|
|
Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN - A Lời Chúa: Xh. 22, 20-26; 1Tx. 1, 5c-10; Mt. 22, 34-40
3. Tại sao Thiên Chúa làm người 4. Khi hai mặt của đồng tiền bằng nhau 7. Giới răn trọng nhất - Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 8. Vấn đề giới răn trọng nhất - Fiches Dominicales 14. Lạy Chúa, xin giúp con yêu mến Chúa
1. Mến ChúaCó một chứng bệnh mỗi ngày một trở nên trầm trọng trong xă hội ngày nay, đó là chứng bệnh cô đơn. Thực vậy, giữa thời buổi kinh tế thị trường, người ta đổ xô về thành phố. Thế nhưng, dân số thành phố càng gia tăng th́ chứng bệnh cô đơn lại càng trầm trọng. Người ta sống cách nhau chỉ một bức tường mà không hề biết đến tên tuổi của nhau. Trong một chung cư, kẻ ở lầu trên, ra vào cùng một lối mà chẳng biết đến kẻ ở lầu dưới. Mỗi người trở thành như một ḥn đảo, một pháo đài biệt lập. Đời sống càng xô bồ chen chúc, th́ con người lài càng cảm thấy cô đơn. Mặt trời dường như mỗi ngày một thêm nóng bức và oi ả, mà ḷng người th́ mỗi ngày một thêm lạnh lùng và băng giá. Thiên hạ đối xử với nhau ngày càng thêm hờ hững và xa lạ. Vậy đâu là phương thuốc trị liệu cho chứng bệnh cô đơn này? Theo tôi nghĩ chúng ta không có một phương thuốc nào hiệu nghiệm cho bằng hăy mến Chúa và yêu người. Hay như Chúa Giêsu đă phán qua đoạn Tin Mừng hôm nay: Giới răn thứ nhất là hăy kính mến Thiên Chúa hết ḷng, c̣n giới răn thứ hai cũng quan trọng như giới răn thứ nhất, đó là hăy yêu thương tha nhân như chính ḿnh. Tuy nhiên, đây không phải là hai giới răn riêng biệt, nhưng chỉ là một giới răn duy nhất. Yêu người chỉ là sự biểu lộ và hậu quả tất nhiên của ḷng mến Chúa. Có yêu người th́ mới có thể mến Chúa. Và ngược lại, có mến Chúa th́ mới có thể yêu người. Từ đó chúng ta suy ra: nguyên nhân sâu xa nhất tạo nên chứng bệnh cô đơn, chínhy là v́ con người đă xa ĺa Thiên Chúa. Thực vậy, cùng với những thành quả của khoa học, con người đă muốn truất phế Thiên Chúa, họ muốn nói lên như dân Do Thái ngày xưa: Chúng tôi không muốn nó cai trị trên chúng tôi. Hẳn chúng ta c̣n nhớ khi phi thuyền Spoutnick được phóng lên không gian và trở về địa cầu, phi hành gia Gargarine đă tuyên bố với báo chí: Từ nay sẽ không c̣n ai dám nói rằng có một Thiên Chúa điều khiển trăng sao nữa. Thế nhưng, nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy dăm ba chiếc phi thuyền nhỏ xíu di chuyện trong một khoảng thời gian nào đó trên không trung, làm sao có thể sánh ví với hàng triệu triệu v́ sao quay cuồng trên bầu trời, không bằng một hạt cát trong sa mạc, không bằng một giọt nữa giữa biển khơi. Chính v́ thế, Carnégie đă nói: Về phương diện khoa học kỹ thuật, loài người đă tiến được những bước khá cao, nhưng về phương diện tinh thần và tôn giáo, họ vẫn c̣n dậm chân trong một t́nh trạng ấu trĩ. Chúng ta có tiền nhiều, có áo tốt, có nhà cao, có xe xịn…nhưng lại thiếu bồi dưỡng về t́nh thần v́ con người thời nay đă mất niềm tin vào Thiên Chúa. Niềm tin sẽ là như khí trời, thiếu nó chúng ta sẽ bị ngột ngạt và căng thẳng. Không tin vào Thiên Chúa là nguồn mạch mọi t́nh thương, chúng ta cũng không thể nào tin vào t́nh người một cách chân thành và bền bỉ. V́ ḷng yêu người chỉ là hoa trái của t́nh mến Chúa mà thôi. Bởi đó, ngày nay hơn bao giờ hết, con người phải quay trở về cùng Thiên Chúa, như lời bác học Von Braun đă tuyên bố: Nhờ những hiểu biết về không gian, nhiều người ngày nay cho rằng chúng ta cần phải tin có Thiên Chúa hơn cả những người sống trong thời trung cổ. Bởi đó, những kẻ coi khoa học là chủ tể của con người, th́ chỉ biểu lộ sự nông cạn, hẹp ḥi của ḿnh mà thôi. Chính v́ thế, Pascal đă nói: Khoa học nông cạn làm cho con người xa ĺa Thiên Chúa, nhưng khoa học khôn ngoan sẽ dẫn đưa con người tới gần Ngài. Một khi đă trở về cùng Thiên Chúa, một khi đă tới gần Ngài, chúng ta sẽ không c̣n cô đơn và tuyệt vọng, nhưng sẽ tràn đầy niềm hy vọng như lời Thánh Vịnh 17 đă diễn tả: Dù có đi giữa bóng tối hăi hùng của sự chết, tôi không c̣n lo sợ, v́ Chúa ở cùng tôi. Hơn thế nữa, một khi đă trở về cùng Thiên Chúa, một khi đă tới gần Ngài, chúng ta mới t́m thấy được cái nền tảng vững chắc, cũng như những giá trị siêu nhiên cho vệc yêu người. Thực vậy, tại sao chúng ta lại phải yêu thương người khác? V́ có chung một Thiên Chúa là Cha, nên chúng ta là anh em. Bởi đó phải yêu thương nhau. Ngoài ra những hành động bác ái và yêu thương c̣n có một giá trị vĩnh cửu, bởi v́ khi giúp đỡ người khác là chúng ta đă giúp đỡ cho chính Chúa vậy. Trong ngày phán xét, Ngài sẽ tra hỏi chúng ta về vấn đề này, và rồi dựa vào đó mà ấn định số phận đời đời của mỗi người chúng ta. 2. Luật yêu mếnI. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 22,34-40 II. TẤM BÁNH CHIA SẺ. Người Do Thái có quá nhiều luật lệ. Họ lại có thái độ duy Lề Luật. Nên tỉ mỉ tuân giữ tất cả mọi điều. Không c̣n biết điều nào là chính điều nào là phụ nữa. Hôm nay, nhân một câu hỏi. Chúa Giêsu đă cho ta biết chỉ có một điều luật quan trọng: LUẬT YÊU MẾN. Luật này có 2 khía cạnh. 1) Yêu mến Thiên Chúa hết ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn. Nghĩa là yêu mến hết khả năng, hết sức lực. Ta phải yêu mến Chúa như thế thật hợp t́nh hợp lư. V́ Chúa đáng yêu đáng mến vô cùng. Chúa là nguồn mạch mọi sự thiện hảo. Ngài là toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ. Nơi Ngài không có một t́ vết, khuyết điểm nào. Trong đời sống ai cũng yêu thích những ǵ tốt đẹp. Chúa là Đấng vô cùng tốt đẹp. Yêu mến Ngài là điều tự nhiên. Ai hiểu biết cũng đều yêu mến Chúa. Hơn nữa Chúa c̣n là Đấng sinh thành ra ta. Chính Chúa ban cho ta tất cả. Ta có mặt ở đời này là do ư định của Chúa. Tất cả nhừng ǵ chúng ta có và chúng ta là đều bởi Chúa. Chúa là vị ân nhân lớn nhất của ta. Yêu mến Chúa là việc làm không những tự nhiên mà c̣n là bổn phận nữa. 2) Yêu người thân cận như chính ḿnh. Đó là điều răn thứ hai mà Chúa Giêsu nói cũng giống như điều răn thứ nhất. Thực ra đó chỉ là một điều răn v́ những lư do sau: Yêu Chúa và yêu người là hai khía cạnh của một t́nh yêu. T́nh yêu chân thật là t́nh yêu không có giới hạn, không có loại trừ. V́ thế đă yêu Chúa th́ phải yêu người. Nếu t́nh yêu bị giới hạn, có loại trừ th́ sẽ trở thành giả tạo. T́nh yêu đối với tha nhân kiểm chứng t́nh yêu đối với Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ đă nói: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em ḿnh, người ấy là kẻ nói dối; v́ ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ nơi Người: Ai yêu mến Thiên Chúa, th́ cũng yêu thương anh em ḿnh” (1Ga 4,20-21). C̣n hơn thế nữa. Ai yêu anh em là yêu chính Chúa. V́ Chúa ở trong anh em. Hơn thế nữa, Chúa ẩn thân trong những anh em bé mọn nhất. V́ thế trong ngày phán xét Chúa nói với ta rằng: “Ta bảo thật cho các người: mỗi lần các người làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đă làm cho chính Ta vậy” (Mt 25 -40). Tất cả mọi điều răn khác đều quy về hai điều răn này. Nếu ta giữ trọn vẹn giới răn này, không những ta chu toàn Lề Luật mà c̣n góp phần xây dựng một thế giới mới, thế giới chan ḥa yêu thương, chan ḥa t́nh người. Và đó chính là khởi điểm của thiên đàng mai sau. III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU. 1) Yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn. Bạn thấy điều này có hợp t́nh hợp lư không? 2) Tại sao ta phải yêu tha nhân? 3) Bạn có cảm nghiệm được niềm vui khi ta yêu thương không? 4) Bạn nghĩ thế nào về một thế giới trong đó chỉ có những người yêu thương nhau. 3. Tại sao Thiên Chúa làm ngườiVào thời Chúa Giêsu có 2 phong trào đối địch cố gắng nắm lấy uy thế lănh đạo dân Do thái, đó là phái sa-đốc và biệt phái. Những người sa-đốc đă bị Thày chí thánh khóa miệng, đến lượt những người Biệt phái t́m cách gây khó cho Ngài; nếu thành công họ sẽ được hai cái lợi: qua mặt người sa-đốc và tiêu hủy uy tín của Chúa Giêsu. Họ hội họp nhau trong ư định ấy và thỏa thuận gởi một người trong bọn họ, chuyên gia về Lề luật, đến gặp Chúa Giêsu để hỏi Người về vấn đề tranh luận bất tận trong giới kư lục và luật sĩ. Thực vậy họ đă mổ xẻ lề luật và đă chia lề luật làm 613 huấn giới, 365 điều cấm, 48 chỉ thị. Trước một toàn bộ như thế, một số người Do thái bỏ hết thời giờ xem xét cách sống của ḿnh để sao cho phù hợp với lề luật, một số th́ chịu. Do đó một số mới tự hào xem ḿnh là công chính và một số khác sinh lo âu thấy ḿnh là kẻ phạm luật. Cả 2 đều không biết đến sự tự do tinh thần của t́nh yêu. V́ thế hiểu được có nhu cầu tổng hợp và đơn giản hóa lề luật. Các người Biệt phái chất vấn Chúa Giêsu về vấn đề tế nhị này. Ngài tổng hợp ra sao, Ngài đơn giản theo nguyên tắc nào? Câu trả lời của Chúa Giêsu không muốn mới mẻ và đề ra cái độc đáo. Chỉ có thể nằm trong đường hướng nguyên thủy của một bản luật do Thiên Chúa ban truyền. Câu trả lời chỉ nhắc lại. Thái độ vụ luật tỉ mỉ chi li của người Biệt phái hay khiến họ quên điều chính yếu của lề luật: do Thiên Chúa ban truyền. Luật thánh nhằm nối kết con người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc lại ngọn nguồn và ư nghĩa của lề luật là ǵ. Lề luật nhằm tạo tương quan yêu thương với Thiên Chúa là T́nh thương; bởi đó t́nh yêu đồng đều Thiên Chúa ban phát cho mỗi người phải liên kết người ta lại với nhau bằng một phản ảnh của t́nh yêu ấy. Giới răn thứ nhất là kính mến Thiên Chúa và giới răn thứ hai giống như vậy yêu mến người lân cận. 1) Người ta có thể yêu mến Tuyệt đối được không? Có thể yêu mến Đấng xưng ḿnh bằng danh “Ta có” không? Thờ phượng Ngài th́ được, nhưng yêu mến Ngài? Thế nhưng tôn giáo Israel và Kinh thánh không ngừng diễn tả một tác động của tâm hồn phải gọi là t́nh yêu mến. Như vậy có nghĩa là mạc khải ban cho dân Thiên Chúa, khác hẳn các tôn giáo khác. Thông thường các dân chọn và tạo lấy cho ḿnh các huyền thoại, các thần thánh. Trong trường hợp Israel, chúng ta thấy chính Thiên Chúa đă chọn lấy một dân, hành động