xuất hiện của nhiều giáo phái kỳ bí là một thảm họa cho nhân loại / vì họ dạy những điều sai trái. / Nhưng đáng tiếc là có nhiều người gia nhập các giáo phái này / và bị khống chế chặt chẽ. / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho mọi người / cách riêng là những người kitô hữu trẻ / biết luôn cảnh giác trước những lời quyến rũ đường mật của các giáo phái này.

3- Khủng hoảng đức tin / đặc biệt trong giới trẻ / là một vấn đề lớn đang khiến các bậc mục tử lo âu nhiều nhất. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn tìm được những phương thế thích hợp / nhằm giúp giới trẻ học hỏi sâu rộng giáo lý của Chúa / nhờ đó giữ vững được đức tin của mình.

4- "Xin vâng theo Thánh ý Chúa" / Đây phải là câu tâm niệm / là lời nguyện tắt hằng ngày của người kitô hữu. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết mau mắn đáp "Xin vâng" trong mọi tình huống của cuộc sống / nhất là khi gặp khó khăn / đau khổ trong đời sống thường ngày.

CT : Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa hứa ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế. Xin luôn nâng đỡ chúng con trong mọi cơn thử thách, cùng đồng hành với chúng con trong cuộc sống, nhờ đó chúng con luôn tin yêu, gắn bó và dấn thân theo Chúa đến cùng dù gặp bao sóng gió phũ phàng trên đường đời. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Kinh nguyện Thánh Thể : Nên dùng mẫu số 4, nhấn mạnh đến vai trò Đức Maria :

. (Đoạn 3) : "Lạy Cha chí thánh, Cha quá yêu thương thế gian… Người đã nhập thể bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, và được Đức Trinh nữ sinh ra, đã sống trọn thân phận con người như chúng con…"

- Trước kinh Lạy Cha : Hợp ý với Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa Cha lời kinh Lạy Cha.

- Trước lúc Rước lễ : "Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng Emmanuel đến ở với loài người chúng ta để xóa tội trần gian. Phúc cho ai…"

VII. GIẢI TÁN

Chúa Giêsu là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúng ta cũng hãy nhớ luôn ở cùng Ngài trong mọi việc làm, lời nói và ý tưởng.

LỄ GIÁNG SINH
(lễ đêm)

(Lễ Rạng đông : xem trong quyển Năm B ;
Lễ Ban ngày : xem trong quyển Năm C)

CHỦ ĐỀ :

HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ
ĐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA

 

 

"Bà sinh con trai đầu lòng"

(Lc 2,7)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I là lời tiên tri của Isaia về việc Thiên Chúa ban Người Con của Ngài cho nhân loại.

- Bài đáp ca hát mừng ơn ban cao quý ấy : "Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta."

- Bài Tin Mừng loan báo Người Con ấy đã sinh ra : "Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta."

- Bài đọc II khẳng định việc Con Thiên Chúa sinh ra là một Ân sủng Thiên Chúa ban cho mọi người : "Ân sủng của Chúa đã đến với mọi người."

Minh họa

   - Hình : Mille images, trang 35

- Câu Thánh Kinh : "Bà sinh con trai đầu lòng" (Lc 2,7)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Sau mấy tuần chuẩn bị, đêm nay chúng ta cử hành lễ mừng Chúa giáng sinh. Một đứa trẻ yếu ớt sinh ra trong máng cỏ, trong hang súc vật. Nhưng đứa trẻ ấy chính là Chúa Cứu Thế. Là một vị Thiên Chúa, Ngài đã nhập thể làm người để cứu độ chúng ta. Đó là một hồng ân to lớn. Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa.

Nhưng chúng ta cũng hãy ý thức rằng, việc Chúa Cứu Thế sinh ra tại hang đá Bêlem sẽ chẳng ích lợi gì cho chúng ta nếu như Ngài không sinh ra trong chính tâm hồn chúng ta. Vậy chúng ta cũng hãy mở rộng cửa lòng để cho Ngài đến và cư ngụ với chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Trong Mùa Vọng, chúng ta chỉ lo chuẩn bị bề ngoài mà chưa chuẩn bị tâm hồn cho đủ để xứng đáng đón rước Chúa.

- Chúa Cứu Thế đã mang lấy thân phận của một người nghèo. Vậy mà từ trước tới nay chúng ta thường coi khinh những người nghèo.

- Chúa Cứu Thế là ánh sáng của sự lành và sự thiện. Vậy mà từ trước tới nay nhiều lần chúng ta trốn lánh ánh sáng để ngụp lặn trong bóng tối của tội lỗi.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 9,2-7) :

Bối cảnh lịch sử : Dân Israel đang sống một thời kỳ hãi hùng : quân đội Assyria đã càn quét đất nước, đâu đâu cũng toàn cảnh điêu tàn đổ nát ; dân chúng rên siết dưới ách thống trị bạo tàn của ngoại bang : "Dân tộc bước đi trong u tối".

Nhưng giữa bóng tối hãi hùng đó, Isaia tiên báo một thời tươi sáng. Vì tin chắc tương lai tươi sáng ấy sẽ tới, nên tuy nói về tương lai nhưng Isaia đặt những động từ ở thì quá khứ, kể như sự việc đã xảy đến rồi : "Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết… Cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức, Chúa đã nghiền nát ra… Bởi lẽ một hài nhi đã sinh ra cho chúng tôi và một người con đã được ban tặng cho chúng tôi".

Lời tiên tri của Isaia đã được ứng nghiệm khi Israel thoát khỏi ách thống trị của Assyria. Nhưng lời tiên tri này còn mang một chiều kích phổ quát hơn nhiều : sự cứu thoát ấy chỉ sẽ được thực hiện trọn vẹn nơi Đấng Messia.

2. Đáp ca (Tv 95) :

Tv 95 này là một bài ca diễn tả niềm hân hoan trào tràn đến tột độ : Con người bày tỏ niềm hân hoan bằng hát ca, nhảy múa. Con người còn kêu mời cả trái đất, biển khơi và các tầng trời chia sẻ niềm hân hoan của mình. Lý do của sự vui mừng to lớn ấy là vì Thiên Chúa đã đến.

3. Tin Mng (Lc 2,1-14) :

Giây phút quan trọng mà loài người mong chờ mấy ngàn năm đã điểm : Đấng Cứu Thế đã sinh ra. Điều đặc biệt là Ngài sinh ra một cách rất âm thầm, khiêm tốn và nghèo nàn : Bêlem nhỏ bé, máng cỏ, hang súc vật…

Dù vậy cả đạo binh thiên quốc hát mừng. Các ngài nói rằng đó là một tin mừng đặc biệt.

