Các bài suy niệm:

* LỄ CÁC THÁNH: Kh 7,2-4.9-14; 1Ga 3,1-3; Mt 5,1-12a

* LỄ CÁC LINH HỒN

* CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN – A:

    Ml. 1,14b – 2,2b.8-10; 1Tx. 2, 7b-9.13; Mt. 23, 1-12

 

MỤC LỤC

LỄ CÁC THÁNH

1. Nên thánh

2. Phúc cho người sống những mối phúc

3. Niềm hy vọng hạnh phúc – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

4. Các thánh và bổn phận nên thánh

5. Các thánh

6. Các thánh

7. Các Thánh Nam Nữ

8. Ơn gọi Kitô hữu

9. Chiến đấu và chiến thắng - Pm. Cao Huy Hoàng

10. Lễ các Thánh nam nữ - Lm. Nhân Tài.

LỄ CÁC LINH HỒN

1. Nghĩ về sự chết - ĐGM Bùi Tuần

2. Luyện ngục

3. Luyện ngục

4. Bên kia sự chết

5. Lễ cầu nguyện cho các linh hồn – JK

6. Các tín hữu đă qua đời

7. Người Công giáo và sự chết- Lm Nguyễn Vinh Gioang

CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN - A

1. Khiêm nhường

2. Quyền bính để phục vụ – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

3. Lúc này đây, ngài có phải là anh em của tôi không?

4. Hăy dâng cho Thiên Chúa chỗ nhất

5. Đạo đức thật và đạo đức giả.

6. Đóng kịch

7. Là anh em với nhau

8. Trách kẻ giả h́nh

9. Sống chân t́nh

10. Các kinh sư và Pharisiêu giả h́nh - JKN

11. Nói và làm

 

 

LỄ CÁC THÁNH

1. Nên thánh

Ngày kia, thánh Antôn tu rừng đă đến gặp bác thợ giày, v́ nghe đồn bác là một người đạo đức lạ thường. Được hỏi về bí quyết nên thánh, bác thợ giày liền đáp:

- Tôi chỉ biết đóng giày mà thôi.

Ngạc nhiên, thánh nhân bèn hỏi lại:

- Nếu chỉ có thế, làm sao mà thánh thiện cho được. Như tôi đây, tôi thường nghĩ đến Chúa trong từng giây phút. Bác có bí quyết nào khác nữa không?

Bác thợ giày liền giải thích:

- Tôi làm việc tám giờ, cầu nguyện tám giờ và nghỉ ngơi tám giờ.

Thánh nhân vẫn chưa cho đó là một cuộc sống lư tưởng v́ ngài cầu nguyện ở mọi nơi và trong mọi lúc. Thánh nhân hỏi tiếp:

- C̣n về đức khó nghèo th́ sao?

Bác thợ giày trả lời:

- Tài sản và lợi tức của tôi, một phần ba th́ dâng cho Giáo Hội, một phần ba th́ bố thí cho người nghèo, c̣n một phần ba th́ giữ lại cho tôi.

Thánh nhân cũng chưa cho đó là một bí quyết trọn hảo, bởi v́ chính ngài đă phân phát tất cả những ǵ ḿnh có cho Giáo Hội và cho người nghèo. Vặn hỏi măi, cuối cùng bác thợ giày mới chịu bật mí:

- Mặc dù tôi bố thí một phần ba cho người nghèo, nhưng đêm ngày tôi không thể ngủ yên khi nh́n thấy cảnh nghèo túng chung quanh tôi, đến nỗi tôi đă phải thân thưa cùng Chúa: Lạy Chúa, thà rằng Chúa để cho con phải xuống hỏa ngục, c̣n hơn là nh́n thấy những kẻ khốn khổ này phải sống triền miên trong cảnh nghèo đói.

Nghe nói thế, thánh nhân liền bỏ ra về v́ ngài chợt hiểu rằng: Ngài chưa đủ thánh thiện như bác thợ giày, đến độ dám hy sinh tất cả v́ người nghèo.

Từ câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy có nhiều cách để nên thánh, dường như không có một mẫu mực thánh thện nào chung cho tất cả mọi người. Có người nên thánh ngay trong bậc gia đ́nh của ḿnh giữa trần gian. Có người chịu chết v́ đạo. Có người sống trong bậc tu tŕ. Mỗi vị thánh là một cách sống. Tuy nhiên, giữa những khác biết đó, vẫn có một mău số chung cho mọi cuộc sống thánh thiện, đó là t́nh yêu.

Thực vậy, Thánh Phaolô đă diễn tả: Dù tô nói được mọi thứ tiếng, dù tôi làm được những việc lạ lùng, mà nếu không có đức ái, không có t́nh yêu, th́ tôi cũng chỉ là như năo bạt khua vang.

Không có đức ái, không có t́nh yêu, th́ ṭa nhà đạo đức của chúng ta chỉ được xây trên một nền móng hăo huyền mà thôi. Chúa Giêsu cũng đă nói:

- Các con hăy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành.

Thiên Chúa là T́nh yêu. Ngài đă yêu thương mọi người, không loại trừ một ai. Cũng v́ t́nh yêu, mà Ngài đă xuống thế làm người như chúng ta và đó cũng chính là điểm tận cùng của t́nh yêu. Bác thợ giày trong câu chuyện vừa nghe không những đă dành mọi của cải cho người nghèo, mà hơn thế nữa bác c̣n nghĩ đến người nghèo như là lẽ sống của bác. Và đó chính là bí quyết cao vời nhất để nên thánh.

Bố thí tất cả của cải, xa lánh mọi thú vui, đêm ngày ăn chay cầu nguyện… Tất cả đều tốt, nhưng nếu sống như thế để t́m cho ḿnh sự thanh thản trong tâm hồn v́ sợ bị người khàc quấy rầy, th́ vẫn chưa phải là lư tưởng cao đẹp nhất.

Hăy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành. Đó phải là lư tưởng của chúng ta. Cha trên trời đă yêu thương mọi người đến nỗi đă trao ban chính Con Một Ngài. Thiên Chúa là Cha, bởi v́ Ngài luôn sống cho con cái của Ngài. Và bây giờ đến lượt chúng ta, để trở nên giống Ngài, chúng ta cũng phải sống cho người khác, bằng những hành động bác ái và yêu thương, nâng đỡ và phục vụ mọi người. Đó chính là bí quyết giúp chúng ta trở nên tốt lành và thánh thiện.