khởi đầu do từ Thiên Chúa đến và là một hành động yêu mến. Israel được kêu mời yêu mến một Thiên Chúa không phải trừu tượng xa vời, nhưng là sống động và có mặt điều khiển lịch sử của dân. Hiểu cho đúng, lề luật đă khơi động tiềm lực của trái tim. Ta sẽ đặt Luật Ta vào đáy ḷng chúng và sẽ viết lên trái tim chúng (Gr 31,33). Phải, người ta có thể yêu mến Tuyệt đối khi Tuyệt đối mang tên Thiên Chúa Israel. Do đó Chúa Giêsu quả quyết rằng giới răn thứ nhất là yêu mến Thiên Chúa. 2) Nhưng Thiên Chúa Israel đă có mặt và tích cực hoạt động trong lịch sử một dân tộc và trong tâm hồn các tín hữu, c̣n muốn hơn nữa, Con Thiên Chúa khi làm người ước ao được người ta yêu mến bằng tất cả tiềm năng của trái tim loài người. Yêu mến Đấng “Hằng có” được mạc khải cho Môi-sê là một giai đoạn đáng kể của quá tŕnh nhân loại vươn lên tới Thiên Chúa, nhưng chưa phải là tŕnh độ của Phúc âm. Từ Nhập thể Thiên Chúa đă làm người. Ngài có thể làm đối tượng cho toàn thể tác động thâm sâu bao gồm trí khôn, ư chí, cảm xúc, tóm gọn trong chữ “yêu mến” và tác động ấy đặt vào một ai có thể đến gần. Con Thiên Chúa đă đích thân đặt ḿnh vào chỗ khả năng yêu mến của con người có thể tới. Một sự kiện đầy ư nghĩa. Chúng ta đều biết tầm quan trọng của tên người mà ḿnh yêu trong khi yêu. Vậy mà Israel có lề luật tóm tắt trong việc yêu mến đă đánh mất cách đọc chân thật tên Thiên Chúa ḿnh. Người ta không biết danh hiệu “Giavê” có phù hợp với cách đọc nguyên thủy của tên Thiên Chúa hay không. Từ Phúc âm th́ không c̣n như thế nữa. Giáo hội (nghĩa là những người con ưu tú nhất của Giáo Hội) yêu mến Chúa ḿnh là Đức Kitô đến nỗi sẽ không bao giờ quên Tên mà chỉ đọc lên đă làm vui thỏa các thánh. Tên cực trọng Giêsu. 4. Khi hai mặt của đồng tiền bằng nhauNếu một cuộc trung cầu dân ư được hỏi ư kiến của mọi người xem ai là người đá banh hay nhất trong mọi thời, hoặc ai là diễn viên giỏi nhất, hoặc ai là nhà soạn nhạc giỏi nhất, th́ sẽ có rất nhiều ư kiến. V́ hôm nay những người đương thời với Chúa Giêsu đặt ra câu hỏi: điều nào trong lề luật là cao trọng nhất? Điều đó có một câu trả lời đơn giản hiển nhiên cho bất cứ một ngươiø Do thái sốt sắng nào. Dù cho lề luật của người Do thái rất nhiều những không có ǵ ngạc nhiên khi Chúa Giêsu trả lời: “Các người hăy yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa của các ngươi với hết tâm hồn, hết trái tim, hết trí khôn ngươi”. Những điều đáng ngạc nhiên là Chúa Giêsu đă nhấn mạnh thêm: “Các người sẽ yêu mến người láng giềng của các người như chính ḿnh”. Câu hỏi: “Lề luật nào là cao trọng nhất?” chỉ có một câu trả lời: Chúa Giêsu đă cho hai câu: - Câu trả lời đầu tiên được trích từ sách Đệ Nhị Luật đoạn 6 câu 2 - Câu trả lời thứ hai từ sách Lêvi đoạn 19 câu 18. Chúa Giêsu không nói một điều ǵ mới. Sự góp phần độc nhất của Người là nối kết hai điều luật, trong hai sách tách biệt của Thánh Kinh và làm chúng nên một. Sự nhấn mạnh của người là không thể có t́nh yêu thật, t́nh yêu Thiên Chúa thật, nếu không có t́nh yêu người láng giềng, t́nh yêu tha nhân, và không có t́nh yêu tha nhân nếu không có t́nh yêu Thiên Chúa. Hầu hết mọi người có ư ngay lành đều thường nghĩ dễ dàng hơn hoặc ít đ̣i hỏi hơn, để yêu mến Thiên Chúa th́ dễ hơn yêu mến con người. Sau hết chúng ta biết rằng Thiên Chúa là hoàn hảo. Nếu như chúng ta cảm thấy rằng Thiên Chúa không làm đúng bằng chúng ta, th́ những lỗi nằm trong sự thất bại của chúng ta, chúng ta dễ hiễu v́ chúng ta không phải là Thiên Chúa. Không thể nói về sự liên hệ của chúng ta với con người cách tương tự. Ngay cả những người mà chúng ta yêu mến cũng có thể làm phiền chúng ta lúc chúng ta đang t́m kiếm một chút b́nh an và thinh lặng, cản trở chúng ta khi chúng ta đang nói chuyện, hoặc khi chúng ta đang ḍ các kênh của TV, để t́m một chương tŕnh đặc biệt, lời lẽ hùng biện của chính trị có thể khiến chúng ta chống lại những người mẹ không kết hôn đang phải nhờ vào trợ cấp an ninh xă hội, hay là những người tự măn có thể ảnh hưởng chúng ta trong việc coi rẽ, khinh thường, những người không có việc làm và những người vô gia cư, và ư kiến chung có thể chuyển chúng ta tới một sự coi thường nền tảng sự sống con người qua việc phá thai, chết êm dịu, án tử h́nh. Nếu tôn giáo của chúng ta nhấn mạnh không ǵ hơn là đến nhà thờ cám ơn Chúa v́ những đặc ân Ngài ban và để cầu nguyện xin Ngài trợ giúp, điều đó sẽ hầu như luôn luôn là một sự thích thú và một kinh nghiệm dễ dàng. Nhưng ngay trong thánh lễ, chúng ta được kêu gọi để diễn tả t́nh yêu của chúng ta cho anh em đồng loại thấp kém hơn. Sau bài giảng chúng ta cất tiếng nài xin cho những dự định quảng đại được thực hiện. Chúng ta thường cầu nguyện cho những nhu cầu của Giáo hội, cho nhà cầm quyền, cho sự cứu độ của thế giới, cho những người bị bất công, bị cướp mất những nhu cầu, cho cộng đoàn địa phương của chúng ta. Lời cầu nguyện này là một phần hợp pháp trong sự thờ lạy Thiên Chúa giúp chúng ta làm viên măn lề luật yêu thương tha nhân, chúng ta trao cho nhau những dấu chỉ chúc b́nh an, và điều này thật sự là một lời cầu nguyện khiến chúng ta có thể hoàn tất sự hợp nhất và b́nh an với những người khác mà Chúa Giêsu trong Thánh Thể đă dự định dành cho chúng ta. Sự cám dỗ là tách biệt t́nh yêu Thiên Chúa ra khỏi t́nh yêu tha nhân. Chúa Giêsu sẽ không nghe những lời nguyện ấy. Lề luật yêu mến Thiên Chúa và lề luật yêu mến tha nhân tuy đă được giới thiệu trong hai sách riêng biệt của Thánh Kinh, nhưng chúng không được tách riêng trong trái tim của chúng ta, trong hành động của chúng ta. 5. Hàng ngàn giới răn?Một lần nữa những người Pharisêu muốn giăng bẫy Chúa Giêsu, kiểm tra giáo lư của Ngài, dồn Ngài vào chân tường, dẫn Ngài vào trong sự rắc rối của hàng ngàn luật lệ. Người ta sắp thấy điều Ngài biết, sắp thấy Ngài có dạy dỗ tốt điều cần phải dạy dỗ hay không. Chúa Giêsu thoát ra khỏi cái bẫy với một sự tự do, một sự trong sáng và một sức mạnh sáng tạo làm cho những người Pharisêu không nói được một lời nào. Ngài trích dẫn hai câu cổ điển: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa... Ngươi phải yêu thương anh em ngươi...”. Đây là câu trả lời đơn giản của học tṛ giỏi, nhưng Ngài rút ra từ đó hai điều mới lạ. Điều thứ nhất, Ngài đưa hai điều luật tới gần nhau bằng cách cho hai điều luật đó có tầm quan trọng như nhau. Kể từ giây phút này t́nh yêu thương anh em được nâng lên gần với t́nh yêu thương Thiên Chúa và sẽ không rời ra nữa. Điều thứ hai, Ngài làm cho viên ngọc duy nhất nay sáng lên bằng cách để cho nó ngự trị trên toàn bộ những điều chúng ta nghĩ và làm: tất cả đều tuỳ thuộc vào t́nh yêu. Việc kể ra nhiều những điều phải làm hoặc không được làm, làm phát sinh hàng ngàn câu trả lời cho một câu hỏi: tôi có thể yêu thương như thế nào? Chúa Giêsu nói tất cả những ǵ chứa đựng trong Kinh Thánh, lề luật và các tiên tri, và do đó tất cả những ǵ Thiên Chúa chờ đợi nơi chúng ta, phát xuất từ hai điều răn gắn với nhau này. Những người chẻ sợi tóc làm tư đă hỏi Ngài nay bị buộc quay về điều cốt lơi: “Hăy yêu thương”. Chúng ta cũng thế, chúng ta cảm thấy rằng tuân giữ hoàn toàn hai giới răn lớn này là một cách thức triệt để, nhưng có tính cách bó buộc đến nỗi chúng ta thích đi quanh co ở giữa hàng ngàn điều qui định. Đàng khác, những qui định này là cần thiết, “yêu thương” th́ quá mơ hồ, phải hun đúc yêu thương bằng những bó buộc khác nhau. Tôi phải biết rằng tôi thật sự yêu mến Thiên Chúa và anh em của tôi nếu tôi làm điều này điều kia. Nhưng thế rồi nổi lên một nguy cơ muôn đời: làm mất tác dụng sự bó buộc yêu thương bằng việc cứ nhắm mắt tuân thủ bó buộc đó. Với ít nhiều ư thức chúng ta lư luận theo cách này: nếu tôi làm tất cả những ǵ được yêu cầu th́ đă yêu thương rồi đó. Không đâu. Điều đó chưa đúng, bởi v́ điểm xuất phát th́ xấu. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng tất cả trước tiên tùy thuộc vào dự kiến triệt để đó là yêu thương. Chúng ta đừng bao giờ bắt đầu bằng hàng ngàn điều phải làm nhưng là bằng xác tín mà tất cả đều tuỳ thuộc vào đó: tôi phải yêu thương. Theo Tin Mừng, bí mật của cuộc sống là: trước hết phải thực hành yêu thương điều ǵ đó một cách hoàn toàn vô điều kiện. Thế rồi ư thức muốn yêu thương này sẽ dần dần hóa thân vào trong tất cả các biến cố, các cuộc gặp gỡ và các sự tuân phục –nhưng không đắm ch́m vào trong đó. Sẽ là bất hạnh nếu lại rơi vào trong sự âu lo và sự nô lệ hàng ngàn giới răn, sau khi đă nhận được từ Chúa điều răn ngắn nhất và tự do nhất trong số các điều răn của cuộc sống: Tôi có yêu thương hay không? 6. Điều cốt yếuCác cuộc tranh luận giữa bọn Biệt Phái về phương diện Giáo lư, đă đi tới chỗ quyết liệt nhất là khi t́m xem điều ǵ cốt yếu. “Giới luật nào quan trọng nhất?”