Và Tin Mừng đặc biệt này được gởi đến trước tiên cho những người chăn chiên nghèo khổ.

4. Bài đọc II (Tt 2,11-15) :

Trong một đoạn thư rất ngắn chỉ có 5 câu, Thánh Phaolô vạch cho Titô thấy cả một "lịch sử cứu độ" rất dài gồm 3 giai đoạn :

- Giai đoạn khởi đầu là tình thương bao la của Thiên Chúa : Ngài đã ban Đức Giêsu cho loài người. Đức Giêsu chính là "ân sủng" của Thiên Chúa.

- Giai đoạn sẽ đến là lúc Đức Giêsu lại xuất hiện trong vinh quang trong ngày Ngài trở lại. Khi ấy Đức Giêsu là "vinh quang" của Thiên Chúa.

- Giữa hai giai đoạn ấy là cuộc sống của người tín hữu : để đáp lại "ân sủng" của Thiên Chúa lúc khởi đầu, và để xứng đáng chia phần "vinh quang" trong ngày sau hết, tín hữu phải : "từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức".

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Ánh sáng bng lên trong đêm ti

Tại sao Thánh Lễ chính của Lễ Giáng sinh được cử hành ban đêm ? Phải chăng vì đó là thời gian thuận tiện cho giáo dân dự lễ ? Phải chăng vì bầu khí ban đêm làm cho cuộc lễ thêm phần huyền diệu và thánh thiện (như lời ca "đêm thánh vô cùng") ? Phải chăng để cho đúng với sự kiện lịch sử ngày xưa Chúa Giêsu sinh ra ban đêm ?

Các lý do trên đều có phần đúng. Nhưng lý do căn bản nhất là : Chúa Giêsu là ánh sáng, Ngài sinh xuống trần gian như Ánh sáng bừng lên trong đêm tối.

Đêm tối tượng trưng cho tội lỗi, bất hạnh, buồn sầu ; Ánh sáng tượng trưng cho ân sủng, hạnh phúc, mừng vui.

Khi sinh xuống trần gian, Chúa Giêsu mang lấy trên mình tất cả tăm tối của loài người với bao tội lỗi, bất hạnh và buồn sầu, nhưng để ban lại cho loài người ánh sáng của Thiên Chúa bao gồm mọi ân sủng, hạnh phúc và mừng vui.

Thực ra, những sử gia còn chưa xác định được Chúa Giêsu sinh ra vào ngày nào tháng nào. Nhưng Giáo Hội đã chọn ngày 25 tháng 12 để cử hành Lễ sinh nhật của Ngài vì hai lý do : a/ Đây là ngày mà mặt trời chiếu sáng nhất và là ngày dài nhất trong năm ; b/ xưa kia ngày này là lễ mừng Thần Mặt trời của người rôma ngoại giáo. Giáo Hội muốn chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu chính là Mặt Trời đích thực đánh tan tối tăm của tội lỗi và sự gian tà.

2. L ca người giàu hay ca người nghèo ?

Trong dịp Lễ Giáng sinh, người ta chi tiêu rất nhiều : trang hoàng, tiệc mừng, thiệp chúc, quà tặng… Xem ra đây là lễ của người giàu.

Nhưng Đấng mà người ta mừng sinh nhật thì rất nghèo : cỏ rơm, hang súc vật, tả lót sơ sài… Những khách mời ưu tiên cũng là những người chăn chiên nghèo… Dấu chỉ mà thiên thần cho những người chăn chiên ấy dựa vào để nhận ra Chúa cũng là dấu hiệu nghèo : "Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài : các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ". Vậy đây phải là lễ của người nghèo mới đúng.

Để cho Lễ Giáng sinh có ý nghĩa nghèo, người ta tổ chức thăm viếng, tặng quà, khám bệnh, phát thuốc cho người nghèo…

Thực ra tất cả những việc ấy chỉ mặc cho lễ Giáng sinh một chút dáng vẻ nghèo mà thôi. Tinh thần nghèo của Lễ Giáng sinh và của Đấng giáng sinh phải thấm sâu vào và thể hiện ra :

- bằng một lập trường sống không thượng tôn tiền bạc như chúa tể.

- bằng một thái độ đối xử tôn trọng và yêu thương người nghèo.

- bằng một cách nhìn mới hẳn, thấy chính Chúa trong người nghèo : "Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài : các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ".

3. Khi đầu ca mt cuc cách mng

Những cuộc cách mạng thường khởi đầu một cách rất rầm rộ.

Biến cố Chúa Giêsu giáng sinh khởi đầu cho một cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong tất cả các cuộc cách mạng. Tuy nhiên sự khởi đầu này rất im lìm, nhỏ bé, bình thường : một đứa trẻ con nhà nghèo, sinh ra trong thiếu thốn, vào thời điểm âm thầm giữa đêm khuya, tại một nơi hẻo lánh hiu quạnh.

Nhưng suy cho kỹ thì sẽ thấy khởi đầu như vậy mới đúng hướng và vững chắc, vì điều mà Thiên Chúa muốn làm cách mạng thay đổi chính là cách sống ồn ào, vật chất, cao ngạo, tham lam.

Rồi đây, nhà cách mạng Giêsu sẽ tiếp tục lớn lên trong khiêm hạ, sẽ chiêu mộ những đệ tử khiêm hạ, rao giảng một Tin Mừng khiêm hạ… Cuộc cách mạng của Ngài sẽ biến đổi cả thế giới.

Cuộc cách mạng của mỗi người chúng ta cũng phải bắt đầu như thế.

4. Vài mu chuyn Giáng sinh

a/ Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta

Một người kia không thể nào tin được việc Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang mà xuống thế mang lấy thân phận con người hèn hạ. Vì thế, đêm lễ Giáng sinh ông không cùng vợ con đi nhà thờ dự lễ, mà ở lại nhà.

Sau khi vợ con đã ra đi được một lúc thì trời bắt đầu đổ tuyết. Ông thầm nghĩ : đêm nay lễ Giáng sinh, ước gì tuyết rơi trắng hết mọi nơi. Một lúc sau, ông nghe một tiếng sột soạt, rồi tiếp theo là một tiếng nữa, và nhiều tiếng nữa, giống như có ai đó ném tuyết vào cửa sổ. Ông mở cửa nhà bước ra xem. Thì ra là một đàn chim đang lao đao trong mưa tuyết muốn bay vào cửa sổ nhà ông để tìm chỗ trú.