 
 

2. Phúc cho người sống những mối phúc

Tự nhiên ai cũng muốn hạnh phúc, nhưng hạnh phúc rất khó t́m thấy. Nó thường trượt khỏi tay chúng ta giống như bánh xà pḥng ướt nơi pḥng tắm. Tất cả chúng ta đều cố gắng để được hạnh phúc, nhưng chúng ta lại không luôn luôn đồng ư với những ǵ mà sự hạnh phúc có. Điều đó giống như những cảm hưởng khác nhau trong âm nhạc và thực phẩm vậy. Chúng ta khác nhau cho dù bây giờ chúng ta có phung phí tiền bạc vào những ǵ sẽ làm cho chúng ta được hạnh phúc, hoặc chúng ta sẽ để dành cho “những ngày mưa gió” trong tương lai.

Tất cả những ǵ mà người ta nghĩ là hạnh phúc th́ Chúa Giêsu lại không nghĩ vậy, giáo huấn của Người hoàn toàn biệt lập về sự hạnh phúc là ǵ, làm thế nào và khi nào chúng ta đạt được hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều đă nghe lời giáo huấn của Người nhưng có lẽ chúng ta hoàn toàn thất bại trong việc nắm bắt cho dù là một đặc tính duy nhất mà Chúa Giêsu đă tuyên bố.

Chúng ta gọi giáo huấn này của Người là những mối phúc, từ “beatus” theo nghĩa Latinh có nghĩa là hạnh phúc. Đầu tiên chúng ta nhận thấy rằng những mối phúc không phải là những điều luật, cũng không phải là những lời khuyên. Chúng là những lời tuyên bố. Chỉ một điều duy nhất mà hôm nay Chúa Giêsu đă nói chúng ta phải làm, đó là “hăy sung sướng và vui mừng”. Những điều khác, Người muốn tŕnh bày những ǵ mà hạnh phúc phải gồm có, Người nói thẳng những người hạnh phúc là những người nghèo, người khóc lóc, người đau buồn và người đói khát. Ngài cũng nhấn mạnh những người hạnh phúc là những người bày tỏ sự thương xót, người kiến tạo hoà b́nh và người chịu đau khổ, bắt bớ. Đó không phải là danh sách mà chúng ta sẽ chọn lựa cho chính ḿnh. Nếu chúng ta phải nhận lấy sự nghèo khổ, khóc lóc, đói khát như những món quà Giáng sinh, chúng ta sẽ nghĩ rằng ông già Noel phải trở thành ông già keo kiệt mới đúng.

Nhưng Chúa Giêsu không phải là ông già keo kiệt dù người nói những điều mà nhiều người nghĩ là “bịp bợm” chứ làm sao hạnh phúc với những thứ ấy được, ch́a khoá bài giáo huấn của Chúa Giêsu được t́m thấy trong mối phúc thứ sáu. Mối phúc ấy nói: “Phúc cho ai có ḷng trong sạch, v́ họ sẽ xem thấy Thiên Chúa”.

Người có ḷng trong sạch là những người giống như những vị thánh, trung tâm toàn bộ đời sống của họ là Thiên Chúa. Trong sự nghèo khổ, họ nhận ra sự giàu có thật chỉ t́m thấy nơi Thiên Chúa. Nơi sự đau buồn của họ, họ khám phá ra rằng niềm vui thật chỉ cảm nghiệm được ở nơi Thiên Chúa. Nơi sự thấp hèn, họ hiểu rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể nâng họ lên sống xứng đáng một con người. Trong sự đói khát, họ thấy giá trị của Thánh Thể, bởi Ḿnh và Máu Chúa sẽ dẫn chúng ta tới bữa tiệc vĩnh cửu trên quê trời. Họ bày tỏ ḷng thương xót mà không báo thù, họ đem đến sự an b́nh chứ không oán ghét, bởi v́ họ biết rằng Thiên Chúa là nguồn mạch sự thương xót và b́nh an. Họ sẵn ḷng chịu bắt bớ, bách hại bởi v́ họ cảm thấy đặc ân được đau khổ và ngay cả cái chết chỉ là làm chứng cho sự thật.

V́ người có ḷng trong sạch đặt trọng tâm vào Thiên Chúa nên họ nhận biết Chúa Giêsu đă thực hiện những ǵ Người đă rao giảng. Chúa Giêsu là người nghèo, người phải chịu nhiều đau buồn trong cuộc thương khó của Người. Người đă trở nên thấp hèn, bị khinh khi như là một tội nhân trên thập giá. Họ thấy Chúa Giêsu đă trải qua đói khát trong hoang địa để chuẩn bị cho sứ vụ của Người, Người đă chuyển giao sự trống rỗng của người đến cạn kiệt để rồi làm sung măn chúng ta bằng sự sống và t́nh yêu của Người. Chúa Giêsu đă biểu lộ ḷng thương xót đối với những người tội lỗi và Người đă hiến dâng mọi sự như là đặc ân sự b́nh an của Người.

Mặc dù không có mối phúc nào là một lề luật, chúng ta tự ḿnh cũng phải thực hiện cho tốt: “Hăy trở nên giống Chúa Giêsu. Hăy có ḷng trong sạch. Hăy tập trung toàn bộ đời sống của bạn ở nơi Thiên Chúa”. Đó sẽ là lời khuyên tốt cho chính chúng ta. Trong việc thực hành, chúng ta có thể làm trọn vẹn một điều mà Chúa Giêsu hôm nay bảo chúng ta làm: “Hăy sung sướng và vui mừng v́ phần thưởng của các con ở trên trời th́ rất lớn lao”.

 
 

3. Niềm hy vọng hạnh phúc – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 5, 1-12a

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Những lời Chúa nói hôm nay thật lạ lùng. Khác hẳn với những ǵ người đời thường nói. Nhưng đem đến cho ta biết bao niềm hy vọng.

Trước hết là niềm hy vọng hạnh phúc. Cuộc sống trần gian có nhiều khổ đau đến nỗi nhiều người gọi trần gian là thung lũng nước mắt. Ai cũng mơ ước được hạnh phúc. Nhưng hầu như hạnh phúc luôn ở ngoài tầm tay con người. Với những lời chúc phúc hôm nay, Chúa cho ta biết Chúa đă dựng nên con người để được hạnh phúc. Dù hiện nay ta c̣n phải chịu nhiều đau khổ, ưu phiền, khốn khó, nhưng những đau khổ, ưu phiền khốn khó đó sẽ qua đi. V́ cuộc sống này chỉ là tạm bợ. Hạnh phúc Chúa hứa sẽ vĩnh cửu v́ cuộc sống đời sau không bao giờ tàn úa.

Tiếp đến là niềm hy vọng Nước Trời. Hạnh phúc ta được không ở tại đời này, nhưng ở trên Nước Trời. Trên Nước Trời ta được hạnh phúc v́ được làm chủ nhân Nước Trời. Và trên Nước Trời, ta sẽ được an ủi, được thương xót, được làm con Chúa, được thấy mặt Chúa. Đó là hạnh phúc tuyệt đối không ǵ có thể so sánh được.