. Bọn Biệt Phái hỏi Chúa như thế. Họ mong muốn Chúa sẽ tŕnh bày luật pháp là tạm thời, rồi mưu mô đề cao lời của Ngài để nhờ đó, họ có thể công kích hoặc nói rằng Ngài chỉ nêu lên một điểm trong toàn bộ luật pháp, và v́ thế họ cũng có thể làm Ngài thua cuộc. Nhưng Đức Kitô thấu triệt được thâm ư của họ. Ngài đi thẳng vào vấn đề: nghĩa là Ngài nêu lên điểm ǵ là quyết định, chủ yếu, đúng như lời Thiên Chúa đă dạy, tức là nêu lên một phương diện chung duy nhất đó là đức ái. Mến Chúa là điều cốt yếu. Điều cốt yếu không phải chỉ là khúm núm sụp lạy Thiên Chúa tạo hóa, cũng không phải là lời tuyên xưng tội lỗi của tội nhân, cũng không là cách chiêm niệm siêu thoát của một người đặc biệt, cũng không là ơn xuất thần của một tâm hồn huyền bí. Nhưng điều cốt yếu là đức ái, tức là ḍng nước t́nh ái giữa Chúa và ta. Đó là t́nh trạng hiệp nhất thâm sâu và nồng thắm, là ngọn lửa thánh thiện bừng cháy trong tâm hồn, là thái độ hiến thân trọn vẹn để được tan biến trong đấng duy nhất và oai nghiêm là Thiên Chúa. Yêu và được yêu là mầu nhiệm thâm sâu nhất của Tôn Giáo Chúa Giêsu. Ở đây không có vẻ rườm ra như một tôn giáo vị luật, nhưng Ngài chỉ quyết đáp một điểm về bản tính đích thực của luật. Tất cả những giới luật chi tiết khác phải hỗ trợ cho điểm trung tâm này. 10 giới răn chỉ là những đường hướng hoạt động khác biệt. Muốn tuân giữ các giới răn ấy, phải có một ḷng mến trung thực thấm nhuần tâm hồn và cảm năng, nghĩa là tâm hồn được ch́m đắm sâu xa trong vẻ cao trọng huyền nhiệm của Thiên Chúa. 7. Giới răn trọng nhất - Giáo Hoàng Học Viện Đà LạtCHÚ GIẢI CHI TIẾT "Biệt phái tụ họp lại một chỗ": Kiểu nói được dùng ở đây (“sunôthêsan epi to auto") là một trích dẫn nguyên văn từ Thánh vịnh 2,2: "Vua chúa trần gian dấy binh khởi nghĩa, vương hầu liên minh một khối (dịch sát chữ: "tụ họp lại một chỗ" (sunêthôsan opi to auto) chống lại Giavê và Chúa Kitô của Ngài". Thế mà, trong 26, 3 Mt sẽ c̣n dùng lại cùng động từ ấy (ở cùng một cách, một th́, một ngôi) để diễn tả âm mưu tại nhà Caipha giữa các thượng tế và các kỳ lăo nhằm giết Chúa Giêsu. Qua sự tương đồng ấy, Matthêu ngụ ư là những cuộc tranh chấp trong chương tŕnh này chỉ là mào đầu cho cuộc đối đầu quyết liệt sẽ đưa Chúa Giêsu đến thập giá. Những cuộc tụ họp như vậy của các đầu mục trong dân hay được Matthêu nhắc lới (2, 4; 22, 41; 26, 3. 57; 27, 62; 28,12) và thường là điềm dữ. "Để làm Người lúng túng": dịch sát chữ: "Để thử Người" Matthêu cũng dùng động từ này (pelrazein) ở 22, 18 nơi kể lại chuyện người ta "thử" Chúa Giêsu về vấn đề nộp thuế cho hoàng đế. Rơ ràng luôn luôn là dùng cạm bẫy trong cả đoạn. "Giới răn nào lớn nhất trong Lề luật": Lời giải thích được yêu cầu thật đặc biệt quan trọng, v́ đây không phải là giải thích một trường hợp cụ thể, đặc thù nhưng là làm sáng tỏ một đ̣i hỏi luân lư trong chính bản chất của nó. Bản văn hy ngữ dịch sát chữ như sau: Đâu là giới lăn lớn trong Lề luật. Nhưng h́nh thức nguyên cấp (positio của tĩnh từ lớn (megalê) có giá trị tuyệt đối cấp (superlatio, như thường thấy trong Hy ngữ b́nh dân (Koinè) và trong bản 70 chịu ảnh hưởng của Hy bá, nhất là nếu sau nó có một danh từ tập hợp, ở đây là Lề luật, hiểu theo nghĩa toàn bộ các giới răn. "Ngươi phải yêu mến ...". Trong việc triệt để hóa Lề luật này, không có vấn đề đơn giản hóa bằng cách loại bỏ những điều lệ phụ tùy (mà Chúa Giêsu lẫn môn đồ đều tuân giữ) cho bằng là nhắc lại ư nghĩa của các giới răn, và cho thấy chúng bắt nguồn từ trong ư định tối cao của Thiên Chúa. C̣n về h́nh thức phát biểu của giới răn này, đừng t́m cách phân tích đâu là những phạm vi tương ứng của ḷng, của linh hồn, của trí khôn: ư nghĩa trùng tích của các thành ngữ là: t́nh yêu phải có tính cách toàn diện, nghĩa là phải động viên tất cả con người; dầu sao, chỉ cần một từ ngữ thôi, như "ḷng" chẳng hạn, cũng đủ để ám chỉ toàn thể con người; các tiếng khác thuộc về kiểu nói hùng biện; ḷng và tư tưởng (hy lạp: dianoia) là tiếng dịch chữ ḷng (hy bá: leb) của Cựu ước; không nên nghĩ đến một chức năng đặc biệt nào đó của trí tuệ suy luận; trí tuệ được vận dụng v́ toàn thể con người dấn thân. "Đó là giới răn lớn, giới răn đệ nhất": Chữ "và" nối liền hai tĩnh từ lớn và đệ nhất chắc có nghĩa giải thích hơn là có nghĩa cộng thêm: giới răn này đứng đầu hết v́ nó quan trọng nhất xét về nội dung và ngược lại; tĩnh từ đệ nhất không muốn nói là giới răn đứng đầu nhiều giới răn khác nhưng là đứng đầu tất cả xét về phương diện ư nghĩa, v́ chính nó đem lại ư nghĩa đích thực cho mọi giới răn. Bởi vậy kiểu nói thứ đến cũng giống như điều ấy chẳng có nghĩa là: ở hàng thứ hai xét về bậc quan trọng, nhưng là: cũng quan trọng như giới răn thứ nhất; giới răn thứ hai không thể so sánh, hay tương tự như giới răn thứ nhất, song là ngang hàng xét về tầm quan trọng cửa cái mà nó dạy truyền; tuy nhiên nó không đồng nhất theo nghĩa có thể chuyển hoán: t́nh yêu tha nhân chẳng được đồng hóa với ḷng yêu mến Thiên Chúa, nhưng yêu mến tha nhân cũng khẩn thiết như mến yêu Thiên Chúa. “Toàn thể Lề luật cùng các sứ ngôn": Chúa Giêsu hoàn toàn đứng trên lănh vực các Sách thánh đă được ban cho tổ tiên dân Do thái. Người không phát minh điều ǵ; tầm quan trọng của hai giới răn này dựa trên sự kiện chúng tóm kết tất cả các Sách Thánh; nhưng đàng khác, Chúa Giêsu đă tái giải thích các Sách Thánh ấy khi mặc khải ư nghĩa thâm sâu của chúng ra (x Rm 13, 9). KẾT LUẬN Cái mang lại cho giới răn này uy tín và sự cao cả, chính là v́ Chúa Giêsu đă phát biểu nó lên và cho nó là lớn lao, quan trọng. Người không mang đến (hay chưa mang đến) một giới răn mới mẻ, nhưng Người mặc cho giới răn cũ giá trị đích thực củ a nó. Câu trả lời của Chúa Giêsu không phải là câu trả lời của một kư lục, song là của Chủ lề luật. Chính người công bố nó và hoàn thành nó (5,17). Và chính việc người hoàn thành Lề luật đă đem lại cho Lề luật một tính cách mới mẻ thực sự. T́nh yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân không phải chỉ là hai thái độ nhân loại được truyền làm; chúng được hiện thân trong con người của Chúa Giêsu. Chính v́ đến để hoàn tất Lề luật và các ngôn sứ qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh, mà Người có thể tuyên bố với uy quyền rằng tất cả nội dung của Cựu ước đều được “quy về" giới răn mến Chúa và yêu người. Chính trong Người mà không những Lề luật dưới h́nh thức giới răn, nhưng cả lời hứa về ân sủng đă do các ngôn sứ loan báo, đều t́m được sự thành tựu. Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG 1) Yêu tha nhân không có nghĩa là yêu họ chỉ v́ Thiên Chúa đ̣i buộc, chỉ v́ để vâng lời Ngài. Mối dây Chúa Giêsu thiết lập giữa hai giới răn chẳng phải là một mối dây ngoại tại, pháp lư, tự ư người bày ra, song là nằm trong lư luận của Thiên Chúa, trong chính bản chất của sự vật mà Ngài đă tạo dựng, rằng là ta không thể yêu Ngài mà yêu anh em. Và không phải làm như thể là v́ anh em, mà trong thâm tâm lại làm v́ Thiên Chúa. Thiên Chúa đích thực chẳng phải là sản phẩm của những ước vọng và những tưởng tượng đạo đức của con ngươi. Ngài đă đi vào trong lịch sử của chúng ta đă can thiệp vào đó bằng cách trở nên liên đối với con người. Ngài đồng hóa với con người (Cv 9, 5: "Ta là Giêsu người đang bắt bớ") đến nói từ đây ta không thể phân biệt Ngài khỏi con người nữa. Thành thử khi thực sự yêu tha nhân v́ họ (như Thiên Chúa yêu họ v́ họ chứ chẳng phải v́ Ngài, v́ t́nh yêu này không đem lại cho Ngài ǵ cả) ta sẽ yêu Thiên Chúa v́ Ngài. Chỉ có một t́nh yêu, cũng như con người chỉ có một quả tim, một tấm ḷng. 2) Một cách cụ thể, phải yêu tha nhân thế nào? Chẳng phải bằng t́nh cảm (v́ có một vài thứ ác cảm tự nhiên hầu như không thể vượt qua) cho bằng là qua thái độ và hành động. Thánh Phaolô đă mô tả cho chúng ta ḷng bác ái đích thực như sau: "Đức ái th́ khoan dung, nhân hậu; đức ái không ghen tương; ba hoa, tự măn, không khiếm nhă, không ích kỷ; không cáu kỉnh, không chấp nhất sự ác, không mừng trước sự bất công, nhưng biết chia vui cùng lẽ phải. Trong muôn sự, đức ái hết ḷng bao dung, hết ḷng kính tin, hết ḷng trông cậy, hết ḷng kiên nhẫn" (1Cr 13, 4-6). Khi t́m cách tha thứ lỗi lầm của tha nhân, khi luôn hy vọng họ trở nên tốt hơn cho dù bề ngoài thế nào chăng nữa, khi chấp nhận họ như họ đang là, lúc đó chúng ta mới thương yêu thực sự, lúc đó chúng ta mới thật là con cái của Thiên Chúa. 8. Vấn đề giới răn trọng nhất - Fiches DominicalesVÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI: 1. Vấn đề cạm bẫy về “điều răn lớn nhất” Ba dụ ngôn về xét xử mà chúng ta đă suy niệm trong các Chúa nhật 26, 27 và 28 đă chẳng làm cho các kẻ thù địch Chúa phải câm miệng, mà con châm ng̣i một loạt các cuộc tranh căi khác. Họ liên minh với nhau và lần lượt thử Chúa cốt làm cho Người phải rơi vào bẫy của vấn đề họ đặt ra. Trước hết -Phúc âm tuần rồi- là sự xoay sở của đám "môn đệ những người Pharisiêu cùng đi với những người phe Hêrôđê". Họ tới hỏi Chúa một câu, bấm bụng rằng bẫy đặt ra như vậy là không tài nào tránh thoát: "Xin Thầy cho biết ư kiến có được phép nộp thuế cho César hay không?”. Nhưng Đức Giêsu chẳng để ḿnh bị kẹt chút nào trong thế lường đao của họ, mà đă chuyển hướng vấn đề, và nh́n vào h́nh tượng in trên đồng tiền mà họ đưa cho coi Người đă tuyên bố: "Của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Một câu trả lời đă khiến cho đối phương của Người không nói thêm được câu nào nữa: “Họ ngạc nhiên, và để Người lại đó mà đi". Tiếp đến -đoạn chuyển tiếp không có trong sách Bài đọc năm A- là ngón xoay sở của những người "phe Sadducée”? nhóm này chủ trương "không có sự sống lại". Họ đem câu chuyện kỳ cục về một phụ nữ, có bảy đời chồng, hy vọng chế giễu chính Đức Giêsu, và ḷng tin vào sự sống lại. Nhưng Đức Giêsu đă nhắc lại cho họ điều Thiên Chúa mạc khải trong câu chuyện về bụi gai rực cháy ở sách Xuất Hành 3,6: Đấng đă tỏ ḿnh ra với ông Môsê như là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Khi nghe tin Đức Giêsu "đă làm cho nhóm Sadducée phải câm miệng", th́ đến lượt những người Pharisiêu trở lại vào cuộc. Nhưng lần này là một nhóm; một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để "thử Người" rằng: "Thưa Thầy, trong sách luật Môsê, điều răn nào là điều răn lớn nhất”. Nên biết rằng, thời đó, sách Luật gồm, không hơn kém 613 điều răn; các kinh sư phân ra 365 điều cấm (bằng với số ngày trong năm) và 248 điều truyền (bằng với số bộ phận trong cơ thể con người). J.Potin giải thích: "Cuộc tranh luận về điều răn nào lớn nhất tạo nên mối xung khắc giữa những người Pharisiêu chủ trương 613 điều răn đều quan trọng như nhau, với những ai ước mong phải có tôn ti đẳng cấp, rơ hơn có thể giải thích cho người ngoài biết đâu là điều cốt yếu là bản chất của đạo”. (Đức Giêsu, lịch sử đích thực", NXB Centurion, 1994, trang 376). 