- "Tội nghiệp những chú chim nhỏ bé. Mình phải tìm cách giúp chúng mới được". Ông chợt nghĩ đến nhà kho của mình. Ông mặc áo ấm vào, đi ra cái kho sau nhà, mở cửa và gọi chúng vào. Nhưng bầy chim vẫn đứng im.

- "Hay là chúng không thấy lối". Ông bật đèn nhà kho lên. Rồi trở ra gọi chúng. Chúng vẫn đứng im.

- "Lạ thế ! Hay mình đi lùa chúng vào". Thế là ông đi đến chỗ cửa sổ, đưa tay lùa. Lũ chim chẳng những không bay theo hướng ông lùa, mà còn bay trốn tán loạn.

Cuối cùng ông mới hiểu ra : "Chúng sợ mình, vì chúng lạ với mình. Phải chi mình giống như chúng thì khi mình đến gần chúng sẽ không sợ nữa."

Đúng lúc đó, một lời Tin Mừng từ nhà thờ vọng đến tai ông : "Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta". Ông quỳ gối xuống và thưa : "Lạy Chúa, bây giờ con đã hiểu tại sao Chúa giáng sinh làm người như chúng con".

b/ Món quà giáng sinh

 Một đôi vợ chồng trẻ, Gim và Đêla, tuy nghèo tiền của nhưng rất giàu tình thương đối với nhau. Giáng sinh sắp tới, Đêla tự hỏi phải tặng Gim món quà gì đây. Nàng muốn tặng chàng sợi dây cho chiếc đồng hồ của chàng. Nhưng nàng không có đủ tiền để mua. Vì thế nàng nẩy sinh một sáng kiến : Nàng có bộ tóc dài rất đẹp, nàng rất quý nó và rất hãnh diện vì nó. Nàng quyết định cắt ngắn bộ tóc và đem bán để mua cho Gim sợi dây đồng hồ.

 Hôm áp lễ giáng sinh, từ phố về, nàng cầm trong tay một chiếc hộp rất đẹp đựng sợi dây đồng hồ mạ vàng mà nàng vừa sắm được bằng mái tóc của mình. Bỗng nhiên Đêla cảm thấy lo lắng. Nàng biết Gim rất quý mái tóc dài của nàng. Nàng tự hỏi không biết Gim có buồn vì nàng cắt và bán nó đi hay không. Về tới nhà, Đêla mở cửa và thấy Gim đang đợi nàng. Tay chàng cầm một cái hộp thật đẹp đựng món quà chàng mới mua cho nàng. Khi nhìn thấy mái tóc ngắn của vợ, Gim như muốn khóc, nhưng chàng không nói gì cả. Cố trấn tỉnh, chàng trao cho nàng chiếc hộp xinh xắn. Mở hộp ra, Đêla rất đỗi bàng hoàng. Trong hộp là một bộ lược chải tóc bằng xà cừ rất đẹp. Còn chàng, khi mở món quà vừa nhận được từ tay vợ, Gim cũng ngỡ ngàng không kém. Chính lúc đó Đêla mới nhận ra rằng Gim đã bán chiếc đồng hồ vàng, món đồ quý nhất của anh, để mua lược chải tóc tặng nàng. Phút chốc cả hai đều hiểu rằng họ đã tặng nhau những gì quý giá nhất. Họ đã hy sinh tất cả cho nhau. (Trích "Món quà Giáng sinh" )

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Vì yêu thương nhân loại, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ trời xuống thế làm người, ở cùng chúng ta và chia sẻ mọi vui buồn của chúng ta. Với tâm tình cảm tạ tri ân Thiên Chúa là Tình yêu, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1- Khi giáng sinh làm người / Đức Kitô đã khai mạc một kỷ nguyên mới / kỷ nguyên thái bình thịnh vượng mà các ngôn sứ loan báo thuở xưa. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh Chúa luôn tươi trẻ / hầu có thể thích nghi với mọi thời đại.

2- Đức Kitô đã mang thân xác yếu hèn của nhân loại khi xuống thế làm người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho người mù được thấy / kẻ đau yếu mau lành bệnh / và những tâm hồn đau khổ được an vui.

3- Đức Kitô đã sinh ra trong cảnh nghèo hèn tại hang Bêlem. / Chúng ta hiệp lời cầu xin Người an ủi / nâng đỡ những ai đói rách bần cùng.

4- Đức Kitô giáng sinh mang sứ điệp yêu thương và vui tươi đến cho nhân loại. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết chia sẻ tình thương và niềm vui / với những người nghèo khổ, bất hạnh đang sống chung quanh mình.

CT : Lạy Chúa Giêsu là Chúa hòa bình, là Vua tình thương. Chúa đang ngự giữa chúng con để an ủi, nâng đỡ và khích lệ chúng con bước theo chân Chúa. Xin cho tình thương hải hà của Chúa luôn hướng dẫn chúng con trong cuộc hành trình về quê trời. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Sau kinh Lay Cha, Chủ Tế chêm vào vài lời nhấn mạnh đến sứ điệp lễ Giáng sinh :

"Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, nhất là sự dữ phải sống trong bóng tối của tội lỗi, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an, sự bình an cho những người thiện tâm mà thiên thần Chúa hát mừng trong đêm Chúa giáng sinh. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp…."

- Chúc bình an : Trong đêm Chúa giáng sinh, các thiên thần đã hát "Bình an dưới thế cho người thiện tâm". Chúng ta hãy chúc cho nhau được bình an và cầu cho nhau trở thành những kẻ thiện tâm.

VII. GIẢI TÁN

Dùng công thức ban phúc lành cuối lễ long trọng của lễ Giáng sinh (Sách lễ Rôma, xuất bản 1992, trang 576)

LỄ THÁNH GIA

CHỦ ĐỀ :

THÁNH GIA NADARÉT
LÀ GƯƠNG MẪU CỦA MỌI GIA
ĐÌNH

 

 

"Giuse đưa Hài nhi và Mẹ Người trốn sang Ai cập"

(Mt 2,14)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : Ai kính sợ Chúa thì thảo kính cha mẹ.

- Đáp ca : Kẻ kính sợ Chúa thì được hưởng hạnh phúc gia đình.

- Tin Mừng : Gương Thánh Giuse gia trưởng.

- Bài đọc II : Sống hòa thuận trong gia đình.