Sau cùng là niềm hy vọng được chính Chúa. Qua những lời chúc phúc. Chúa cho ta hiểu rằng Chúa chính là nguồn mạch sự sống của ta, là tất cả ư nghĩa đời ta, là hạnh phúc của ta. Được Chúa là được tất cả. Chúa là sản nghiệp lớn lao sẽ khiến ta trở nên giàu có. Chúa là niềm an ủi khiến ta không c̣n sầu khổ. Chúa là hạnh phúc tuyệt đối khiến ta thỏa chí toại ḷng không c̣n khao khát ǵ nữa. C̣n ǵ hạnh phúc hơn khi ta được chiêm ngưỡng Chúa tỏ tường, được làm con Chúa, được Chúa yêu thương.

Tuy nhiên để đạt được Chúa, bản thân ta phải được thanh luyện theo con đường Tám Mối Phúc. Chính Chúa Giêsu đă đi vào con đường đó. Người đă sống nghèo, đă sống hiền lành khiêm nhường, đă chịu giết hại v́ rao giảng Tin Mừng. Người đă mở đường đi về hạnh phúc.

Các thánh là những người đă đi theo Chúa Giêsu trên con đường thanh luyện. Các ngài đă giặt áo trong máu Con Chiên nên áo của các ngài trắng như tuyết. Các ngài được hưởng hạnh phúc Nước Trời v́ các ngài đă chịu thanh luyện trong cuộc sống trên trần gian. Các ngài được chính Chúa v́ các ngài đă từ chối không ham mê dính bén những của cải trần gian.

V́ thế, lễ các thánh là lễ của niềm vui. Chúng ta vui mừng v́ các thánh chính là thân nhân của chúng ta, là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè chúng ta.

Lễ các thánh là lễ của niềm hy vọng. Các thánh là người như chúng ta với tất cả những thiếu thốn, những yếu hèn. Các ngài đă đạt tới hạnh phúc Nước Trời. Như thế chúng ta hy vọng cũng sẽ được hạnh phúc Nước Trời như các ngài. Chúng ta c̣n hy vọng hơn nữa, v́ Chúa đă hứa cho ta được hạnh phúc Nước Trời làm sản nghiệp. Lời hứa của Chúa là niềm hy vọng của chúng ta.

Nhưng lễ các thánh cũng là lễ của phấn đấu. Con đường dẫn ta tới Nước Trời là con đường Tám Mối Phúc. Đó là con đường phấn đấu từ bỏ ḿnh, từ bỏ những ham hố tranh dành, chiếm hữu, thống trị. Phấn đấu sống khiêm nhường và nhất là yêu thương xây dựng ḥa b́nh. Khi phấn đấu sống như thế, ta xây dựng Nước Trời từ trần gian, biến trần gian thành nơi hạnh phúc, biến mọi người thành anh em. Khi phấn đấu xây dựng Nước Trời như thế, ta góp phần xây dựng ḥa b́nh trên trần gian.

Lạy các thánh nam nữ ở trên trời, xin cầu cho chúng con.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU

1) Tám mối phúc của Chúa đem đến cho ta những niềm hy vọng nào?

2) Lễ các thánh gợi cho ta những tâm t́nh nào?

3) Làm thánh là giúp xây dựng xă hội. Bạn nghĩ ǵ về ư kiến này?

 
 

4. Các thánh và bổn phận nên thánh

Hôm nay chúng ta mừng kính các thánh trên trời, là những bạn hữu nghĩa thiết của Chúa, là những người được Chúa tuyển chọn và tạo thành một đám đông vô kể bước vào vinh quang Nước trời, như thánh Gioan đă diễn tả:

- Các ngài thuộc những ḍng họ đă được đóng ấn, mặc áo trắng và cầm cành lá thắng trận.

Chúng ta cũng có thể nói được rằng: các thánh là những bậc đàn anh đă đi trước chúng ta.

Nh́n vào đời sống của các ngài, chúng ta cảm thấy được an ủi và khích lệ, bởi v́ các ngài cũng đă phải chiến đấu trong cuộc chiến trần gian, các ngài cũng đă phải mang trên đôi vai thân phận yếu của kiếp người và cũng đă vấp phạm, có vị c̣n ngập ch́m trong tội lỗi hơn cả chúng ta nữa.

Nhưng với ơn Chúa trợ giúp và cùng với những cố gắng cá nhân, các ngài đă chiến đấu, đă đi đến cùng mà vẫn giữ được đức tin. Các ngài đă kết thành một hàng rào danh dự chung quanh Con Chiên là chính Chúa.

Chắc hẳn bây giờ từ trời cao, các ngài đưa mắt nh́n chúng ta bằng cái nh́n tŕu mến và thầm mong một ngày kia chúng ta cũng sẽ được bước vào cơi phúc trường sinh. Các ngài đă chỉ cho chúng ta con đường nên thánh mà các ngài đă đi qua. Các ngài sẽ nâng đỡ và nói với chúng ta rằng:

- Hăy t́m kiếm Chúa và đừng sợ hăi. Tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh. Hăy bắt chước chúng tôi v́ chúng ta cũng chỉ là những kẻ tầm thường và đáng thương. Hăy uốn nắn những sai lỗi. Hăy cố gắng trở nên trọn lành như lời Chúa đă truyền dạy.

Vào một buổi tối người mẹ đă nói với những đứa con của ḿnh như sau:

- Mẹ sẽ rất vui mừng nếu như một trong các con trở nên một vị thánh.

Lập tức đứa bé nhất đă giơ tay lên và nói:

- Con sẽ là một vị thánh.

Đứa bé giữ lời hứa, lớn lên làm tới chức Giáo hoàng với danh hiệu Celestinô V, và đă trở nên một vị thánh.

Trở nên một vị thánh không phải là một việc có thể được thực hiện trong một sớm một chiều, nhưng là kết quả của những cố gắng không ngừng, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, trong suốt cả cuộc đời, để được luôn trung thành cùng Chúa.

Quan sát một người tập đi xe đạp, chúng ta thấy không phải cứ ngồi lên xe là đă chạy được ngay. Lúc đầu thế nào cũng xiêu bên nọ, xọ bên kia, ngă lên ngă xuống, rách cả quần, toạc cả đầu gối…Nhưng nếu cố gắng măi, sẽ có lúc người ấy biết đi và biết đi một cách anh dũng, bỏ cả hai tay m xe vẫn không đổ.

Hay như chú bé kia nuôi một con sáo, để tập cho con sáo biết nói, chú bé phải cho nó ăn ớt, rồi lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác lời ḿnh định dạy cho nó, đến một ngày nó sẽ nói được.