2. Dẫn vào điểm cốt lơi của Tân Ước. Đức Giêsu đă trả lời thật khôn khéo vấn đề của những người Pharisiêu về việc nộp thuế cho César - Người đă trích dẫn Lời Chúa để phá vỡ mưu đồ của những người phe Sadducée. C̣n về giới răn lớn nhất, th́ câu trả lời Người là thẳng thắn, không do dự, nhắm thẳng đích. Đức Giêsu không nhắc nhở họ về lời ban bố của sách xuất Hành, đoạn 20: Mười Điều răn Đức Chúa Trời. Người trích dẫn hay đúng hơn, Người đọc thuộc ḷng lời tuyên xưng ḷng tin của sách Đệ Nhị Luật 6,4-5 mà mọi người Do Thái vẫn đọc khi đi ngủ cũng như khi thức dậy; lời này được ghi trên các thẻ linh mà những người Pharisiêu vốn đeo trên trán là trên cánh tay một lời khẳng định tính cách duy nhất của Thiên Chúa mà theo sau là giới răn yêu mến Thiên Chúa, một t́nh yêu phải thấm nhập vào tận đáy ḷng, sức lực và ư nghĩ: "Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hăy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết ḷng, hết dạ, hết sức anh em...” Nhưng điểm độc đáo của Đức Giêsu là Người gắn liền "điều răn thứ nhất" này với điều răn thứ hai: ‘cũng giống điều răn ấy’: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh" (Lv 16,18). Làm như vậy không những Người diễn tả được "Tất cả Luật Môsê và các sách Ngôn sứ nghĩa là tập trung tất cả vào hai giới răn đứng đầu này, không có vậy th́ mọi điều răn khác đều mất hết ư nghĩa, nhưng Người c̣n tỏ cho thấy bí quyết của chính cuộc đời Người, một cuộc đời tự hiến v́ yêu mến Cha và yêu thương các anh em của Người. Cl Tassin chú giải: "Hai điều răn này chi phối toàn bộ Kinh Thánh (Luật Môsê và sách Ngôn sứ) không phải để băi bỏ Kinh Thánh, nhưng là để đọc Kinh Thánh mà thấy rơ hơn. Và, trong Kinh Thánh, ḷng yêu mến không dính dáng ǵ với thứ t́nh cảnh bồng bột, đổi thay tuỳ cảm xúc; ḷng yêu mến đây chính là sự quyết định gắn bó với một ai đó mà ḿnh cho người ấy có quyền trên ḿnh và là những hành động cụ thể nuôi dưỡng quyết định này... không bao lâu nữa Đức Giêsu sẽ dùng cuộc khổ nạn của Người "và chứng tỏ rằng Người là hiện thân chính ḷng yêu mến Thiên Chúa là ḷng yêu thương mọi người này" ("Phúc âm thánh Matthêu”, NXB Centurion, trang 236). BÀI ĐỌC THÊM 1) “Một lời để ghi nhớ: Ngươi phải yêu mến” (Giám mục L. Daloz "Le Règne des Cieux sest approché". Desclée de Brouwer, trang 309-311). Đúng là hai điều răn: điều răn thứ nhất là điều răn lớn. Điều răn thứ hai cũng quan trọng không kém. Có nghĩa là những giới răn ấy không cho phép ta tuỳ thích. T́nh yêu mà những giới răn ấy nói tới, đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân không phải là một thứ t́nh cảm trôi nổi tuỳ theo tính khí của ta. T́nh yêu là một sự cam kết lớn lao, một sự dâng hiến chính ḿnh, hiến mạng sống ḿnh. T́nh yêu không dừng lại ở nửa đường, mà đi cho tới cùng giống như đám lửa cháy. Giới răn ấy khơi dậy t́nh yêu khi mà thường t́nh và một cách tự nhiên tính lănh đạm hay chối từ có nguy cơ thống trị. Giới răn ấy là như tia lửa làm bùng lên đám cháy, giới răn ấy nâng đỡ t́nh yêu khi nỗi chán chường hay thói quen sẽ làm cho t́nh yêu ra nguội lạnh hoặc tàn lụi. Giới răn ấy làm bừng lên nhuệ khí khi t́nh yêu chân thực đ̣i hỏi nhiều hy sinh, quên ḿnh. Nhờ tương phản và hỗ trợ giữa t́nh yêu và giới răn này mà đời sống ta được thăng tiến! Giới răn yêu thương có hai mặt hai mặt mà không tách biệt nhau như mu và ḷng bàn tay: Điều răn thứ hai cũng giống, cũng quan trọng như điều răn thứ nhất, là: "ngươi phải yêu người thân cận, như chính ḿnh". Chỉ có một ḿnh Chúa là Đấng ta phải yêu mến cách tuyệt đối, hơn cả chính ḿnh ta, hết ḷng, hết linh hồn và hết tn khôn ta. Khi yêu mến Chúa hết ḿnh, vượt khỏi chính ḿnh, ta được vào trong t́nh yêu Chúa ban tặng, được sống trong t́nh yêu của Người, ḷng ta mở ra hướng về vô biên, và con người được tạo nên cho cơi vô biên, bởi lẽ Thiên Chúa muốn thông phần sự sống của Người cho con người, muốn thần hoá con người! C̣n về người thân cận, Đức Giêsu truyền phải yêu người thân cận, như chính ḿnh. Đây không phải là một sự so sánh b́nh thường, mà c̣n hơn thế nữa. Không chỉ đơn giản là muốn và làm cho người thân cận điều ta muốn cho ta. Đức Giêsu đă đưa ra một điểm son, một khuôn vàng thước ngọc: "Vậy tất cả những ǵ anh em muốn người ta làm cho ḿnh, th́ chính anh em cũng hăy làm cho người ta, v́ Luật Môsê và lời các Ngôn sứ là thế đó" (Mt 7,12). Giới răn thứ hai thật minh bạch và đi xa hơn. Giới răn ấy đ̣i ta yêu mến người thân cận như người ấy là chính ta, là ta đồng hoá với người ấy. Nó diễn tả một sự hiệp thông giữa hai hữu thể, giữa hai cuộc sống, giữa anh em trong một nhà, trong một gia đ́nh Thiên Chúa. Nếu tôi không yêu mến người thân cận của tôi, nếu tôi khinh chê người ấy, chính là tôi gây thiệt hại cho bản thân tôi. Yêu người thân cận như chính ḿnh, chính là tôi dành cho tôi một t́nh yêu tuyệt vời. Thế nên, và nhất là có điều răn ấy, thật là điều hạnh phúc! Bởi lẽ khi tôi yêu mến người giống như tôi, người mà tôi nhận ra tôi nơi con người ấy, th́ tôi cũng được người ấy đáp lại bằng ḷng yêu mến tự nhiên, bằng mối thịnh t́nh theo nghĩa mạnh nhất, c̣n nếu theo bản năng tôi ngờ vực một người, th́ người ấy có thể trở thành một đối thủ, một người cạnh tranh, một kẻ thù của tôi. Lịch sử từng minh chứng những biến cố thật lớn lao đượm t́nh huynh đệ, cũng như những cuộc bùng nổ dữ dội nhất từng châm ng̣i cho thù hận giữa con người. Điều răn thứ hai quả là cần thiết, và rất cần thiết nên Đức Giêsu mới dùng tất cả những lời lẽ trang trọng mà tuyên bố là điều răn ấy cũng giống như điều răn kia, cũng quan trọng không kém. Người đă đặt con người vào đúng tước vị của nó là h́nh ảnh và là con Thiên Chúa? Quả thực, đây cũng là điều đơn giản và chắc chắn Chúa muốn ta tham khảo. Yêu mến thế nào, thường là điều phức tạp; bạn phải t́m kiến, nhận thức rơ, kiểm soát những t́nh cảm tốt xấu của bạn, chứ không được miễn trừ. Bạn hăy luôn luôn phải t́m xem để yêu mến thế nào cho đúng sự thật; cần được học hỏi về điều này. Nhưng nếu bạn có một ư chí muốn yêu thương, nếu để cho ngọn lửa của Thánh Linh điều động cuộc đời bạn, th́ bạn sẽ thấy con đường phải đi và phương cách để làm. Bạn hăy t́m kiếm hết ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn bạn. Bạn hăy t́m kiếm như cho chính ḿnh th́ bạn sẽ gặp! 2. “Một từ tóm tắt tất cả Phúc Âm: yêu mến” (H. Denis "100 mots pour dire la coi" Desclée de Brouwer, trang 31-32). Khi nói đến yêu, tôi vốn thích dùng động từ Yêu mến, nó có tính cách chủ động và tích cực, hơn là dùng từ T́nh yêu một từ rất đẹp nhưng cũng rất dễ bị phê phán. Làm sao có thể là tín hữu mà lại không yêu mến? Làm sao có thể nhận biết Thiên Chúa của chúng ta nếu Người không phải là Đấng yêu mến chúng ta? Nhưng vậy th́ có nhiều cách yêu mến 'không" Chắc hẳn là có rồi, nên trong vấn đế này, tôi vẫn cứ theo gót" nhà sư phạm trứ danh là thánh Augustino. Ngài phân biệt ba tŕnh độ trong hành vi yêu mến. Tŕnh độ thứ nhất, thấp nhất, không có ư nói là xấu nhất: Thích được yêu (aimer tres aimé). Bạn hăy nói cho tôi hay, có ai mà lại không thích điều đó không? Phải là con người hư hỏng môi dám nói ngược lại. Mọi người đều như vậy thôi; nhưng cuộc sống cũng đă dạy cho ta rằng t́nh yêu c̣n phải là cái ǵ khác hơn là niềm khoái chí (tự tôn kia). Tŕnh độ thứ hai: Thích yêu (aimer aimer). Ta hăy tạm dịch ở đây là: lấy làm vui khi yêu mến người khác. Ở bậc này, người ta có ra khỏi ḿnh một chút, có quảng đại có vị tha. Chúa ơi, thật vui và đẹp biết bao khi làm được một việc thêm khi xả thân, và đôi khi đi tới chỗ đóng vai con chim bố nông tự để cho con da thịt ḿnh. Ngay ở điểm này, ai lại không muốn nhận khen thưởng chúng. Bạn hăy nói cho tôi hay bạn có đủ can đảm để đi thăm một 'bệnh nhân nào đó, di uỷ lạo một cảnh khốn này, chẳng t́m thấy được ở đó một điều ǵ khích lệ chăng? Nhưng bạn hăy coi chừng. Tất cả thái quá trong lănh vực này - quảng đại thái quá - có lẽ là một h́nh thức tự tôn tự đại của ḷng yêu mến chính ḿnh đó thôi. C̣n tŕnh độ thứ ba: Yêu (aimer). Có thế thôi. Yêu mến người khác v́ chính họ, không phải v́ ta làm điều tốt cho họ, không phải v́ làm cho nhân đức của ta lớn lên. Không phải thế, bởi lẽ xét cho cùng, người ta không yêu mến v́; ta yêu là yêu thôi. Đó mới là đỉnh cao của "t́nh cho không, biếu không". Hăy nh́n nhận điều này: Ta chẳng mấy khi đạt tới tŕnh độ đó. Chỉ có một vị đă hiến thân chỉ v́ yêu mà thôi, một Đức Giêsu ấy muốn lấy bản tính nhân loại của ta, một Đức Giêsu ấy mới ban cho ta Thần Linh t́nh yêu, khi Người tắt thở, một Đức Giêsu ấy mới có thể sáng nghĩ ra nhân vật Samaritano nhân lành yêu thương mà không đ̣i đáp trả và h́nh dung ra một người Cha đang mở rộng ṿng tay đón nhận đứa con đi hoang trở về. Nếu phải cần đến một từ để tóm tắt cả Phúc âm, đó là: Yêu mến.