Minh họa

   - Hình : Mille images 44 C hoặc D hoặc E

   - Câu Thánh Kinh : "Giuse đưa Hài nhi và Mẹ Người trốn sang Ai cập" (Mt 2,14)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Lễ Thánh Gia hôm nay rất có ý nghĩa đối với người Việt Nam chúng ta vốn coi trọng gia đình và các giá trị gia đình.

Lời Chúa hôm nay tuy chưa liệt kê đầy đủ mọi đức tính phải có trong cuộc sống gia đình, nhưng những đức tính được đề cập tới đều rất quan trọng.

Trong Thánh lễ đặc biệt này, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn để đón nhận giáo huấn của Lời Chúa, và tha thiết cầu xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng ta xây dựng gia đình mình theo gương mẫu Thánh gia Nadarét.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta đã thiếu sót rất nhiều trong bổn phận làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm con, làm anh chị em trong gia đình.

- Chúng ta đã cố gắng rất nhiều để lo cho gia đình về phương diện vật chất, nhưng chưa cố gắng đủ để lo cho gia đình về phương diện tinh thần và đạo đức.

- Gia đình chúng ta chưa là một nắm men, một hạt muối, một ngọn đèn sáng trong khu xóm.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Hc 3,2-14) :

Đoạn sách Huấn Ca này đặc biệt nhấn mạnh đến bổn phận con cái phải thảo kính cha mẹ.

Nền tảng của việc thảo kính cha mẹ là chính ý muốn của Thiên Chúa : "Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái, quyền lợi người mẹ Ngài củng cố trên đàn con".

Thảo kính cha mẹ sinh ra rất nhiều ơn ích :

- đền bù tội lỗi, thu được một kho tàng, làm cho cha mẹ vui, sống lâu

- khi cầu xin sẽ được Thiên Chúa nhậm lời

- sau này đến lượt mình có con cái thì sẽ được chúng hiếu thảo

2. Đáp ca (Tv 127) :

Tác giả Tv 127 coi việc kính sợ Chúa là nguồn mọi hạnh phúc gia đình :

- những lao công khó nhọc sẽ sinh kết quả

- được vợ hiền con ngoan

- hạnh phúc suốt đời

3. Tin Mng (Mt 2,13-15.19-23) :

Trong bức tranh vẽ cảnh gia đình Nadarét, có hai nét đáng lưu ý hơn cả :

a/ Vai trò nổi bật của người gia trưởng : vai người mẹ Maria và người con Giêsu đều mờ nhạt để làm nổi bật hẳn lên vai người gia trưởng Giuse. Người gia trưởng này tuy âm thầm nhưng rất tận tuỵ lo lắng chăm sóc mọi người trong gia đình. à Một gia đình hợp nhất quanh người gia trưởng.

b/ Nhưng bên trên vai trò người gia trưởng, còn một vai khác quan trọng hơn, đó là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa dẫn dắt cuộc sống gia đình Nadarét qua đại diện của Ngài là gia trưởng Giuse. à Thiên Chúa là gia trưởng tối cao của gia đình.

4. Bài đọc II (Cl 3,12-21) :

Thánh Phaolô liệt kê những đức tính phải có trong cuộc sống gia đình : từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau.

Trong các đức tính ấy, Thánh Phaolô đặc biệt lưu ý đến việc tha thứ cho nhau. Ngài kêu gọi các phần tử trong gia đình hãy tha thứ cho nhau theo gương và theo mức độ của chính Chúa Giêsu : "Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau".

Và để có thể thực hiện các đức tính ấy, phải có một nhân đức làm nền, đó là đức yêu thương.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Vai trò người cha

Đương nhiên người cha và người mẹ là hai vai trò quan trọng nhất trong gia đình. Còn nếu so sánh người cha với người mẹ thì có lẽ vai trò người cha quan trọng hơn :

- Gia đình nào có người mẹ tốt nhưng người cha xấu thì các con trong gia đình khó mà tốt hết được. Hình như tấm lòng của người mẹ không hữu hiệu bằng sự hướng dẫn của người cha.

- Gia đình nào có người cha tốt thì hầu như mọi người trong nhà đều dễ trở thành tốt, vì người cha là cột trụ cho cả nhà dựa vào, là vị chỉ huy điều khiển mọi người, là người cầm lái đưa cả gia đình theo một hướng.

Gia đình Nadarét có Thánh Giuse làm gia trưởng. Dù Đức Maria và Chúa Giêsu là những người cao quý hơn thánh Giuse, nhưng Thiên Chúa đã đặt hai vị dưới quyền Thánh Giuse ; khi Thiên Chúa muốn nói gì với gia đình này thì Ngài nói với Thánh Giuse ; và hai vị kia vâng lời Thánh Giuse như vâng lời Thiên Chúa.

Phần Thánh Giuse, có lẽ Ngài không thông minh và tài cán bao nhiêu, nhưng Ngài rất tận tuỵ trong bổn phận, nhất là Ngài điều hành việc gia đình theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay kể : trong hai tình huống nghiêm trọng nhất là trốn sang Ai cập và hồi hương về Nadarét, Thánh Giuse đều làm theo lời Chúa. Bản văn viết rõ : "Giuse liền thức dậy, đưa hài nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập" (hoặc : "về đất Israel"). Dù đang ngủ nhưng mau mắn "thức dậy" và "liền" thi hành ngay lời Chúa dạy.

Đối chiếu với gương thánh Giuse, chúng ta hiểu được lý do khiến cho nhiều gia đình không được tốt :

- Lý do thứ nhất là vì người cha gia đình không tận tuỵ với bổn phận mình.

- Lý do thứ hai là vì người cha gia đình không điều hành gia đình theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

2. Lòng hiếu tho không phi là bn năng

Cha mẹ thương con là do bản năng : dù đứa con xinh đẹp hay xấu xí, ngoan ngoãn hay ngỗ nghịch, cha mẹ vẫn luôn yêu thương và hy sinh tất cả cho nó. Người ta nói "Nước bao giờ cũng chảy xuôi xuống".

Nhưng con cái thương cha mẹ không phải là bản năng (con cái bám lấy cha mẹ mới là bản năng) : khi đứa con còn cần đến cha mẹ thì xem ra nó "thương" cha mẹ lắm. Đến khi nó không cần đến cha mẹ nữa, nhất là khi cha mẹ cần đến nó thì nhiều đứa thờ ơ, hất hủi, bất hiếu… "Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày".

Nếu là bản năng thì không cần được dạy. Vì không phải là bản năng nên cần được dạy mới biết.

- Người Việt Nam dạy con cái hiếu thảo cha mẹ cách tiêu cực bằng lời đe dọa : ai bất hiếu ngỗ nghịch với cha mẹ thì sẽ bị "trời đánh".