Cũng vậy trên con đường trọn lành, chúng ta sẽ tiến lên từ từ, từng bước một, trong khi nh́n ngắm mẫu gương của các thánh. Cùng với sự trợ giúp của ơn Chúa và những cố gắng của bản thân, chúng ta sẽ học biết phải yêu mến Chúa như thế nào. Mỗi ngày sẽ là một bước tiến lại gần Chúa hơn. Chúng ta không phải chỉ trở nên thánh một lần thay cho tất cả, mà phải liên tục trở nên thánh. Chúng ta giống như người bơi ngược ḍng nước, không tiến tức là lùi. Không cố gắng bơi sẽ bị ḍng nước là những đam mê tội lỗi cuốn trôi.

Ơn gọi nên thánh không phải là một ơn gọi được dành riêng cho các linh mục và tu sĩ, nhưng là một ơn gọi của mọi người con Chúa, bởi v́ con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Chắc hẳn Chúa sẽ vui mừng khi nh́n thấy những đường nét của Ngài trong tâm hồn chúng ta.

Hăy suy gẫm lời thánh Augustinô:

- Cậu nọ cô kia nên thánh được, c̣n tôi tại sao lại không?

Dù trẻ hay già, dù đàn ông hay đàn bà,tất cả chúng ta đều có thể và phải trở nên thánh.

Thánh Đamascênô kể lại một mẩu chuyện như sau: ngày xưa ở một vùng kia, người ta có một tập tục kỳ lạ, đó là mỗi vị vua chỉ được trị v́ mười năm. Trong thời gian đó, ông ta nắm giữ mọi quyền lực, đều hành mọi công việc, mặc sức sử dụng tiền bạc…Nhưng sau thời gian ấy, người ta sẽ tước đoạt phủ việt cũng như triều thiên và đày ải ông ta tới một hoang đảo xa xôi, để ông phải chết dần chết ṃn trong cô đơn và tuyệt vọng.

Năm ấy có một vị vua lên ngôi, nhưng ông ta khôn ngaon hơn những người đi trước. Trong thời gian trị v́, ông ta chỉ có một ư nghĩ: phải chuẩn bị cho tương lai, kiến thiết ḥn đảo xa xôi nơi ông ta sẽ bị lưu đày. Ông truyền cho người ta xây cất cung điện, biến rừng hoang thành những vườn cây ăn trái và những cánh đồng lúa xanh tươi. Rồi ông cho chở tất cả vàng bạc châu báu của vương quốc tới ḥn đảo ấy.

Chúng ta thầm khen:

- Ông vua này quả là thận trọng và khôn ngoan.

Hăy bắt chước ông vua ấy, dùng cuộc sống ngắn ngủi hiện tại mà đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Hăy gửi trước về trời những kho tàng, là những hành động bác ái yêu thương của chúng ta.

Đừng lần lữa, nhưng hăy bắt tay vào việc nên thánh ngay từ hôm nay, bởi v́ như một câu danh ngôn đă bảo:

- Việc hôm nay chớ để tới ngày mai, bởi v́ ngày mai biết đâu đă quá muộn, liệu c̣n có hay không?

 
 

5. Các thánh

Một viên tướng nọ rất ghét một vị ẩn sĩ trong vùng ông ta cai quản. Do đó, ông ta thường sai một nhóm gái làng chơi đến quấy rầy, quyến rũ, phá phách nhà tu hành đủ kiểu, nhưng không lần nào có hiệu quả cả. Một bữa đang khi vị ẩn sĩ tắm dưới suối th́ đám con gái mất nết cũng ào xuống tắm và ra sức chọc ghẹo. Thấy thế, vị ẩn sĩ vội bước lên bờ th́ đám con gái ăn mặc hở hang đó không chịu tha, liền vây tṛn xung quanh vừa nhảy múa ca hát vừa ăn nói tục tĩu. Chẳng chút động ḷng hay tức giận, vị ẩn sĩ ngước mắt lên trời, hai tay dang rộng với dáng điệu vui mừng hớn hở và cầu nguyện rằng: “Lạy Thượng Đế, con cảm tạ Ngài đă ban cho nhân loại những con người rất đẹp đang nhảy múa đây. Phải chăng chính hiện thân Chân Thiện Mỹ của Ngài đang ở đây. Con xin thành tâm cảm tạ Ngài”. Cứ thế, vị ẩn sĩ trong tư thế và tâm t́nh đó vẫn vui vẻ cầu nguyện. Càng lâu nét mặt ông càng rạng rỡ, thanh thoát hơn bao giờ hết. Bỗng một cô gái trong đám bỏ hàng chạy đến qú sấp dưới chân vị ẩn sĩ và thốt lên: “Đây đúng là một vị Thánh, một vị Thánh ở giữa loài người”.

Có lẽ, cái cảm tưởng chung nhất khi nghe nói đến một vị thánh là một người đều cho rằng đó là một loại người siêu phàm, họa hiếm, trăm năm mới có một người. Thật ra, về một phương diện nào đó các Ngài đúng là hạng người như thế, nhưng nếu chúng ta ngây thơ đến độ quá thần thánh hóa các Ngài là chúng ta sẽ mắc phải một thứ mặc cảm bệnh hoạn: nghĩa là có lúc nào đó dám ước mơ làm thánh th́ cho việc ấy là một chuyện phạm thượng, bất kính, rồi dần dần coi việc nên thánh là chuyện viễn vọng, quá xa tầm tay của ḿnh.

Vậy chúng ta tự hỏi mang mặc cảm tự ti bệnh hoạn như thế có đúng không? Và phải quan niệm Các Thánh là những người như thế nào mới hợp lư? Các Ngài có cái ǵ giống và cái ǵ khác mọi người chúng ta?

Trước hết Các Thánh là những người giống chúng ta: cũng được sinh ra, lớn lên b́nh thường, đôi khi c̣n rơi vào những hoàn cảnh khắc nghiệt hơn như nghèo khổ có, bệnh hoạn có, tang tóc tai họa có, chán nản thất vọng có, vui buồn có… Và cũng mang trong ḿnh mọi yếu đuối hư hèn, mọi tính hư nết xấu, cũng tham sân si, cũng hỉ ai ái nộ, cũng lầm lỡ mang tiếng xấu. Thuộc đủ mọi thành phần giai cấp trong xă hội: giàu sang quyền thế có, bần cùng dân đen có, trí thức bác học có, dốt nát quê mùa có. Nói tắt các Ngài không khác chúng ta bao nhiêu, trái lại nhiều Vị c̣n mang nơi ḿnh một quá khứ đầy tội lỗi, xấu xa hơn chúng ta nữa.