9. Mến Chúa yêu ngườiQua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, Chúa Giêsu đă cho chúng ta thấy giới răn thứ nhất đó là hăy kính mến Thiên Chúa hết ḷng. C̣n giới răn thứ hai cũng quan trọng như giới răn thứ nhất, đó là hăy yêu thương anh em như chính ḿnh vậy. Tuy nhiên đọc lại Phúc âm, chúng ta có cảm tưởng dường như Chúa Giêsu đặc biệt nhấn mạnh tới giới răn thứ hai. Ngài đă coi việc yêu người là cách thức để biểu lộ t́nh mến Chúa. Thực vậy có lần Ngài đă phán: Mỗi khi lên đền thờ dâng của lễ mà sực nhớ người anh em có điều chi bất b́nh với ngươi th́ hăy để của lễ đó, trở về làm hoà với người anh em ḿnh trước đă rồi mới tới mà dâng của lễ sau. Hơn nữa mỗi hành động bác ái yêu thương chúng ta thực hiện cho người anh em là chúng ta thực hiện cho chính Chúa. Thế nhưng đặc điểm của ḷng yêu người là ǵ? Tôi xin thưa: đó là tinh thần phục vụ. Phục vụ một cách nhưng không, một cách vô vị lợi, không cần đền ơn báo đáp, không mưu cầu danh vọng địa vị hay được bù lỗ cách này cách khác. Chính Chúa Giêsu đă từng làm gương cho chúng ta: Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống ḿnh làm giá cứu chuộc cho nhiều người. T́nh yêu Ngài dành cho chúng ta thật cao cả, bởi v́ Ngài đă hiến mạng sống Ngài cho chúng ta. Hơn thế nữa, Ngài c̣n đ̣i hỏi các môn đệ, những kẻ bước theo Ngài cũng phải sống tinh thần phục vụ như thế. Trong bữa Tiệc Ly, sau khi đă quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, th́ Ngài đă nói với các ông: Nếu Thầy đă rửa chân cho các con, th́ các con cũng phải rửa chân cho nhau. Từ những điều vừa tŕnh bày chúng ta đi vào một vấn đề thời sự nóng bỏng trong giáo xứ, đó là vấn đề bầu ban hành giáo. Khi thi hành chức vụ của ban hành giáo, th́ một trật chúng ta thể hiện tinh thần phục vụ đối với Chúa cũng như đối với người khác tại cộng đồng giáo xứ. Trong những ngày qua, tôi rất xúc động v́ có những bà mẹ, những bà vợ, biết ḿnh không thể ra ban hành giáo được, cho nên đă tích cực động viên chồng con của ḿnh. Một bà vợ th́ nói: Tôi rất mừng khi thấy ông ra ứng cử, bởi v́ khi đă vào ban hành giáo, ông sẽ đạo đức hơn và chừa bỏ được những thói hư tật xấu của ḿnh. Một bà mẹ th́ bảo: Mẹ cho con ăn học và mong con sẽ làm được một cái ǵ lợi ích cho đời. Thế nhưng dưới một góc độ khác, chúng ta không khỏi lo âu và băn khoăn, v́ suốt hơn hai tháng cổ động mà hiện giờ, khu vực Thánh đường Vô Nhiễm vẫn c̣n khiếm khuyết một ứng cử viên. Trong giáo xứ rất nhiều người hội đủ điều kiện, có dư thiện chí và tinh thần phục vụ, nhưng v́ hoàn cảnh, v́ lư do này lư do khác, đă không thể ra được. Chúng ta hoàn toàn thông cảm với những anh em có lư do chính đáng. Thế nhưng cũng có những người mạnh miệng tuyên bố, nhưng rồi khi đến việc lại chẳng thấy đâu, cho nên sự thể có những tên gọi vừa khôi hài lại vừa chua chát, chẳng hạn như: chánh lặn, chánh chuồn, chánh né… Như thế xem ra phục vụ bằng mồm th́ dễ hơn phục vụ bằng hành động, bằng việc làm. Một trong những lư do thường được đưa ra để chuồn, để lặn, để né đó là bà xă. Thực sự th́ hiện nay, gia đ́nh nào mà chẳng có những khó khăn, đă ra gánh vác việc chung th́ thế nào cũng phải chấp nhận hy sinh một phần công việc nhà. Mà các bà th́ vốn tham lam, muốn độc quyền, không muốn ông xă của ḿnh bị chia sẻ, bị hy sinh, cho nên đă ngáng chân, đă làm kỳ đà cản mũi, để ông xă đừng ra. Bởi v́ nếu ông xă mà ra, sợ ông ấy quá siêng năng việc chung mà bê trễ việc riêng, nhất là những khi mùa màng dồn dập, cho nên khi có người đến vận động th́ tay chân dăy lên đành đạch và miệng th́ chối bai bải. Hành động như thế, chứng tỏ chúng ta thiếu tinh thần phục vụ, thiếu trách nhiệm chung, cũng như thiếu tin tưởng vào Chúa, bởi v́ Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi những kẻ phục vụ Ngài. Bằng chứng cụ thể là rất nhiều vị chánh, vị phó, vị trùm, vị quản trong những năm phục vụ giáo xứ, kinh tế gia đ́nh vẫn không bị suy giảm, mà hơn nữa lại c̣n tậu đất, sắm tivi cassette, mua máy bơm, máy suốt cũng như máy cày, như vậy cũng vẫn ăn nên làm ra, cả về tiền bạc cũng như về con cháu. Để kết luận tôi xin mượn lời kinh hoà b́nh của thánh Phanxicô Assie: Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. 10. Yêu thươngNgày xưa có một hoàng tử trẻ sống trong lâu đài tráng lệ. Vào một đêm mùa đông, một bà lăo ăn xin lỡ đường, muốn trọ qua đêm, đă bị hoàng tử từ chối. Chẳng may, bà lăo lại là một bà phù thủy. Để phạt tội hoàng tử không có ḷng thương người, bà đă biến chàng thành một con mănh thú, h́nh tượng xấu xí và hung dữ. Trước khi ra đi, bà cho con mănh thú một lời hứa sẽ biến trở lại thành hoàng tử nếu có ai thực sự yêu thương mănh thú. Trong ngôi làng gần chỗ con mănh thú ở, có một thiếu nữ xinh đẹp tên là Belle. Cô mồ côi mẹ, sống với cha già. Cha già con mọn bị đám thợ săn thường xuyên quấy phá. Một ngày nọ, cha cô vào rừng săn thú, đi lạc vào lâu đài, bị mănh thú bắt giữ. Nhờ con ngựa khôn ngoan đă dẫn cô t́m được cha. V́ thương cha, cô chấp nhận đổi mạng, ở lại sống với con mănh thú để người cha được tự do ra về. Về đến nhà, người cha đă kết hợp với bọn thợ săn t́m cách giết con mănh thú để cứu con gái. Trong khi đó cô gái bắt đầu quen thân, tṛ chuyện và đem ḷng yêu mến mănh thú, tuy rất đau khổ phải xa cách người cha. C̣n mănh thú v́ yêu thương cô gái, không nỡ để cô sống trong đau khổ, nên đă đồng ư thả cô về nhà với cha. Chiến trận ác liệt đă xảy ra giữa bọn thợ săn và con mănh thú. Đang khi giao chiến với bọn thợ săn, mănh thú bị thương nặng. Sau khi về thăm cha già, cô gái thương nhớ con mănh thú và quyết định trở lại tiếp cứu. Cô đến đúng khi mănh thú bị thương, đang quằn quại trong đau đớn. Cô năn nỉ: “Không! Xin đừng chết! Mănh thú ơi ta yêu mi!” Rồi cô ôm hôn lên mặt mănh thú. Nhờ nụ hôn yêu thương đó, mănh thú biến trở lại thành một hoàng tử khôi ngô tuấn tú như trước. Đó là câu chuyện t́nh đẹp đẽ được tóm lược trong cuốn phim hoạt h́nh “The Beauty and the Beast”, “Mănh Thú và Giai Nhân”. Câu chuyện trên nói lên sức mạnh cứu độ của t́nh yêu. T́nh yêu có khả năng giải thoát và biến đổi con người. Thật vậy! Hầu hết những vấn đề rắc rối và thảm kịch xẩy ra trên thế giới đều do thiếu t́nh thương. Rất nhiều phạm nhân đă gây nên tội ác chỉ v́ không thể ban tặng hay đón nhận t́nh yêu thương. Điều mỗi con người đều khao khát, ước ao và cần đến là t́nh yêu. Thánh Kinh dạy rằng,:Thiên Chúa là T́nh Yêu”. T́nh yêu là bản chất của Thiên Chúa. Và bởi con người được dựng nên theo h́nh ảnh của Thiên Chúa, nên cũng luôn khát khao và t́m kiếm t́nh yêu. Dựa trên nhu cầu căn bản này của con người, trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu đă dạy cho những người Biệt phái biết điều răn duy nhất của đức ái, sự viên măn của lề luật: “Yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn…” Điều răn thứ hai là:”Yêu thương kẻ khác như chính ḿnh ngươi”. Câu chuyện được kể về một đôi vợ chồng tới gặp cha sở và nói: “Thưa cha, chúng con sắp ly dị, nhưng chúng con muốn xin cha cho chúng con biết ư kiến?” Cha sở suy nghĩ giây lát rồi quay sang hỏi người chồng: “Thánh Kinh dạy rằng con phải yêu thương vợ con như Chúa Giêsu Kitô đă yêu thương Hội Thánh. Con có thể thực hành được điều đó không?” Người chồng thưa: “Thưa không. Con không nghĩ con giữ được điều đó”. Cha sở nói: “Vậy th́ con hăy bắt đầu ở mức độ thấp hơn vậy. Thánh Kinh dạy rằng con phải yêu thương người lân cận như yêu chính ḿnh. Con có thể yêu thương vợ con một cách tối thiểu như vậy được không?” Người chồng nói, “Thưa cha không. Điều này cũng c̣n quá cao!” Một cách tuyệt vọng, sau cùng cha sở đành nói: “Thánh Kinh cũng dạy rằng, con hăy yêu thương kẻ thù của con, thôi con hăy về nhà và bắt đầu từ đó đi!” Nhóm Biệt phái, đa số gồm các luật sĩ, chủ trương phải tuân giữ các luật lệ của Cựu Ước và cộng thêm khoảng 613 luật lệ do truyền thống của các thầy Rabbi. C̣n nhóm Sađđucêô chỉ tin vào các luật lệ và các tiên tri mà thôi, không tin vào truyền thống của các thầy Rabbi. Câu hỏi được đặt ra cho Chúa Giêsu: “Trong luật lệ, giới răn nào quan trọng nhất?” đă được tranh căi giữa những người Biệt phái và Sađđucêô. Âm mưu của nhóm người Biệt phái nhằm gài bẫy Chúa Giêsu vào những trường hợp xung khắc khó giải quyết giữa các phe nhóm tôn giáo và chính trị để tiêu diệt Ngài. Tâm hồn họ mang nặng thù hận và ích kỷ đang khi bề ngoài giả vờ bàn hỏi về những giới luật yêu thương! Chàng ca sĩ nhạc pop, Cliff Richard sau một chuyến viếng thăm trại tị nạn Bihari ở Bangladesh trở về nhà đă kể lại một biến cố cảm động như sau: “Buổi sáng đầu tiên ở trại tị nạn, tôi phải rửa tay hàng chục lần. Tôi đă không dám đụng vào bất cứ cái ǵ, nhất là dân chúng. Mọi người ở trong những trại tị nạn đó đều bị ghẻ lở. Toàn thân đầy mụn nhọt. Tôi đang cúi xuống với một em bé gái, mục đích chính chỉ là chụp vài tấm h́nh để phô trương với bè bạn. Tôi đă cố gắng hết sức đừng cúi xuống quá gần kẻo đụng chạm vào người em. Ngay lúc ấy, một người nào đó t́nh cờ đạp lên những ngón chân của em. Bé gái hét lên, và như một phản xạ, tôi nắm lấy em, quên đi sự bẩn thỉu dơ dáy và đầy mụn nhọn trên người em. Tôi nhớ măi một thân h́nh nhỏ bé và ấm áp bám chặt vào tôi, ngay lập tức tiếng khóc ngưng bặt. Từ đấy, tôi biết rằng tôi c̣n phải học hỏi rất nhiều điều thực tế về t́nh yêu Kitô giáo, nhưng tối thiểu ǵ tôi cũng đă bắt đầu. Một nhà tâm lư học nổi tiếng đă đưa ra nhận xét rằng việc yêu thương một người khác là điều thử thách lớn nhất trong mọi sinh hoạt của con người, v́ nó đ̣i hỏi phải hy sinh và từ bỏ bản thân ḿnh. Chính v́ những đ̣i hỏi này nên có nhiều người đă chưa bao giờ yêu người khác một cách thực sự. Hoặc có thể đă yêu, nhưng sau đó gặp đau khổ, họ đă tháo lui. Để thực sự yêu thương một người khác ở mức độ sâu xa, cần phải có sức mạnh để tiến tới việc chia sẻ chính cuộc sống của ḿnh. Đó chính là t́nh yêu hướng về Thiên Chúa và tha nhân được Chúa Giêsu đề cập đến. 11. Yêu thươngVào ngày kỷ niệm 25 năm thành hôn, Abigail Van Buren, đă xin đăng trên báo trong mục “Dear Abby” lá thư sau đây gửi cho chồng của bà: “Ngày 2 tháng 7 năm 1964. Anh Mort yêu quư, hôm nay là ngày rất đặc biệt đối với em. Đó là ngày kỷ niệm 25 năm thành hôn của em, và em có lời này để ngỏ cùng anh: em đă có một người mẹ và một người cha thực sự yêu thương nhau, do đó em biết được t́nh yêu là ǵ. Em đă làm việc rất chăm chỉ để nh́n thấy hai người con đang tuổi thanh xuân vượt qua thời niên thiếu đầy gian khổ một cách an toàn, do đó em biết được sự hài ḷng là ǵ. Em đă cầu nguyện, và những lời cầu nguyện của em đă được lắng nghe, do đó em biết được đức tin là ǵ. Em đă có anh ở bên cạnh em, một con người tử tế nhất, dịu dàng nhất, đáng kể nhất trên đời, do đó em biết được niềm vui là ǵ. Em yêu anh”. T́nh yêu hướng về Thiên Chúa và tha nhân mang lại niềm vui. Một niềm vui không giống như khoái lạc, hay hạnh phúc. Một con người hư hỏng có thể t́m được khoái lạc trong những thoả măn nhục dục. Hoặc một con người tầm thường cũng có những giây phút cảm thấy hạnh phúc trong đời. Nhưng niềm vui chân thật theo ư nghĩa của Thánh Kinh nói đến, chỉ phát xuất từ t́nh yêu biết hy sinh và quên ḿnh v́ Thiên Chúa và tha nhân. Niềm vui đó cho phép chúng ta nh́n thế giới từ một viễn tượng đă được thăng hoa và phong phú dưới ánh sáng của Tin Mừng. Đó chính