- Sách Đức Huấn Ca dạy cách tích cực bằng Lời Chúa hứa ban cho kẻ thảo hiếu cha mẹ nhiều ơn lành (xem phần giải thích Bài đọc I phía trên)

Dù dạy cách tiêu cực bằng lời đe dọa, hay cách tích cực bằng lời hứa, cả hai lời dạy trên đều giống nhau ở điểm quy lòng hiếu thảo về nguồn gốc là Thiên Chúa (hay "Ông Trời") : chính Thiên Chúa muốn con cái hiếu thảo với cha mẹ, do đó Ngài thưởng kẻ hiếu thảo và phạt kẻ bất hiếu.

Vì thế những kẻ làm con phải ý thức rằng : Hiếu thảo với cha mẹ

- không chỉ là một tình cảm tự nhiên được thúc đẩy bởi bản năng,

- mà còn là một đạo lý nhân bản (đạo làm người : nhân-đạo)

- hơn nữa, đó còn là lệnh truyền của chính Thiên Chúa (thiên-đạo)

3. Bo v con

Để bảo vệ Hài nhi Giêsu khỏi sa vào nanh vuốt Hêrôđê, Thánh Giuse và Đức Maria đã phải vượt qua con đường hiểm trở dài gần 500 cây số xuyên qua sa mạc El-Arish đến Ai Cập, một sa mạc trải dài hơn 200 cây số toàn cát trắng như biển cả mênh mông, không một bóng cây, một cọng cỏ, một giếng nước. Đoàn lữ hành phải đeo đủ đồ ăn, nước uống để chịu đựng cả nửa tháng rất kham khổ. Năm mươi năm trước Chúa Giáng sinh, đoàn quân Rôma phải vượt qua quãng đường này thấy khủng khiếp hơn đánh nhau với quân Ai cập. Năm 1967, đại quân Ai cập đã sa lầy trong sa mạc này khi chiến tranh với quân do thái.

Sự khủng khiếp của những đoàn quân hùng mạnh làm ta cảm thấy sự khốn cực của Thánh Gia lúc đi tị nạn. Ngày ngày các ngài phải lê gót từng bước chân trên cát lầy sụp lở, vượt qua các đồi cát dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, giữa biển cát nóng hừng hực, vẫn phải tiết kiệm từng giọt nước và những cơn bão cát khủng khiếp như muốn chôn sống các ngài.

Có một số sách hoang đường mô tả cuộc tị nạn của Thánh Gia như thiên đường : những dã thú hiền từ đến lậy dưới chân Chúa Hài Nhi, những cây chà là rợp bóng rũ trái để các Ngài ngủ mát, ăn điểm tâm ; nước chảy lênh láng để các Ngài giải khát, tắm rửa giữa sa mạc ! (Ricciotti, Vie de Jésus-Christ, p. 268)

Ở trần gian, Thánh Gia không được hưởng cảnh thanh nhàn đó. Chúa muốn các Ngài phải chịu trăm chiều đau khổ để nêu gương cho ta khi gặp gian nan biết vui lòng hy sinh như các Ngài, nhất là khi gặp thử thách để bảo vệ Hài Nhi Giêsu, bảo vệ Hội Thánh, bảo vệ đức tin và các hài nhi con cháu mình. Phải bảo vệ hài nhi khỏi tay kẻ dữ, khỏi không bị hận thù bất công, khỏi bạn bè gian ác, trộm cắp, đồi truỵ. Đó là nhiệm vụ của cha mẹ, của các vị tinh thần và mọi kitô hữu.

Biết bao hài nhi đã bị huỷ hoại trong bào thai, khi chào đời lại bị cha mẹ vô luân liệng bỏ, và bị bao nhiêu tệ nạn xấu xô đẩy. Thật khổ tâm !

Cách bảo vệ hài nhi an toàn nhất là hãy tỉnh thức nghe tiếng Chúa trong lương tri, trong Tin Mừng và giáo huấn của Hội Thánh, mới mong tránh khỏi tay những Hêrôđê tàn bạo. Nhất là hãy dắt con em mình đến nương ẩn dưới cánh tay uy quyền và tình thương bao la của Chúa, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse.

(Lm Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm A)

4. Nhng bài hc ca tr con

Nếu trẻ con sống với những lời phê phán, chúng học được thói hay lên án.

Nếu chúng sống với sự hận thù, chúng học được thói thích đánh nhau.

Nếu chúng sống với những lời chế nhạo, chúng học được thói nhút nhát.

Nếu chúng sống với sự chê bai, chúng học được mặc cảm tội lỗi

Nếu chúng sống với sự bao dung, chúng học được tính nhẫn nhục

Nếu chúng sống với sự khuyến khích, chúng học được lòng tự tin.           

Nếu chúng sống với lời khen, chúng học được cách thưởng thức cái hay của người.

Nếu chúng sống với sự lương thiện, chúng học được tính công bình.

Nếu chúng sống với sự che chở an toàn, chúng học được lòng tin cậy.

Nếu chúng sống với sự chấp nhận, chúng học biết yêu thích chính mình.

Nếu chúng sống với tình thương, chúng học được cách tìm thấy Chúa trong cuộc đời. (Anon, "Children learn what they live")

5. Bà m thánh thin và đảm đang thành Luân Đôn

Đầu thế kỷ XX này, tại Luân Đôn, có một gia đình công nhân vừa nghèo khó lại vừa đông con : cả thảy 13 đứa ! Bố của chúng phải đi làm việc suốt ngày ở xí nghiệp. Bà mẹ ở nhà làm nghề phụ và lo việc nội trợ. Dù đầu tắt mặt tối, bận bịu suốt ngày suốt đêm, nhưng bà Vaughan vẫn vui vẻ thay mặt chồng dạy dỗ con cái học giáo lý, tập luyện chúng có tinh thần đạo đức, khuyên chúng chịu khó học tập, lao động, và đặc biệt trưa nào rửa chén bát xong bà Vaughan cũng đến nhà thờ chầu Chúa một giờ.

Láng giềng ai cũng lấy làm lạ và hỏi bà : "Một bầy con 13 đứa, bận rộn sáng tối, mà sao trưa nào chị cũng đi chầu Thánh Thể ?" Bà tươi cười bảo : "Thấy một bầy con lúc nhúc, ăn bữa mai chạy gạo bữa hôm, tôi lo lắm. Hơn thế chúng còn đến trước trường học, theo bạn bè rủ rê đi chơi hoặc ra phố phường xa hoa, do đó nhiều nguy hiểm, tôi càng thao thức hơn. Thành thử mỗi ngày dầu bận việc đến đâu, tôi cũng bỏ ra một giờ để chầu Chúa, sốt sắng xin Người ban ơn cho vợ chồng tôi nuôi nấng các cháu hằng ngày dùng đủ và dạy dỗ chúng nên người đạo đức".