Tuy nhiên Các Ngài là những người khác chúng ta. Chính cái khác này đă nâng Các Ngài lên bậc thần thánh và làm cho chúng ta trở thành con người tầm thường. Nói rơ hơn, cái khác ở đây không phải là một sự kiện lạ lùng, một bí quyết gia truyền, cũng không phải một đặc ân dành riêng cho một số người, cũng không phải do ḍng máu di truyền, mà là có quyết tâm cao, cố gắng phi thường, dốc quyết sắt đá, cải thiện không ngừng, hợp tác với ơn Chúa cách hiệu quả.

Nói cụ thể hơn là khi đứng trước mănh lực của tiền tài danh vọng, Các Ngài thấy lợi ít hại nhiều nên đă cương quyết từ bỏ, c̣n chúng ta viện đủ lư do để bám theo, trước những quyến rũ của thế gian xác thịt, Các Ngài dốc ḷng xa tránh để sống thanh cao trong sạch hơn là nô lệ cho đam mê nhục dục, trước anh em đồng loại, thay v́ xa tránh, tranh chấp, giận ghét, oán thù Các Ngài c̣n luyện tập từ bỏ cả những quyền lợi riêng tư, hưởng thụ chính đáng nữa. Dĩ nhiên, tất cả những việc làm đó mà Các Ngài quyết tâm thực hiện chỉ v́ vâng lời Chúa dạy để yêu mến Người và phục vụ anh em nên Các Ngài đă thành công trên con đường cứu rỗi.

Như thế, cái khác giữa Các Thánh và chúng ta xem ra không có ǵ quá khác xa nhau. Chẳng qua Các Ngài vâng theo ư Chúa hơn, chọn điều thiện điều tốt hơn, cố gắng luyện tập các nhân đức hơn. C̣n chúng ta nại đủ lư do này khác để từ chối ơn Chúa soi sáng hước dẫn, không cố gắng quyết tâm đủ để tuân thủ lời Chúa dạy, mà chỉ biết lo dung dưỡng bản thân, tham quyền cố vị nên măi măi không bước đến cùng đời sống trọn lành được.

 
 

6. Các thánh

Hôm nay toàn thể Giáo hội long trọng mừng lễ Các Thánh Nam Nữ, v́ thế chúng ta hiệp nhau nơi đây để ca tụng những kỳ công mà Thiên Chúa đă thực hiện trong những đi trước chúng ta, những người đă đi theo Đức Kitô, chính Ngài đă mở ra cho họ một con đường: “Con đường của sự sống, con đường của hạnh phúc”, và hôm nay các ngài đang chia sẻ vinh quang đó với chính Đức Giêsu trên Nước Trời. Cùng với các ngài, chúng ta hăy hân hoan vui mừng, bởi v́ hôm nay là lễ của tất cả những người đang sống cũng như của tất cả các thánh đang hưởng mặt Chúa trên Nước Trời, Cùng với tất cả chúng ta đang đi trên con đường xây dựng t́nh yêu, xây dựng hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Cũng như mọi người, các thánh cũng là những con người yếu đuối, nhưng các ngài đă thắng vượt được khó khăn và thử thách trong cuộc sống, cho nên chúng ta cũng xin các ngài bầu cử cho chúng ta để chúng ta tiếp tục cuộc lữ hành tiến về thiên quốc và cũng như các ngài, chúng ta bắt đầu cuộc sống bằng tâm t́nh sám hối, xin Chúa thứ tha cho những lần chúng ta đă chối từ không muốn làm chứng nhân t́nh yêu của ngài trước mặt mọi người.

Trong đa số các nhà thờ bên Tây Phương, nh́n lên bốn bức tường và các cửa sổ bằng kính, người ta thường thấy h́nh của các vị thánh được chạm trổ đủ mọi màu sắc. Có một em bé gái nọ, lần đầu tiên được mẹ đưa đi viếng thăm một nhà thờ cổ kính. Trong khi các du khách bị thu hút bởi những công tŕnh nghệ thuật trong nhà thờ th́ em bé lại dán chặt đôi mắt vào chân dung của các vị thánh được vẽ trên các kính màu. Em ngây ngất trước vẻ đẹp của những chân dung ấy mà không biết họ là ai. Và một du khách nào đó đă giải thích cho em biết: đó là các vị thánh.

Tối hôm đó, trước khi lên giường ngủ, em bé đă khoe với mẹ rằng: em đă biết ai là một vị thánh và em nói với mẹ như sau: “vị thánh là một người mà ánh sáng chiếu xuyên qua”.

Có lẽ không có một định nghĩa nào xác đáng hơn về các vị thánh. Các vị thánh là con người mà ánh sáng t́nh yêu của Thiên Chúa đă chiếu xuyên qua các ngài. Chính định nghĩa ấy mà hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta ngước mắt nh́n lên trời cao để chiêm ngắm các vị thánh được Giáo hội tôn phong hay không được ai biết đến, tất cả các vị thánh đều là những con người đă luôn luôn để cho ánh sáng t́nh yêu của Thiên Chúa chiếu xuyên qua ḿnh để soi sáng mọi người xung quanh.

Năm 1986, trong chuyến viếng thăm lần thứ ba tại Pháp, Đức Thánh Cha Gioan Phalô II đă nhắc đến những hồng ân cao cả mà Thiên Chúa đă ban cho nước này. Đó là sự hiện diện của rất nhiều vị thánh. Đức Thánh Cha nói như sau: “Khi các vị thánh đi qua th́ Thiên Chúa cùng đi qua với các ngài”.

Cũng trong chuyến viếng thăm lần thứ ba tại Pháp của Đức Thánh Cha, Ngài có nói như sau: “Các thánh cũng là những con người yếu hèn như chúng ta, nhưng ánh sáng của Đức Kitô đă chiếu xuyên qua tất cả con người của các vị ấy”. Các Ngài đă cứu Giáo hội bằng chính sự yếu hèn của ḿnh. Qua cuộc sống của các thánh, Thiên Chúa gởi đến cho chúng ta một tín hiệu: “Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi để nên thánh”. Các thánh là những ngọn hải đăng, các ngài chỉ cho chúng ta một một con người đường để chúng ta đi về với Chúa. Con đường ấy chính là con đường hạnh phúc, một nguồn hạnh phúc thâm sâu phù hợp với khát vọng cơ bản nhất của ḷng người.

Trong Tin Mừng mà Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, hai chữ “Có Phúc Hạnh Phúc” đă được Chúa Giêsu lập lại đến chín lần. Có lẽ Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng: “Nếu các ngươi nghe lời Ta nếu các ngươi sống như Ta th́ các ngươi sẽ được hạnh phúc thực sự”. Và có lẽ các vị thánh cũng sẽ mời gọi chúng ta như sau: “Nếu anh chị em sống như chúng tôi th́ anh chị em cũng sẽ được hạnh phúc”.