là biết “mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người” và trở nên một “khí cụ b́nh an của Chúa”. Đó chính là t́m an ủi, t́m hiểu biết, t́m yêu mến, hiến thân và quên ḿnh như lời Kinh Hoà B́nh của thánh Phanxicô Assisi đă diễn tả. Truyện cổ Đông Phương kể lại rằng ngày xưa có bốn chàng thanh niên thực hiện một cuộc du hành băng qua khu rừng. Th́nh ĺnh, họ gặp một bức tường rất cao chận đứng trước mặt. Lập kế, họ bắc một cái thang dài để leo lên xem cái ǵ ở phía bên kia. Người thứ nhất leo lên tới đỉnh, nh́n xuống dưới và la lên trong khoái lạc cực độ. Ngay lập tức anh phóng ḿnh xuống. Anh thứ hai cũng làm tương tự như vậy. Rồi anh thứ ba cũng thế. Sau cùng, anh thứ tư leo lên, chiêm ngắm một khung cảnh đầy hứng thú: cây cối xanh tươi, hoa trái muôn ngh́n. Chưa bao giờ anh nh́n thấy cảnh tượng đẹp đẽ như vậy. Và, giống như những người khác, anh cũng bị cám dỗ nhẩy xuống đó. Nhưng anh kịp ngưng lại để suy nghĩ đôi chút, nghĩ đến gia đ́nh, vợ con và bạn bè của ḿnh. Sau đó anh đă vội vă leo xuống chân thang và bắt đầu đi rao giảng tin mừng về một khu vườn đẹp tuyệt trần cho những người khác biết. Từng người một, ba chàng thanh niên đầu tiên đă nh́n thấy một vùng đất mới với những hứa hẹn tuyệt vời. Họ đă quyết định chiếm đoạt lấy cho riêng ḿnh nên đă tự huỷ diệt. Chàng thanh niên thứ tư kịp suy nghĩ và muốn chia sẻ nó với những người khác, nên tồn tại. Cách chắc chắn nhất để làm phong phú cái nh́n nội tâm của chúng ta về t́nh yêu Thiên Chúa là chia sẻ t́nh yêu đó với những người khác. Tôi rất thích bản dịch câu Kinh Thánh trích từ lá thư thứ nhất của thánh Gioan, đoạn 4, câu 7b, của học giả Thánh Kinh Công giáo, Edgar Bruns: “Phàm ai yêu thương, th́ sinh ra Thiên Chúa”. Câu này được dịch đúng chữ như sau: “Phàm ai yêu thương, th́ đă được Thiên Chúa sinh ra”. Điều thực sự rằng t́nh yêu Kitô giáo luôn ở trong một tiến tŕnh để Thiên Chúa được sinh ra, được chia sẻ với hết mọi người và lan rộng ra khắp nơi trên thế giới. Thời Giáo Hội sơ khai, những người không phải Kitô hữu đă để tâm lưu ư đến những người Kitô hữu bằng cách: “Hăy nh́n xem họ yêu thương nhau là dường nào!” Theo một truyền thống của Thánh Gioan để lại, lúc đó ngài đă già yếu và bước đi rất khó khăn đến nhà thờ vào mỗi ngày Chúa nhật. Gioan phải nhờ những người bạn d́u đi. Khi Thánh lễ kết thúc, họ phải giúp cho Gioan đứng lên ban phép lành cho cộng đoàn và nói: “Các con thân mến, các con hăy yêu thương nhau”. Một ngày nọ, một tín hữu đưa ư kiến rằng vị môn đệ già yếu đó lúc nào cũng nói y như vậy, giống như một cha sở cứ lập đi lập lại măi một bài giảng. Nhưng vị trưởng lăo Gioan đă trả lời rằng: “Không c̣n ǵ hơn để nói nữa. Đây là lời nói sau cùng. Nếu chúng ta yêu thương nhau, đó là tất cả mọi sự. Cuối cùng, người ta sẽ thực sự biết rằng chúng ta là những người Kitô hữu bằng t́nh yêu thương của chúng ta”. “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con toả hương thơm của Chúa đến mọi nơi con đi. Xin Chúa tràn ngập tâm hồn con bằng thần khí và sức sống của Chúa. Xin Chúa xâm chiếm toàn thân con để con chiếu toả sức sống của Chúa. Xin Chúa chiếu sáng qua con, để những người con tiếp xúc cảm nhận được Chúa đang sống và hiện diện trong con. Xin cho con biết rao giảng về Chúa, không bằng lời nói suông, nhưng bằng cuộc sống chứng tá, bằng trái tim tràn đầy t́nh yêu của Chúa” (Lời cầu nguyện của Mẹ Têrêsa Calcutta). 12. Yêu thươngCó một bản tin “Phở nóng chiều mưa” của tác giả Bút Bi. Câu chuyện sư sau: “Tiệm phở A đường Kỳ Đồng” chiều hôm kia mưa như trút nước. Một ông già khoảng 70 tuổi, tay lần ḍ chiếc gậy, tay xách chiếc gà men cũ kỹ lập cập bước vào quán, mua phở mang về. Lúc ông đang lóng ngóng lấy tiền – gói trong hai ba lớp bịch ni lông – ra để trả, một trong hai thanh niên đang ngồi ăn phở ở chiếc bàn ngoài cùng bảo là đă trả tiền phở cho ông rồi. Ông già lăng tai ngớ ra không hiểu, người thanh niên vừa nói câu trên chỉ người bạn đang cắm cúi ăn: “Thằng này trả chứ không phải cháu đâu”. Rồi anh nói thêm có lẽ để câu chuyện được tự nhiên hơn: “Nó hỏi bác có con gái không?” Ông già dường như vẫn c̣n chưa hết ngạc nhiên thật thà nói có. Người thanh niên kia bật cười, bảo nói chơi đó bác ơi. Bút Bi t́nh cờ có mặt ở đó cũng bật cười. Mấy cô phục vụ trong quán cũng cười ầm lên. Ôâng già hiểu ra, hoạt bát hẳn lên, nói vài câu vui vẻ rồi chống gậy đi về. Ṭ ṃ, Bút Bi nh́n hai người thanh niên. Họ ăn mặc giản dị, mang dép, đi chiếc Cub đời cũ, trông có lẽ là những người lao động lam lũ, và cử chỉ của họ thật dễ thương. Người già thường có cảm giác bị bỏ rơi, thèm sự hỏi han, chăm sóc. (Ông già phải tự chống gậy đi mua phở dù có con cái?). Chắc tối hôm ấy ông sẽ thấy vui lắm, chẳng những vậy có khi nó c̣n trở thành một kỷ niệm của ông, để ông đi kể lại với bà con, cḥm xóm. C̣n Bút Bi cũng thấy vui quá, bèn quyết định ăn luôn… hai tô phở! Nghe xong câu chuyện “Phở nóng chiều mưa” trên đây, chúng ta cảm thấy ấp áp lên t́nh con người. Một sự quan tâm tế nhị, một lời thăm hỏi chân thành, một nghĩa cử yêu thương thầm kín, đă làm cho mối quan hệ giữa người với người thân gần gũi hơn, thông cảm nhau hơn, và quí mến nhau hơn. Điều cốt lơi của Kitô giáo chính là yêu thương. Giới răn lớn nhất của đạo cũng chỉ là Mến Chúa, yêu người. Đó là sứ điệp mà Tin Mừng hôm nay muốn loan báo. Đức Giêsu trả lời cho người thông luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi… C̣n điều răn thứ hai, cũng giống như điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh”. Người Kitô hữu, luôn mang trên ḿnh cây thập giá. Cây thập giá ấy có một ư nghĩa rất cao đẹp: Thanh dọc của cây thập giá muốn nói rằng, người tín hữu phải vươn lên cao tới Thiên Chúa, để yêu mến Người với tất cả trái tim, với trọn vẹn con người. Thanh ngang của cây thập giá muốn nói với người tín hữu, phải vươn đến với tất cả mọi người, để yêu thương họ như chính ḿnh, không loại trừ một ai, kể cả kẻ thù. Nếu có thanh dọc mà không có thanh ngang, th́ đâu phải là cây thập giá. Nếu có mến Chúa mà không có yêu người, th́ chưa phải là Kitô hữu. Cũng như đồng tiền luôn có hai mặt, th́ người Kitô hữu luôn phải sống trọn vẹn hai giới răn mến Chúa và yêu người mới đích danh là Kitô hữu. Có nhiều người nghĩ rằng Mến Chúa th́ dễ quá. Tôi vẫn đọc kinh sáng tối, đi lễ cầu nguyện hàng ngày, năng tham dự các bí tích. Và họ bằng ḷng với mức độ ấy. Thực ra, Chúa đâu chỉ đ̣i hỏi có thế! Hăy nghe lại điều răn lớn nhất này: “Phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Trong điều răn có ba chữ hết, chúng ta đă yêu được mấy chữ hết đó. Thường chúng ta chỉ yêu Chúa nửa vời, yêu tùy hứng, yêu đại khái, yêu theo vụ mùa. Chúng ta chỉ yêu mến Chúa hết ḷng khi chúng ta dám hy sinh th́ giờ, công việc, lợi nhuận, để đi tham dự thánh lễ, các giờ cầu nguyện, các buổi tĩnh tâm, hầu nâng cao đời sống thiêng liêng. Chúng ta chỉ yêu mến Chúa hết linh hồn khi chúng ta dám từ bỏ danh vọng, lợi lộc, chức quyền để trung thành với Chúa và các giới răn của Người. Chúng ta chỉ yêu mến Chúa hết trí khôn khi chúng ta dám làm nhân chứng cho Người trước lương tâm, trước kẻ bách hại, cho dù phải đe dọa đến cuộc sống và tính mạng. Mến Chúa đă khó, yêu người lại càng khó hơn. V́ người ta đâu phải ai cũng dễ mến, dễ thương. Với cái nh́n không thân thiện của chúng ta sẽ có rất nhiều người dễ ghét và đáng ghét. Yêu người như Chúa dạy là yêu như chính ḿnh. Có ai lại ghét ḿnh bao giờ. Trái lại, người ta thường yêu ḿnh quá độ. Chúng ta chỉ có thể yêu người thân cận như chính ḿnh khi chúng ta tránh hết sức không làm tổn thương đến nhân phẩm và quyền lợi của người khác. Chúng ta chỉ có thể yêu người thân cận như chính ḿnh khi chúng ta biết kính trọng người già yếu, an ủi người khổ đau, giúp đỡ những ai nghèo đói, bênh vực những kẻ cô thế, cô thân. Chúng ta chỉ có thể yêu người thân cận như chính ḿnh khi chúng ta biết quảng đại trao ban và xả thân phục vụ những ai đang cần sự trợ giúp. Mauriac viết: “Ngày nào bạn không c̣n thắp sáng t́nh yêu, ngày đó nhiều người sẽ chết v́ giá lạnh”. 13. Luật trọng đại nhấtHôm nay Chúa Nhật 30 Thường Niên, Chúa Giêsu và Mẹ Giáo Hội muốn nhắn gửi chúng ta một giới luật quan trọng nhất của người tín hữu Kitô, đó là giới răn "Mến Chúa và Yêu Người". Đây là một giới răn được gồm tóm tất cả các giới răn trong đạo. V́ thế, khi đến trần gian, Chúa Giêsu không chỉ đến để giải thoát con người khỏi mọi tội lỗi mà thôi, nhưng Ngài muốn giải thoát con người một cách toàn diện, tức là khỏi mọi áp bức bất công, khỏi mọi độc tài ḱm kẹp, cốt để đem lại cho con người được tự do, hầu sống đúng với phẩm giá của ḿnh là người Kitô hữu. Vào thời Chúa Giêsu, trong xă hội Do Thái bấy giờ, con người lúc nào cũng bị trói buộc bởi những lề luật. Bởi thế, người ta đếm được 248 điều dạy phải làm và 365 điều buộc phải tránh. ‘Nhất cử nhất động’ con người đều nằm trong mạng lưới chằng chịt của lề luật. Đó là điều làm cho con người lúc nào cũng mang tâm trạng lo âu, sợ sệt. Không biết tôi làm điều kia việc nọ có đúng luật không? Và nếu tôi sai luật th́ tôi không phải là người công chính. Thật vậy, nếu con người chỉ căn cứ vào những luật lệ bó buộc như vậy th́ đó là một sai lầm, v́ lấy lề luật làm nền tảng cho đời sống luân lư để đo mức độ công chính của đời sống con người. Bởi vậy, chúng ta không lạ ǵ thế giới có học của thời đại Do Thái bấy giờ, như các luật sĩ và biệt phái nhờ học biết luật và giữ luật nên họ cho là công chính, là thánh thiện, là hoàn hảo hơn người, đến độ trở nên kiêu căng, hách dịch với đại đa số dân chúng là những người không am tường lề luật để tuân giữ. Nhưng Chúa Giêsu đến, Ngài đă đặt lại nền tảng sự công chính, đem đến sự sống đời đời trên t́nh yêu thương. Ngài đă phản đối những lề luật chẻ cọng tóc ra làm tư đó. Lề luật đặt ra để giúp cho con người, chứ không phải con người sinh ra để giữ lề luật. V́ thế, Chúa Giêsu đă