Chúa đã nhận lời và ân thưởng cho lòng tin cùng sự hy sinh của bà Vaughan : trong 13 người con, một người làm Hồng Y Tổng Giám Mục giáo phận Luân Đôn, một người khác làm Tổng Giám Mục, hai người làm Linh mục, hai nam tu sĩ, hai nữ tu sĩ, còn 5 người ở thế gian lập gia đình lưu truyền nòi giống, sống cuộc đời đạo đức thánh thiện. (ĐHY NVT, Trên đường lữ hành)

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo Hội, là vườn ươm hạt giống đức tin, là trường đào tạo tông đồ, là nơi rèn luyện nhân cách. Nhân ngày lễ kính Thánh Gia Thất, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện cho hết mọi gia đình.

1- Hội Thánh luôn xác nhận tầm quan trọng của gia đình, và tìm hết mọi cách để bảo vệ đời sống hôn nhân và gia đình, khỏi bị tội lỗi làm hoen ố. Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các gia đình công giáo / luôn biết tuân theo lời giáo huấn của Hội Thánh.

2- Những biến động xã hội trên thế giới ngày nay / gây ra biết bao xáo trộn trong đời sống gia đình / làm lung lay tận gốc rễ nền tảng của xã hội và Giáo Hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho tất cả các gia đình vượt qua được những thử thách gian nan / để luôn sống trong hạnh phúc và an bình.

3- Giáo dục đầu tiên trong gia đình hết sức quan trọng / vì giúp hình thành nhân cách cũng như dời sống đạo nơi trẻ em / và cha mẹ là những thầy dạy không ai có thể thay thế được / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các bận cha mẹ / biết luôn quan tâm đến việc giáo dục đức tin và nhân bản cho con cái / bằng lời nói cũng như bằng gương tốt.

4- Một gia đình hạnh phúc là một gia đình biết sống lời Thánh Phaolô dạy trong thư Côlôxê : "Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái / vì đó là mối dây liên kết tuyệt hảo". Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các gia đình trong giáo xứ chúng ta / biết luôn cố gắng sống trọn vẹn lời Thánh Phaolô đã dạy.

CT : Lạy Chúa, Thánh Gia Nadarét quả là một gương mẫu tuyệt hảo cho tất cả các gia đình công giáo về đời sống tin cậy mến cũng như đời sống lao động cần cù. Xin cho chúng con biết luôn noi gương Thánh Gia, sống một cuộc đời đẹp lòng Chúa, và nên gương sáng cho những người chưa nhận biết Chúa. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta không chỉ là thành phần của những gia đình tự nhiên theo xác thịt, mà còn thuộc về một gia đình chung mà Thiên Chúa là Cha. Trong tình nghĩa anh chị em nhau, và trong tâm tình hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha chung, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Ngài lời kinh sau đây.

- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt là sự ganh ghét, đố kỵ, chia rẽ làm tổn hại tình yêu thương giữa các con cái Cha trong cùng một gia đình, xin đoái thương ban cho những ngày chúng con đang sống được bình an…"

- Trước lúc rước lễ : "Đây Chiên Thiên Chúa… Phúc cho những ai được Thiên Chúa là Cha mời đến dự bàn tiệc thánh trong gia đình của Chúa"

VII. GIẢI TÁN

Trở về với nếp sống gia đình, anh chị em hãy cố gắng sống với nhau cho thật tốt, theo gương Thánh Gia Nadarét.

LỄ HIỂN LINH

(Chung cho 3 năm A,B,C)

CHỦ ĐỀ :

CHÚA GIÊSU
LÀ ÁNH SÁNG CỦA MUÔN
DÂN

 

 

"Khi Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, có mấy đạo sĩ từ Phương đông đến bái lạy Ngài"

(Mt 2,1-2)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : "Hỡi Giêrusalem hãy tỏa sáng, các dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi."

- Đáp ca : "Lạy Chúa, các dân nước sẽ ca ngợi Ngài."

- Tin Mừng : "Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Ngài ở phương Đông và chúng tôi đến để triều bái Ngài."

- Bài đọc II : "Nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Ngài trong Chúa Giêsu Kitô."

Minh họa

- Hình : Mille images 41 C

- Câu Thánh Kinh : "Khi Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, có mấy đạo sĩ từ Phương đông đến bái lạy Ngài" (Mt 2,1-2)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Chúa Giêsu là ánh sáng. Trong dịp lễ Giáng sinh, Ngài đã chiếu sáng các nhà thờ và các gia đình tín hữu. Nhưng Ngài còn muốn là ánh sáng cho tất cả mọi người nữa.

Ngày hôm nay chúng ta mừng lễ Hiển linh, kỷ niệm việc ngày xưa Chúa Giêsu đã tỏ mình ra cho các đạo sĩ, đại diện cho lương dân. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người ngoài Kitô giáo cũng nhận được ánh sáng Chúa ; và cho chính chúng ta ý thức bổn phận mang ánh sáng Chúa đến cho mọi người.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta có tội vì quá thờ ơ với việc mang ánh sáng Tin Mừng đến cho lương dân.

- Chúng ta có tội vì cộng đoàn xứ đạo chúng ta không nêu gương sáng trước mặt mọi người.

- Chúng ta có tội vì không quan tâm tìm ý Chúa qua những đấu chỉ hằng ngày.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I : Is 60,1-6

Mặc dù đang sống trong chốn lưu dày, ngôn sứ Isaia đã mơ tới ngày hồi hương. Khi đó Giêrusalem sẽ được tái thiết lại huy hoàng và là nơi thu hút muôn dân tuôn đến :

- Trong khi cả trái đất ngập chìm trong tăm tối thì Giêrusalem lại bừng sáng, vì có Chúa là Ánh sáng đang ngự ở đó.

- Bởi thế, muôn dân từ khắp nơi sẽ tuốn về ánh sáng của Giêrusalem.

Trên thực tế, dân do thái đã được hồi hương và Giêrusalem đã được tái thiết. Nhưng Giêrusalem đâu có được đúng như Isaia đã mơ. Giấc mơ của Isaia chỉ được thực hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu. Ngài chính là Ánh sáng đến trần gian.