Trên thế giới này có bao nhiêu lời hứa hẹn về hạnh phúc. Trên khắp cả nẻo đường mà chúng ta đi qua, các phương tiện truyền thông xă hội mà chúng ta nghe và mỗi ngày sống đâu đâu cũng nghe thấy những lời kêu gọi t́m hạnh phúc. Người ta mời gọi: hăy tiêu dùng sản phẩm của chúng tôi th́ quí vị sẽ được hạnh phúc.

Quả thật, trái đất mà chúng ta đang sống đầy dẫy những lời quảng cáo cho hạnh phúc. Thế nhưng, chỉ có một ḿnh Chúa Giêsu mới có thể đề ra cho chúng ta hạnh phúc thực sự và con đường dẫn đến hạnh phúc ấy là con đường của t́nh yêu mà chính Ngài đă đi qua. Ngài nói với chúng ta rằng: “Không thể có hạnh phúc đích thực nếu không có t́nh yêu”, một t́nh yêu quên ḿnh, chia sẻ và tha thứ cho đến cùng.

Con đường hạnh phúc mà Chúa Giêsu đề ra cho chúng ta là con đường của những tâm hồn trong sạch, cởi mở với tha nhân đến độ quên chính bản thân ḿnh. Đó là con đường của những con người khi bị loại trừ và bách hại vẫn tiếp tục chúc tụng và yêu thương. Đó là con đường của những con người không ngừng hoạt động để mang lại ḥa b́nh cho người khác, để mọi người biết nh́n nhận t́nh yêu thương nhau như anh em con Cha trên trời. Chính Chúa Giêsu đă qua con đường ấy, Ngài qua thực là mẫu người của hạnh phúc. Từ hơn 2000 năm qua, đă có biết bao nhiêu người đi theo con đường ấy và ngày nay con đường ấy được tiếp tục mở ra cho mỗi người chúng ta.

  

 

7. Các Thánh Nam Nữ

Có một hiệp sĩ nọ bị kẻ thù hạ nhục nên nhất quyết truy lùng để báo oán. Anh đem theo mười người bạn với mũ giáp lên đường. Thấy ḿnh không thể chống cự nổi, kẻ thù bèn xuống ngựa, nằm giang tay ra theo h́nh thập giá và nhắm mắt chờ đợi nhát gươm định mệnh. Trông thấy h́nh thập giá và kẻ thù của ḿnh đang thở dốc như người hấp hối, người hiệp sĩ động ḷng thương nên đă chặn các bạn lại, không cho họ tấn công. Anh nhẹ nhàng đến gần,mời hắn ta đứng dậy và tha thứ cho hắn. Sau Cử chỉ anh hùng ấy, người hiệp sĩ cảm thấy tâm hồn ḿnh tràn đầu sự b́nh an và tươi vui, mà anh chưa từng được nếm thử trong đời. Anh ghé vào một ngôi nhà thờ, qú dưới chân thánh giá cầu nguyện. Lúc sau, anh như thấy Chúa Giêsu nhấc đầu khỏi thập giá cúi xuống chào ḿnh, như vẻ tàn đồng cử chỉ tha thứ cùa anh. Anh thấy rằng ḿnh giống Ngài được một chút bởi v́ khi hấp hối trên thập giá, Ngài cũng đă cầu xin Thiên Chúa tha cho những kẻ giết ḿnh.

Trở nên giống Chúa Giêsu, trở nên trọng lành như Chúa Cha ở trên trời, hay nói một cách khác, trở nên thánh đó phải là ơn gọi của mọi người kitô hữu chúng ta và đó cũng là sứ điệp Chúa Giêsu và Giáo Hội muốn nhắn gửi cho chúng ta trong ngày lễ hôm nay.

Thực vậy sự thánh thiện chính là nền tảng làm thành thân ḿnh mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo Hội, cộng đoàn các thánh. Sự thánh thiện như thế không phải là ơn gọi dành riêng cho một lớp người đặc biệt được các ơn thần bí này nọm mà là ơn gọi b́nh thường của tất cả mọi người tin vào Chúa. Nó là điểm tới tự nhiên của cuộc sống đức tin và t́nh mến nơi mỗi người chúng ta, nó là bổn phận của mọi người tin Chúa bởi v́ tin có nghĩa là mở rộng tâm hồn đón nhận Thiên Chúa và tin mừng yêu thương của Ngài, đồng thời dấn thân sống những đ̣i buộc của tin mừng ấy, để ngày càng trở nên giống Chúa hơn, là đấng thánh thiện trọn lành.

Bí quyết nên thánh đă được Chúa Giêsu cống hiên cho tất cả chúng ta qua các mối phúc thật mà Ngài đă rao giảng, đă sống và làm gương cho chúng ta. Ngài đă chỉ cho chúng ta tám ngả đường giúp chúng ta nên thánh, nghĩa là trở nên giống Chúa.

Điều quan trọng đó là chúng ta có can đảm thực thi tinh thần tám mối phúc thật, có dám bước đi trên những ngà đường Ngài đă chỉ vẽ hay không?

 
 

8. Ơn gọi Kitô hữu

Trên một chuyến xe lửa, người ta chụm đầu vào nhau và bàn tán sôi nổi về một vụ phá thai vừa mới xảy ra ở trong vùng. Nhiều người đă bênh vực cho hành động ấy của người mẹ trẻ. Một vài người khác th́ giữ thái độ yên lặng. Và chỉ có một cô gái đă thẳng thắn nói lên rằng:

- Không thể được, v́ đó là một hành động sát nhân. Đứa nhỏù, dù mới chỉ là một thai nhi bé bỏng, cũng đă là một người có linh hồn và thể xác.

Chàng thanh niên, người t́nh của cô gái th́ bĩu môi tỏ vẻ kinh bỉ trước lập trường dứt khoát của cô gái. Nhưng rồi ngày hôm sau, chàng thanh niên đă nhận được bức thư của cô gái, trong đó cô gái đă viết:

- Tôi không hy vọng rằng ḿnh sẽ xây dựng được hạnh phúc với một kẻ không dám mở miệng bênh vực quan điểm của Giáo Hội.