đưa ra một giới luật yêu thương hết sức quan trọng: "Ngươi hăy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi". Đó là điều răn thứ nhất, và điều răn thứ hai cũng giống như điều răn thứ nhất là "ngươi hăy yêu thương anh em như chính ḿnh ngươi". Thật ra, Chúa Giêsu không dạy làm điều chi mới lạ, v́ hai điều răn đó đă có trong Cựu ước, trong sách Đệ Nhị Luật và Lêvi. Ngài chỉ lấy hai điều đó nhập lại làm một và đặt nó làm nền tảng cho đời sống con người chúng ta. Chúa Giêsu đă dạy cho con người biết Thiên Chúa là người Cha nhân từ. Trong lịch sử nhân loại, đây là lần đầu tiên qua lời dạy của Chúa Giêsu, con người gọi Thiên Chúa là Cha: "Lạy Cha chúng con ởû trên trời". Một người con ngoan biết thương cha mến mẹ, khi làm một việc ǵ không cần phải coi cha mẹ tôi có cấm cái này không? Có cho phép cái kia không? Nếu có cấm th́ cố t́m xem trong các lời cấm đó có câu nào, tiếng nào để có thể t́m ra một kẽ hở để lánh qua không? Nhưng một người con ngoan bao giờ cũng tự hỏi: "Tôi làm cái này, cha mẹ tôi có vui không? Và tôi chỉ thích làm cho cha mẹ tôi hài ḷng mà thôi ". Thánh Augustinô sau khi hiểu rơ lời dạy của Chúa Giêsu, ngài đă đưa ra một định luật táo bạo: "Hăy yêu đi rồi làm ǵ th́ làm". Khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa th́ chúng ta đâu dám cả ḷng cố t́nh làm mất ḷng Thiên Chúa được. Khi chúng ta yêu mến anh chị em ḿnh thật ḷng, th́ làm sao chúng ta dám nói xấu người khác được, làm sao chúng ta thấy người hoạn nạn mà ḿnh vui được, làm sao chúng ta cố t́nh làm hại người khác được. Để dễ thấy tầm quan trọng của hai điều răn "Mến Chúa và Yêu Người" trong đời sống, chúng ta hăy h́nh dung đó là hai chiều kích trong cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta: Chiều dọc nối liên hệ với Thiên Chúa và chiều ngang nối liên hệ với tha nhân. Hai chiều kích đó hợp lại thành cây Thánh giá, đó là dấu hiệu của người Công giáo chúng ta. Hằng ngày chúng ta thấy h́nh ảnh của cây Thánh giá khắp nơi, trong nhà thờ, nơi nhà ở và chúng ta c̣n có những người luôn mang Thánh giá trong ḿnh, bởi thế không ai có thể h́nh dung cây Thánh giá mà chỉ có một chiều hoặc dọc hoặc ngang mà thôi. Tôi c̣n nhớ trong những năm chiến tranh ởû Việt Nam, một đêm nọ họ đạo tôi bị pháo kích, sáng ra tôi đi thăm hỏi và an ủi kẻ đau khổ và thăm những người lớn tuổi để củng cố tinh thần của họ trong cảnh lo âu sợ hăi. Tôi ghé thăm một bà đạo đức nọ, bà đi lễ hằng ngày không bỏ sót một ngày nào hết; Chúa Nhật có hai lễ bà cũng đi dự cả hai Thánh lễ luôn. Nhưng khi tôi ghé vào thăm bà, bà nói với tôi rằng: "Thưa cha, thật Chúa thương con vô cùng, v́ đêm rồi khi họ pháo kích vào làng, con cầu xin Chúa hết ḷng hết sức và Chúa đă nhận lời con rơ ràng cha ơi. Bằng chứng là bao nhiêu bom đạn, pháo kích đều rơi ởû xóm trên hết". Bấy giờ tôi nghĩ thầm trong ḷng: "Chúa mà nhận lời bà kiểu đó, th́ chết mẹ người ta hết rồi". Vậy khi chúng ta chỉ mến Chúa mà quên yêu người th́ cũng lố bịch và buồn cười như câu chuyện của bà già trên vậy thôi. T́nh yêu đối với tha nhân phải là sự biểu lộ ra bên ngoài của t́nh yêu đối với Thiên Chúa. T́nh yêu đối với Thiên Chúa hoàn thiện hoá đối với tha nhân, không thể tách rời hai t́nh yêu đó ra khỏi đời sống đạo của ḿnh được. Khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa thật sự, tự nhiên chúng ta cảm thấy yêu mến tất cả anh em đồng loại của ḿnh, và khi chúng ta yêu mến anh em đồng loại của ḿnh đến nơi, đến chốn với tất cả ḷng bác ái vị tha, tự nhiên tâm hồn chúng ta hướng về Thiên Chúa. Chúng ta nên nhớ kỹ hai điều này: "Ai bảo ḿnh mến Chúa mà không yêu thương anh em th́ là kẻ nói dối. C̣n ai bảo ḿnh yêu người mà không mến Chúa th́ là sai lầm". Xin Chúa cho tất cả chúng ta được mến Chúa hết tâm hồn, biết yêu thương anh em ḿnh như chính ḿnh vậy, để cho danh Chúa được cả sáng, nước Cha trị đến, ư Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. 14. Lạy Chúa, xin giúp con yêu mến ChúaCó lẽ các bạn đă nghe bài thơ “Cây cối” kết thúc với những lời “Những bài thơ được làm do những người ngốc như tôi, nhưng chỉ Thiên Chúa có thể tạo dựng được một cây”. Tác giả của bài thơ đó theo đạo công giáo lúc 27 tuổi. Ông là một văn sĩ nhạy cảm, cởi mở và đơn sơ, lấy những vật thông thường như thảo mộc và nói lên vẻ đẹp của chúng. Oâng ṭng quân vào thời thế chiến thứ nhất và đă bị giết đi khi thi hành nghĩa vụ vào tuổi 32, để lại người vợ và gia đ́nh. Tinh thần tôn giáo sâu sắc của Klmer đạt tới sung măn trong đức tin công giáo. Ông yêu mến và sống đức tin ấy. Những bức thư ông gửi cho vợ, cũng là một thi sĩ, cho các con và bạn hữu đầy tràn những hiểu biết thiêng liêng. Trong một bức thư ông viết có một cái ǵ rất gần với Tin Mừng hôm nay: “Hăy cầu nguyện cho tôi được yêu mến Chúa hơn. Đối với tôi, nếu tôi có thể yêu mến Chúa mănh liệt hơn, kiên tŕ hơn mà không sao nhăng th́ thật không có ǵ khác đáng kể... Tôi đạt được niềm tin do cầu xin ơn ấy. Tôi hy vọng đạt được ḷng yêu mến cũng bằng cách đó”. Bao nhiêu người trong chúng ta đă xin Chúa giúp chúng ta yêu mến Ngài? Yêu mến là một hồng ân do chính Thiên Chúa. Có nhiều người nghĩ lầm rằng chúng ta có thể tiến triển trong ḷng yêu mến Chúa do những nỗ lực của chính ḿnh, rằng hoàn toàn tùy thuộc ở cách chúng ta học biết yêu mến Thiên Chúa. Chắc chắn là chúng ta cần làm mọi sự có thể để thực thi lệnh truyền Chúa Kitô: “Hăy kính mến Thiên Chúa là Chúa con”. Nhưng trên hết và vượt mọi nỗ lực của chúng ta, hồng ân này sẽ được ban cho chúng ta khi chúng ta cầu xin cùng cha chúng ta trên trời. Chúng ta muốn ám chỉ điều ǵ khi nói “Yêu mến Chúa?” Đây là định nghĩa có giá trị giúp ta hiểu. Yêu mến Chúa nghĩa là ao ước làm vui ḷng Chúa. Lệnh truyền của Chúa Kitô có thể đọc là: “Con hăy ao ước làm vui ḷng Chúa”. Yêu mến tha nhân có nghĩa là ao ước làm điều thiện hảo cho họ. Chúng ta không thể “làm điều thiện hảo” cho Chúa, nhưng chúng ta có thể ao ước làm vui ḷng Ngài. Chúng ta có thể và phải làm điều thiện hảo cho tha nhân. Một trong những cách tốt nhất để làm vui ḷng Chúa là làm điều thiện hảo cho tha nhân. Đă có những lần Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: ai yêu mến Chúa th́ tuân giữ giới răn của Ngài. Cách đây vài Chúa nhật, chúng ta đă thấy rằng giới răn của Chúa là bằng chứng t́nh yêu của chúng ta đối với Ngài. Bạn đến tham dự Thánh lễ bởi v́ Thiên Chúa được vui ḷng khi bạn tôn thờ Ngài. Bạn năng rước lễ bởi v́ Thiên Chúa muốn ở với bạn. Bạn cầu nguyện bởi v́ Thiên Chúa được vui ḷng khi bạn thưa chuyện với Ngài. Bạn tôn kính danh thánh Chúa bởi v́ điều đó làm viu ḷng Ngài. Bạn thảo kính cha mẹ bởi điều đó là vui ḷng Chúa. Bạn tôn trọng sức khỏe và đời sống của tha nhân bởi v́ điều đó làm vui ḷng Chúa. Bạn tôn trọng năng lực của phái tính v́ điều đó làm vui ḷng Chúa. Bạn tôn trọng quyền lợi của tha nhân đối với của cải của họ, danh thơm tiếng tốt, vợ con họ, bởi v́ điều đó làm vui ḷng Chúa. Thưc hiện những điều này là yêu mến Thiên Chúa. Và để thực hành những điều này, chúng ta cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta phải xin Ngài giúp đỡ như Kilmer đă làm, như các thánh đă làm. Bạn hăy cầu xin như trong lời nguyện nhập lễ: “Xin cho chúng con được thêm ḷng tin cậy mến, và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy”. Lạy Chúa, con muốn làm vui ḷng Chúa. Xin Chúa giúp con làm vui ḷng Chúa Xin Chúa chúc lành cho các bạn. 15. Hai điều rănSuy Niệm Chúng ta thường ngại xét ḿnh trước khi xưng tội. Nếu xét ḿnh sơ sài dựa trên Mười Điều Răn, có khi ta thấy ḿnh chẳng có tội ǵ nghiêm trọng: không trộm cắp, không tham lam, không giết người... Thật ra xét ḿnh không phải là làm bản tự kiểm trước một danh sách những luật cấm và luật buộc, cho bằng là đặt ḿnh trước Thiên Chúa và tha nhân. Tôi phải thành thật tự hỏi: Tôi có thực sự yêu mến Thiên Chúa không? Tôi có thực sự yêu mến anh chị em tôi không? Tất cả điều răn được tóm trong một động từ: yêu. T́nh yêu là cốt lơi của đời sống Kitô hữu, v́ Thiên Chúa là T́nh Yêu (1Ga 4,8). Yêu là bước vào một đại dương mênh mông, là dấn thân trên một con đường dài hun hút. Chúng ta chẳng bao giờ thấy ḿnh yêu đủ. T́nh yêu cứ vẫy gọi ở phía trước, và mở ra những cánh cửa không ngờ. Giới hạn t́nh yêu là bóp chết t́nh yêu. Chẳng có động từ nào bị hiểu sai cho bằng động từ yêu. Báo chí phim ảnh làm cho ta nghĩ rằng yêu chỉ là chuyện quan hệ giữa hai cô cậu. Hành vi chiếm đoạt theo bản năng lại được gọi là yêu. Chúng ta cần trả lại ư nghĩa cao đẹp cho động từ này. Yêu mến Thiên Chúa là điều răn số một. Không phải chỉ dành cho Ngài phần lớn trái tim, Ngài đ̣i tất cả trái tim của tôi, tất cả con người của tôi. Hết ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn. Ai trong chúng ta dám tự hào ḿnh đă sống trọn vẹn điều răn thứ nhất? Càng lúc tôi càng thấy Chúa bị mất chỗ trong tim tôi. Tôi không có giờ cầu nguyện và tĩnh tâm. Chúa Nhật là ngày tranh thủ làm thêm. Mối lo toan quá mức về cuộc sống vật chất làm đời sống thiêng liêng bị sa sút. Điều răn thứ hai cũng quan trọng không kém: yêu người thân cận như chính ḿnh. Chúng ta yêu bản thân ḿnh biết chừng nào! Chúng ta chỉ muốn điều tốt cho ḿnh đến nỗi lắm khi làm điều xấu cho người khác. Cần coi tha nhân như một cái tôi khác của ḿnh. Họ cũng cần được tôn trọng, cảm thông và yêu mến. Có biết bao thiệt hại tôi đă gây cho anh em tôi. Thái độ sống của tôi đă làm khổ bao người khác. Hai điều răn trên không thể tách rời nhau. Yêu Thiên Chúa chắc chắn dẫn đến yêu tha nhân. T́nh yêu tha nhân cần đặt nền trên Thiên Chúa. Người Kitô đi từ nhà thờ ra chợ rồi lại từ chợ vào nhà thờ. Ngoài chợ, họ gặp Chúa nơi anh em. Trong nhà thờ, họ gặp anh em nơi Chúa. Gợi Ư Chia Sẻ Hai từ "T́nh Yêu" đă bị lạm dụng. Theo ư bạn, một t́nh yêu thực sự phải có những nét ǵ? Trong kinh nghiệm sống đức tin của bạn, có khi nào bạn thấy ḿnh bị giằng co giữa t́nh yêu đối với Chúa và t́nh yêu đối với