2. Đáp ca : Tv 71

Tv này cầu nguyện cho một vị vua lý tưởng mà trong triều đại ngài hòa bình và công lý ngự trị, mọi người đều hạnh phúc.

Vị vua lý tưởng ấy cũng chính là Chúa Giêsu.

3. Tin Mng : Mt 2,1-12

Các "đạo sĩ" là những nhà trí thức ở vùng Babylon phía Đông xứ Palestine. Do niềm tin có phần mê tín rằng ngôi sao lạ là điềm báo một Đấng cứu tinh đã sinh ra, họ đã đi theo ánh sao và tìm đến với Hài nhi Giêsu.

Nhưng cuộc hành trình của các vị cũng không phải là trơn tru dễ dàng vì có lúc ánh sao biến mất. Nhưng nhờ các vị kiên trì, ánh sao đã xuất hiện lại và cuối cùng các vị đã tìm đến nơi.

Như thế, qua ánh sao lạ, Chúa Hài nhi đã tỏ mình ra cho đại diện lương dân, đang khi các nhà trí thức do thái ở Giêrusalem tuy thông thạo Thánh Kinh nhưng đã không nhận ra Chúa.

4. Bài đọc II (Êp 3,2-6)

Để thấy được nét độc đáo của đoạn thư này, trước hết chúng ta hãy lưu ý đến tâm thức của người do thái : họ cho rằng dân tộc họ được Thiên Chúa đặc biệt tuyển chọn, cho nên ơn cứu độ là độc quyền của họ.

Thánh Phaolô thì không nghĩ như vậy. Trong thư viết cho dân thành Êphêxô, một "dân ngoại", ngài tiết lộ cho họ biết một "mầu nhiệm", đó là Thiên Chúa đã trao sứ mạng cho ngài đem ân sủng của Tin Mừng phân phát cho tất cả các dân. Nhờ Tin Mừng này, mọi dân tộc đều trở thành "đồng một thân thể" với nhau và với Đức Giêsu Kitô, hơn thế nữa họ trở nên "đồng thừa tự" để hưởng gia tài của Đức Giêsu Kitô và "đồng thông phần" với lời hứa cứu độ của Ngài.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Mt tri là ca ai ? Chúa ca ai ?

Chúa Giêsu là Ánh Sáng, ánh sáng huy hoàng hơn cả mặt trời.

Nếu mặt trời không phải là của riêng ai, thì Chúa Giêsu cũng là của mọi người, mọi dân. Ngài mang ơn cứu độ đến cho muôn dân. "Không ai thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt trên giá để soi cho mọi người".

Bởi thế, ngay sau khi giáng sinh, tỏ mình ra cho những kẻ chăn chiên nghèo hèn, Chúa Giêsu cũng sớm tỏ mình ra cho các đạo sĩ đại diện cho lương dân.

Vì Chúa muốn tỏ mình ra cho muôn dân, cho nên lương dân có quyền được biết Chúa, và những người đã biết Chúa có bổn phận giúp cho lương dân biết Chúa.

Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay dùng một hình ảnh vừa rất đẹp vừa rất hay để dạy chúng ta cách giúp cho người khác biết Chúa, đó là Ánh Sáng :

- Hãy đưa cao Tin Mừng như người ta nâng cao ngọn đuốc sáng để soi chiếu mọi vùng tăm tối.

- Cách sống của những người đã biết Chúa phải là một ngọn đèn sáng gương mẫu cho những người chung quanh. Chúa Giêsu nói : "Sự sáng của chúng con cũng hãy tỏa sáng trước mặt mọi người. Còn Thánh Phaolô thì nói : "Anh em hãy chiếu sáng như những tinh tú trên bầu trời".

2. Hành trình đức tin

Hành trình của các đạo sĩ là hình ảnh minh họa cho hành trình của mọi kẻ tin :

a/ Hành trình khởi đầu bằng một điều gì đó lạ lùng khiến người ta chú ý (thí dụ ánh sao lạ đối với các đạo sĩ). Điều lạ lùng này mời gọi người ta từ bỏ nếp sống đã quen để dấn thân đi tìm một cái gì đó cao hơn, xa hơn, tốt đẹp hơn.

b/ Tiếp theo là những bước thăng trầm trong cuộc hành trình : có khi con đường rất bằng phẳng êm ái, có khi lại quanh co gồ ghề, có lúc ánh sao sáng tỏ trên bầu trời, có lúc nó vụt biến mất.

c/ Nhưng miễn là người ta không nản lòng mà cứ kiên trì dấn bước thì cuối cùng người ta sẽ gặp được Chúa.

Đó là cuộc hành trình của kẻ chưa có đức tin tìm đến với Chúa, mà cũng là cuộc hành trình của kẻ đã tin rồi nhưng muốn đến với Chúa một cách gần gũi thân tình hơn.

3. Lên đường

Có những người tìm kiếm như các đạo sĩ, lên đường như Abraham. Cũng có những người ngồi một chỗ như Hêrôđê. Muốn biết ư ? Ông đã có các chuyên viên. Muốn tiêu diệt đối phương ư ? Ông có cả ngàn quân lính dưới quyền. Thiên Chúa hướng dẫn những ai muốn tìm Người cách lạ lùng. Người trốn thoát khỏi những kẻ muốn tìm bắt. Người không hung hãn chống lại những kẻ muốn huỷ diệt Người. Người tự xóa mình đi và biến mất.

Người ở đâu, Đức Giêsu ẩn dấu của thời đại ? Trong làng quê heo hút nào, trong gia đình nghèo khó nào có ánh sáng Thiên Chúa mời ta nhận ra Người ? "Ta đói các ngươi đã cho Ta ăn… Thực, Ta bảo các ngươi : mỗi lần các ngươi làm cho một trong những kẻ bé nhỏ nhất là anh em Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta" (Mt 25,35-40). Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có lời kinh thánh : Ta đã không bị cám dỗ dùng lời Kinh Thánh để át giọng kẻ quấy rầy ư ? Đức Giêsu đâu để cho ta đền bù. Nếu ta muốn nắm lấy Người để được an tâm, Người sẽ thoát khỏi tầm tay ta. Nếu ta chấp nhận lên đường tìm kiếm Người, ta sẽ như các đạo sĩ, được đầy tràn niềm vui và tìm thấy Người (…) Đọc kỹ Kinh Thánh thôi chưa đủ, còn phải để Kinh Thánh gợi hứng cho đời ta, để ta đem ra thực hành, để ta đặt mình dưới sự điều khiển của Kinh Thánh. Các luật sĩ và các thầy thượng tế biết lời sấm lắm chứ. Nhưng họ chỉ biết trưng dẫn thôi… Hêrôđê thì dùng Kinh Thánh để tìm cách giết Hài nhi… Còn các đạo sĩ, bản thân chẳng biết Kinh Thánh, chỉ được Hêrôđê chỉ dẫn, đã lên đường tìm kiếm Đức Giêsu và họ đã gặp Người… (Mgr Lucien Daloz, Le Règne des cieux s’est approché, Trích dịch bởi Fiches dominicales, trang 55-56).