tha nhân không? Bạn đă giải quyết ra sao? Cầu Nguyện Lạy Chúa, lúc đầu chúng con chỉ muốn cầm tay nhau để làm thành một ṿng tṛn khép kín. Sau đó chúng con hiểu rằng cần phải buông tay nhau để nhận những người bạn mới, để ṿng tṛn được mở rộng đến vô cùng và trái tim được lớn lên măi. Lạy Chúa, chúng con biết rằng cần phải nối ṿng tay lớn xuyên qua các đại dương và lục địa. ṿng tay người nối với người, ṿng tay con người nối với Tạo Hoá. Chúng con thích Chúa đứng chung một ṿng tṛn với tất cả loài người chúng con, nắm lấy tay chúng con và đưa chúng con lên cao. Ước ǵ việc Chúa giang tay trên thập giá giúp chúng con biết nắm lấy tay nhau và nhận nhau là anh em. 16. Điều răn trọng nhất - JKNCâu hỏi gợi ư: 1. Theo tinh thần của Đức Giê-su, th́ trong hai điều răn quan trọng nhất ấy, điều răn nào quan trọng hơn? Phải ưu tiên sống điều răn nào? 2. Tại sao thánh Phao-lô tóm toàn bộ lề luật vào một điều răn duy nhất: «Ai yêu người, th́ đă chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8)? Ngài bỏ điều răn yêu Chúa sao? 3. Nếu bạn là một người cha đông con, đồng thời là người cha tốt lành không chút vị kỷ, bạn muốn con cái yêu thương ḿnh bằng cách nào? CHIA SẺ 1. Hai điều răn trọng nhất của Do Thái giáo và Ki-tô giáo Người khôn ngoan th́ trong mọi lănh vực luôn luôn phân biệt điều chính và điều phụ, điều cốt lơi và điều «b́ phu», điều cần thiết và điều ích lợi, điều quan trọng và điều không quan trọng. Phân biệt như thế không phải để chỉ làm điều chính và bỏ điều phụ, mà để khi không thể làm được cả hai, th́ phải ưu tiên cho điều chính. V́ điều chính là yếu tố quyết định thành công, không thực hiện nó th́ chắc chắn sẽ thất bại. C̣n điều phụ, nếu làm được th́ rất tốt, rất ích lợi, có thể làm cho sự thành công rực rỡ hơn, nhưng không làm được th́ cũng vẫn có thể thành công. Trong việc giữ đạo và nên thánh, chúng ta cũng cần biết điều nào là cốt tủy, là quan trọng nhất; nếu không giữ điều này th́ coi như chưa phải là giữ đạo, và không thể nên thánh, cho dù có giữ những điều phụ thuộc một cách thật hoàn hảo. Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết, giữa biết bao giới răn, th́ giới răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người. Đó là cốt tủy của lề luật: «Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy». Nếu giữ đạo mà không phân biệt điều nào chính điều nào phụ, th́ chúng ta dễ giữ đạo theo «kiểu Pha-ri-siêu» đă bị Đức Giê-su tố cáo: «Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, th́ là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lư, t́nh thương và ḷng chân thành» (Mt 23,23); «Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà» (23,24). Hướng dẫn người khác giữ đạo và nên thánh mà không phân biệt chính phụ, th́ dễ trở thành «những kẻ dẫn đường mù quáng» (23,16). Do đó, bài Tin Mừng hôm nay có tầm quan trọng đặc biệt cho mọi Ki-tô hữu muốn giữ đạo và nên thánh. 2. Hai điều răn tóm lại thành một điều răn: «yêu thương» Cũng trong chiều hướng t́m cái chính yếu, ta có thể tiếp tục đặt vấn đề: trong hai điều răn ấy, điều răn nào quan trọng, chính yếu hơn? Phải nói đây là hai giới răn rất đặc biệt, có vẻ là hai giới răn khác nhau, nhưng thật ra chỉ là hai cách diễn tả khác nhau của một giới răn duy nhất. Cả hai giới răn chỉ có một động từ duy nhất là «yêu», đối tượng của động từ «yêu» này có vẻ là hai đối tượng khác biệt nhau: tuy có thể phân biệt rơ rệt trên lư thuyết, nhưng trên thực tế và thực hành th́ dường như không thể phân biệt, và không nên phân biệt. V́ thế, hai điều răn ấy «tuy hai mà một», tương tự như hai trang của cùng một tờ giấy: tuy là hai mặt khác nhau, nhưng chỉ là một tờ giấy duy nhất. Thật vậy, rất nhiều lời trong Thánh Kinh cố t́nh đồng hóa Thiên Chúa với tha-nhân-của-chúng-ta. Cụ thể nhất là trong đoạn nói về cuộc phán xét cuối cùng (x. Mt 25,31-46), Đức Giê-su đồng hóa chính Ngài với tha nhân, đặc biệt những người đau khổ, nhỏ bé, bị khinh thường, áp bức: «Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta», và «mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đă không làm cho chính Ta». Tại sao thế? V́ con người là «h́nh ảnh của Thiên Chúa» (St 1,26-27; 9,6). Có ai yêu một người mà lại không yêu bức ảnh của người ấy không? Ta thấy những cặp t́nh nhân, khi không có mặt nhau, thường hôn lên ảnh của nhau. Hơn thế nữa, con người là con cái của Thiên Chúa: ngay khi được tạo dựng, con người đă được Thiên Chúa yêu thương và nâng lên hàng con cái Ngài (x. Kn 5,5; Lc 20,36; Ga 11,52; Rm 8,16). Và Ngài yêu quí con người đến mức, sau khi họ sa ngă, Ngài đă cho Con Độc Nhất của Ngài xuống trần, chịu đau khổ và chết để cứu chuộc họ (x. Ga 13,1; Rm 5,6-8; 14,15b; 1Cr 15,3; 2Cr 5,15; 1Tx 5,10; 1Pr 3,18). Do đó, ai yêu Thiên Chúa, tất nhiên cũng phải yêu con cái của Ngài, những người mà Ngài hết mực yêu thương: «ai yêu mến Đấng sinh thành, th́ cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra» (1Ga 5,1). Như vậy, tha nhân bên cạnh và chung quanh chúng ta chính là hiện thân cụ thể và gần gũi chúng ta nhất của chính Thiên Chúa. V́ thế, yêu những người ấy là yêu chính Thiên Chúa, và không yêu họ chính là không yêu Ngài. Người Ki-tô hữu có đức tin đích thực phải nh́n thấy chính Thiên Chúa ở nơi những người ḿnh gặp hằng ngày, và yêu Ngài ở nơi họ. Không thể yêu Ngài ở nơi một ai khác chính đáng hơn nơi tha nhân. Chính v́ thế, thánh Gio-an mới nói: «Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em ḿnh, người ấy là kẻ nói dối; v́ ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,20). Do đó, «ai yêu mến Thiên Chúa th́ cũng phải yêu thương anh em ḿnh» (4,21). Quả thật, không phải là phi lư mà thánh Phao-lô và Gia-cô - bê đă tóm lại toàn bộ lề luật không c̣n vào hai giới răn, mà vào một giới răn duy nhất: «Anh em hăy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô» (Gl 6,2); «Ai yêu người, th́ đă chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8); «Các điều răn đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh. (...) Yêu thương là chu toàn Lề Luật» (13,9-10); «Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là "Ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh"» (Gc 2,8). Không những ta phải yêu thương những người chung quanh ḿnh, hy sinh cho họ, mà c̣n phải làm sao để họ cũng sống yêu thương và thúc đẩy nhau sống yêu thương nữa: «Chúng ta hăy để ư đến nhau, làm sao cho người này thúc đẩy người kia sống yêu thương và làm những việc tốt» (Dt 10,24). 3. Thực hiện việc yêu Thiên Chúa bằng việc yêu tha nhân Để dễ hiểu những điều trên, ta hăy xét trường hợp của một người cha rất giàu có, rất khỏe mạnh, không thiếu thứ ǵ, cũng không cần thứ ǵ cả. Người cha ấy có một đàn con đông đảo, nhưng v́ lỗi của chúng nên chúng trở nên nghèo nàn, đau khổ, thiếu thốn. Nguyên nhân gây nên t́nh trạng đau khổ ấy là chúng không biết yêu thương. Người cha ấy đă t́m đủ cách để đàn con hạnh phúc hơn, bằng cách giáo dục để chúng có nhiều t́nh thương hơn, v́ một khi chúng biết yêu thương th́ tất nhiên và tự nhiên hạnh phúc sẽ đến với chúng. Thử hỏi người cha ấy mong mỏi ǵ nơi đàn con? Chắc chắn là mong chúng yêu thương nhau (x. Ga 13,34-35). Có một đứa con kia mong cha ban cho ḿnh của này vật nọ, nên chỉ biết nghĩ đến cha, mong hầu hạ cha, lo cho cha từng chút, đang khi cha đă quá đầy đủ, chẳng cần ai lo cho ḿnh một thứ ǵ. Ngược lại, đối với những anh em ruột thịt bên cạnh ḿnh đang đau khổ và thiếu thốn, đang cần được chăm nom săn sóc, th́ người ấy chẳng thèm đoái hoài đến. Thử hỏi người cha ấy có hài ḷng về cách xử sự của người con ấy không? Cách xử sự như thế có hợp lư không? Nếu ta là người cha ấy, ta sẽ nghĩ ǵ về đứa con ấy, ta muốn nó xử sự thế nào? Nếu ta là người cha ấy, chắc chắn điều ta mong mỏi nhất là thấy con cái ḿnh yêu thương nhau, lo cho nhau, hy sinh cho nhau, và hễ chúng làm được điều ấy, th́ ta sẽ hài ḷng vô cùng, v́ t́nh thương của chúng đối với nhau sẽ làm cho chúng hạnh phúc, là điều ta mong muốn nhất. Ta nghĩ rằng chính những đứa biết yêu thương anh em ḿnh một cách vô vị lợi mới là những đứa con hiếu thảo, v́ chúng có t́nh thương đích thực. V́ nếu anh em chúng nghèo khó và khó thương mà chúng c̣n thương được, ắt chúng phải thương yêu cha chúng hơn nhiều. C̣n những đứa chỉ nghĩ tới cha ḿnh giàu có, nên lo chăm chút cho cha đang khi cha chẳng cần điều đó, mà chẳng hề nghĩ đến anh em ḿnh, th́ t́nh thương của chúng đối với cha rất đáng nghi ngờ. Có thể chúng chỉ yêu bản thân chúng mà thôi, c̣n việc chúng chăm chút đến cha có thể chỉ là một chiến thuật cầu lợi theo sự khôn ngoan ích kỷ của chúng. Minh họa trên cho thấy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa bằng cách nào. Có thể nói điều răn quan trọng nhất chính là «yêu mến Thiên Chúa hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn». Nhưng phải thể hiện t́nh yêu ấy thế nào cho phù hợp với ư của Thiên Chúa? Qua giáo huấn của Đức Giê-su, ta thấy cách tốt nhất để thể hiện t́nh yêu của ḿnh đối với Thiên Chúa chính là thực hiện điều răn thứ hai: «yêu người thân cận như chính ḿnh». Đức Giê-su đă làm gương về điều ấy. Ngài chết trên thập giá v́ yêu thương con người, đồng loại của Ngài (với tư cách Ngài là một con người), nhưng cái chết ấy chính là lễ hy sinh để thờ phượng Thiên Chúa được Thiên Chúa đánh giá cao nhất. Vậy cách thờ phượng Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa tốt nhất chính là yêu thương những người người chung quanh ḿnh, những người ḿnh gặp hằng ngày, và hy sinh bản thân ḿnh cho họ. Cầu nguyện Tôi nghe Thiên Chúa nói với tôi: «Cha là Thiên Chúa, Cha không cần và không thiếu một thứ ǵ. Vậy th́ con yêu Cha cách nào đây? Nếu con muốn yêu Cha cách thực tế, con hăy yêu Cha nơi những người sống chung quanh con, họ chính là hiện thân của Cha ở bên cạnh con. Con yêu họ, chính là con yêu Cha, và đó là cách tốt nhất để con tỏ ḷng hiếu thảo đối với Cha».
|