4. Mnh suy tư

Ánh sáng và bóng tối

Các đạo sĩ đã đi trong bóng tối nhờ tia sáng của một ánh sao dẫn đường.

Các ông đã tìm được Chúa vì không sợ bóng tối nhờ tin vào ánh sáng.

Thực ra, ta chỉ thấy được ánh sáng của ngôi sao khi trời tối

Trời càng tối thì sao càng sáng.

Tất cả chúng ta cũng là những khách lữ hành đi trong đêm tối

Nhưng chúng ta đừng sợ vì Đức Kitô là ánh sáng đã đến trần gian :

- Ánh sáng bừng lên trong đêm tối

- Ánh sáng xóa tan tăm tối

- Ánh sáng mà không sự tối tăm nào dập tắt được.

5. Chuyn minh ha

a/ Tôn giáo nào có Chúa ?

Ngày nọ, Chúa và tôi đến một hội chợ, không phải hội chợ thương mại, mà là Hội chợ Tôn giáo. Nhưng những người tham dự luôn tỏ ra hung bạo và tuyên truyền ầm ĩ.

Tại quầy hàng của người Do thái, chúng tôi nhận được những tờ quảng cáo nói rằng Chúa là Đấng thương xót và dân Do thái là dân được Ngài tuyển chọn. Ngoài những người Do thái, không ai khác được chọn như họ.

Tại quầy hàng của người Hồi giáo, chúng tôi học biết rằng Chúa đầy lòng khoan dung và Mohammed là ngôn sứ duy nhất của Ngài. Sự cứu độ đến nhờ việc nghe ngôn sứ duy nhất của Chúa.

Tại quầy hàng của người Kitô giáo, chúng tôi khám phá ra Chúa là tình yêu và không có sự cứu độ ở ngoài giáo hội. Hoặc gia nhập giáo hội hoặc phải chịu kết án đời đời.

Trên đường trở ra, tôi hỏi Chúa : "Ngài nghĩ gì về những điều nói về Chúa ?"

Chúa nói : "Ta không tổ chức Hội chợ đó. Ta thấy xấu hổ ngay cả khi đến thăm nó".

b/ Các tôn giáo

Chúa Giêsu nói rằng Ngài chưa bao giờ xem bóng đá. Vì thế, bạn tôi và tôi dẫn Ngài đi xem một trận. Đó là trận đấu gay cấn giữa những người Tin lành và những người Công giáo.

Người Công giáo ghi bàn thắng trước. Chúa Giêsu reo hò và tung mũ lên. Rồi đến người Tin lành ghi bàn thắng, Chúa Giêsu cũng reo hò và tung mũ. Điều này gây khó chịu cho anh thanh niên ngồi sau chúng tôi. Anh vỗ nhẹ lên vai Chúa Giêsu và hỏi : "Này anh bạn tốt, anh ủng hộ bên nào ?"

Lúc này Chúa Giêsu thấy hứng thú vì trận đấu, Ngài trả lời : "Tôi hả ? Ồ, Tôi không đứng về bên nào. Tôi chỉ thưởng thức trận đấu".

Anh quay sang người bạn bên cạnh, nhếch mép cười : "Hừ, kẻ vô thần".

Trên đường trở về, chúng tôi cho Chúa Giêsu biết về tình trạng các tôn giáo trên thế giới ngày nay : "Chúa ạ, thật buồn cười về những người trong các tôn giáo. Dường như họ luôn nghĩ rằng Chúa chỉ đứng về phía họ và chống lại những người khác".

Chúa Giêsu đồng ý : "Đó là lý do tại sao Ta không ủng hộ các tôn giáo. Ta ủng hộ con người. Con người quan trọng hơn tôn giáo. Con người quan trọng hơn ngày Sabát".

Một trong chúng tôi nói với vẻ lo lắng : "Ngài phải thận trọng. Ngài biết, Ngài đã một lần bị đóng đinh vì nói như thế".

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. Người đã dùng ngôi sao hướng dẫn muôn dân đến gặp gỡ Đấng Cứu Thế. Với tâm tình cảm tạ tri ân Thiên Chúa là Cha nhân hậu, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1- Chúa là Vua lãnh đạo muôn dân / Người đã mời gọi các hiền sĩ / là những người ngoại giáo đầu tiên đến thờ lạy Người tại Bêlem / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người trong Hội Thánh / biết tôn thờ và phụng sự Chúa hết lòng.

2- Chúa là Vua công bình chính trực / Người đến giải thoát người nghèo cô thân cô thế / chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người cùng khổ sầu đau / luôn được Chúa thương xót đỡ nâng.

3- Chúa đến làm ánh sáng chiếu soi muôn người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những người đang tìm Chúa / qua những bóng mờ và hình ảnh / được ánh hào quang của Đức Kitô soi sáng và hướng dẫn / để họ thêm phấn khởi trên đường tìm chân lý.

4- Mỗi tín hữu phải là một ngôi sao dẫn đường cho người khác tìm về với Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho công đoàn giáo xứ chúng ta / biết dùng đời sống bác ái yêu thương / phục vụ khiêm tốn / mà giới thiệu Chúa cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa.

CT : Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã sai chúng con mang sứ điệp Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Xin cho đời sống thường ngày của chúng con thể hiện một cách trung thực tình yêu bao la của Chúa đối với nhân loại. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu đã tỏ mình ra cho lương dân vì Ngài muốn quy tụ tất cả mọi người trong Nước của Ngài. Chúng ta hãy cùng với Ngài thiết tha cầu xin cho Nước Chúa mau trị đến.

VII. GIẢI TÁN

Ngày xưa Chúa đã dùng ánh sao lạ dẫn đường các đạo sĩ đến với Ngài. Ngày nay Ngài muốn dùng mỗi người chúng ta như một ánh sao lạ dẫn đường cho anh em lương dân đến với Ngài. Rồi nhà thờ trở về với cuộc sống, chúng ta hãy sống như một ánh sao trước mặt mọi người. Chúc anh chị em bình an.