Cô gái này quả thực là một người can đảm, dám lên tiếng bênh vực sự toàn vẹn của tôn giáo, dù có phải hy sinh cả một cuộc t́nh tốt đẹp. Tuy nhiên, cũng thật đáng buồn v́ có rất nhiều người trong chúng ta lại hành động một cách khác hẳn. Đối với họ, sống là để làm việc. Và làm việc là để kiếm tiền. Và kiến tiền là để nuôi sống gia đ́nh, cũng như để có được những tiện nghi, những hưởng thụ tư riêng. Sau tất cả những công việc đó, nếu c̣n chút ít thời giờ, th́ họ mới nghĩ đến tôn giáo và mới nhớ rằng ḿnh cũng có một linh hồn bất tử và ḿnh cũng là Kitô hữu. Có thể họ cũng sẳn sàng làm một vài việc đạo đức chiếu lệ nào đó, miễn là không mất quá nhiều thời giờ và không thiệt hại tới địa vị, danh vọng và lợi tức của họ. C̣n nếu như đời sống tôn giáo đem lại những thiệt tḥi và khó khăn, họ sẽ vội vă ban Chúa như Giuđa hay chối Chúa như Phêrô.

Nếu đọc lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta sẽ thấy những tín hữu đầu tiên đă không sống và hành động như thế. Họ luôn hănh diện tuyên xưng ḿnh là Kitô hữ. Họ coi tước hiệu Kitô hữu là như một ơn gọi của Thiên Chúa xuất phát từ trời cao.

Chính v́ thế, thánh Phaolô đă khuyên nhủ họ:

- Anh em hăy sống xứng đáng với ơn gọi của ḿnh.

C̣n chúng ta th́ sao? Thái độ của chúng ta rất có thể đă thật khác xa với thái độ của các tín hữu sơ khai. Chúng ta đă lănh nhận bí tích Rửa tội và có tên trong hồ sơ lưu trữ của giáo xứ. Đạo của chúng ta là đạo giấy tờ. C̣n trong cuộc sống, chúng ta lại hành động trái với những ǵ chúng ta đă tin nhận, trái với lư tưởng cùa người Kitô hữu.

Phải chăng chúng ta chỉ là những Kitô hữu “dổm”, hữu danh vô thực. Có tên mà không sống, không làm, không hành động? Phải chăng danh hiệu Kitô hữu chỉ c̣n là như một chiếc phù hiệu mà nhiều lúc chúng ta cũng chẳng muốn mang lấy, v́ nó ảnh hưởng tới lư lịch, nghề nghiệp và địa vị của chúng ta. Chỉ cần nh́n vào một vài việc đạo đức là chúng ta có thể thẩm định được chúng ta nghĩ ǵ về ơn gọi Kitô hữu của chúng ta. Chẳng hạn ngày Chúa nhật, chúng ta đi tham dự thánh lễ. Đi th́ đă muộn, rồi lại c̣n tụm năm tụm ba đứng bên ngoài nhà thờ nói chuyện và hút thuốc. Chúng ta làm dấy thánh giá một cách nguệch ngọc, như vẽ bùa trên ḿnh. Rồi khi thánh lễ chưa kết thúc, chúng ta đă vội vă ra về, đúng với tiêu chuẩn: đi muộn về sớm.

Trong khi đó, chúng ta sẵn sàng thức khuya dạy sớm để coi một trận đấu bóng đá. Chúng ta lặn lội, bất kể đêm hôm mưa gió để đi coi một buổi tŕnh diễn văn nghệ hay một vở tuồng cải lương…

Là Kitô hữu, chúng ta là những người đă được Chúa kêu gọi. Ơn gọi của chúng ta là nên thánh, là sống Phúc âm giữa ḷng cuộc đời. Nếu chúng ta trung thành với ơn gọi, chắc chắn chúng ta sẽ được thừa hưởng vinh quang Nước trời mà Ngài đă hứa ban.

Đức Kitô là đường, là sự thật và là sự sống. Ngài sẽ soi lối để chúng ta biết kính mến Thiên Chúa và yêu thương anh em, nhờ đó xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Là Kitô hữu, chúng ta trở nên như men trong bột, như ánh sáng trong bóng tối và như muối trong thức ăn. Hoạt động của chúng ta tuy âm thầm nhưng có sức hoán cải và đội mới cả xă hội này.

Rất nhiều lần tôi nghe những anh em ngoại giáo phát biểu như sau:

- Là người có đạo thế mà cũng vợ nọ con kia, thế mà cũng gian tham độc ác, thế mà cũng rượu chè cờ bạc…Tin đạo chứ không tin kẻ có đạo…

Nghe qua những lời phát biểu trên, hẳn chúng ta đă cảm thấy nhức nhối và cay dắng, bởi v́ quả thực, chúng ta chưa sống xứng đáng với ơn gọi của ḿnh. Chúng ta chưa thực sự trở nên trọn lành như Cha chúng ta ở trên trời là Đấng trọn lành.

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng kính các thánh nam nữ, là những bậc đàn anh đàn chị đă đi trước chúng con và đă chu toàn được ơn gọi Kitô hữu của ḿnh. Xin cho chúng con biết luôn cố gắng sửa đổi lại những sai lỗi và khuyết điểm, đồng thời ra sức thực thi giới luật yêu thương của Chúa để chúng ta trở thành những chứng nhân của Chúa giữa ḷng cuộc đời. Xin cho chúng con luôn ghi nhớ lời thánh Augustinô: Ông nọ bà kia nên thánh được, c̣n tôi tại sao lại không?

 
 

9. Chiến đấu và chiến thắng - Pm. Cao Huy Hoàng

NHỮNG NGƯỜI ĐAU KHỔ LỚN LAO

Không thấy có một niêm yết danh sách các Thánh Nam Nữ ở trên trời, nhưng các Thánh đă được Thánh Gioan thị kiến là: “Một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, ḿnh mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: “Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên Ngai, và chính Con Chiên đă cứu độ chúng ta” (Kh 7,9-10). Như thế, có những điểm riêng: không cùng dân tộc, không cùng ngôn ngữ; và có những điểm chung: cùng đứng trước Ngai và Con Chiên, cùng mặc áo trắng, cùng cầm nhành thiên tuế, và cùng tung hô Thiên Chúa.

Từ thị kiến của Thánh Gioan cho giáo hội lữ hành một xác tín: Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người vào trong Nước Thiên Chúa, không trừ ai, miễn là giữ được ḷng tin cậy mến tinh tuyền nhờ chiến thắng trong cuộc sống ở thế gian để ca tụng Chúa muôn đời nơi Thiên Quốc. Thánh Gioan nói rơ hơn “Họ từ những đau khổ lớn lao mà đến. Họ giặt sạch và tẩy áo ḿnh trong máu Con Chiên”. Họ đă chiến đấu và chiến thắng trong trận chiến cho chính nghĩa, cho công bằng cho t́nh yêu Thiên Chúa. Sức mạnh chiến đấu của họ là Máu Con Chiên, là sức mạnh từ cuộc thương khó vĩ đại nhất loài người của Đức Giêsu, để khi cùng Đức Đức Giêsu vượt qua sự chết, họ cũng cùng Ngài về cơi sống muôn đời, trước Ngai Thiên Chúa và trước Ngai Con Chiên, tướng lănh của sự sống.

CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG

Phải có một cuộc chiến đấu và chiến thắng. Cuộc chiến đấu kiên tŕ để thực hiện cho được hiến chương Nước Trời mà chính Đức Giêsu, người từ trên trời xuống đă chỉ dẫn đường lên trời.

Sức cuốn hút của đồng tiền, của vật chất văn minh càng lúc càng mănh liệt th́ cuộc chiến đấu để trở nên nghèo khó trước mặt Thiên Chúa càng gay go dữ dội, v́ sự giàu có và hạnh phúc tạm thời ở đời nầy do giàu có mang lại phải kể là tuyệt vời. Có tiền, có cả quyền lực, có cả mọi thứ sung sướng ở đời như có một thiên đàng ảo nếu không nói là có tất cả. Sự chọn lựa giữa việc tôn thờ tiền bạc và tôn thờ Thiên Chúa đ̣i hỏi một quyết định dứt khoát từ t́nh yêu quảng đại từ bỏ tất cả để có được Thiên Chúa. Và họ đă chiến thắng.

Cuộc chiến đấu với căn tính ích kỷ của con người không dễ chấp nhận trong đấu trường mà sự hiền lành thường thua thiệt. Nhưng nhờ “con chiên hiền lành bị đem đi giết” mà có câu “một sự nhịn chín sự lành”, dù biết rằng thường “nhịn là nhục”. Người hiền lành được Chúa chúc phúc v́ họ nhẫn nhịn theo gương Chúa Giêsu, mặc dầu để có được sự nhẫn nhịn đó họ phải trá giá quá đắt cho cái bản tính không chấp nhận thua trong đấu trường sinh tồn. Họ đă chiến thắng cùng với chiến thắng của Con Chiên hiền lành.

Những tưởng đă thất vọng, rồi vô vọng v́ sự vùi dập tang thương, nhưng các Thánh đă chiến đấu với cuộc đời bao oan nghiệt của phận người sầu khổ, chiến đấu đến đổ máu, đến rơi lệ. Nghèo khổ, bệnh tật, bị bỏ rơi, bị áp bức, bị hiểu lầm, bị phản bội, đày đọa do hoàn cảnh… họ phải vượt qua được với niềm tin Thiên Chúa đứng về phía người đau khổ như Ngài luôn đứng về phía Đức Giêsu Kitô con của Ngài đau khổ. Và họ đă chiến thắng khi t́m được niềm ủi an và b́nh an nơi niềm hy vọng vĩnh cửu, qua cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô.

Giữa ḍng chảy của những trào lưu thế tục, có cả những khúc cuốn xoáy và thác loạn của tội lỗi, của những chủ trương phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa hoặc cắt đứt tương quan với Thiên Chúa, các Thánh là những người kiên vững ḷng khát khao nên công chính, ḷng khao khát sự kết hiệp viên măn với Thiên Chúa và hoàn toàn thuộc về thế giới của Thiên Chúa, nên đă vất vả đi ngược với ḍng chảy của cuộc đời. Cuộc chiến đấu với những khuynh hướng thế tục là một cuộc chiến cam go v́ satan giăng muôn ngàn cạm bẫy. Họ đă chiến thắng v́ niềm xác tín cái rất cần giữa những bất cần, cái có tất cả giữa cái không là ǵ cả, cái vĩnh cửu và cái hữu hạn mong manh. Sự công chính họ vươn tới lại chính là Thiên Chúa của Chân Thiện Mỹ. Họ đă chiến thắng.

Khi đă vươn tới Thiên Chúa, họ được sở hữu gia nghiệp của Thiên Chúa là t́nh yêu và ḷng thương xót. Việc trải ḷng yêu thương của ḿnh ra với tha nhân đôi khi cũng gặp phải những thách đố đáng ngại v́ những dị biệt như phân biệt đối xử, như ngôn ngữ màu da, quan điểm, xu thế chính trị, sự thù hận do lịch sử để lại… Nhưng, các Thánh đă nhắm tới sự cao cả của nhân vị mang h́nh ảnh Thiên Chúa và nhân vị huynh đệ con cùng một Cha trên trời mà mến yêu thương xót. Chính ḷng thương xót ấy đă hóa giải bao dị biệt thành tương đồng, và đă cải tạo thế giới thành ngôi nhà chung của con cái Thiên Chúa. T́nh yêu thương của họ đă chinh phục được thế giới.

Cuộc chiến đấu càng trở nên khốc liệt hơn để bảo vệ sự trong sạch của tâm hồn, giữa một nhân loại đang dừng cuộc thăng tiến đến đỉnh cao của loài người, lại t́m về cuộc sống hoang sơ của loài đười ươi, của con vật. Sắc đẹp, thân xác của con người trở thành ngẫu tượng của nhau để con người vừa tôn vinh vừa được hưởng thụ. Sự trong sạch thuần khiết của tâm hồn luôn bị chao đảo trong đời sống độc thân cũng như gia đ́nh. Nhưng v́ xác tín thân xác ḿnh là đền thờ của Thiên Chúa, là cung điện của Chúa Thánh Thần, là thân xác vinh hiển nhờ Máu Cứu Độ của Đức Giêsu Kitô, các Ngài đă bảo vệ được vẻ đẹp nguyên tuyền cho đến ngày trở về tŕnh diện với Thiên Chúa. Các Ngài đă chiến thắng.

Nền ḥa b́nh tự bên trong, hay sự b́nh an trong tâm hồn là hoa trái của ḷng yêu mến. Nhưng cũng không do tự nhiên mà có được, ngược lại, gần như phải chiến đấu từng giây phút- chiến đấu với những bất an do hai chiều hướng thượng và hướng hạ tranh giành nhau chiếm lĩnh tâm hồn. Các Thánh phải t́m cho được sự b́nh an mà thế gian không ban cho được, đó là sự b́nh an của chính Đức Kitô để lại là sống trong sự hướng dẫn Thần Khí, để loại trừ sự dữ của Satan. Chính việc loại trừ sự dữ trong tâm hồn, có sự b́nh an thật trong tâm hồn, họ đă phát sáng ánh hào quang b́nh an bằng những xây dựng cụ thể một nền công lư của Chúa Thánh Thần trên mặt đất. Và khi có công lư, Ḥa B́nh của Thiên Chúa ngự trị.

Cuộc đời của các Thánh có thể nói là một cuộc tử v́ đạo. Họ đă chết cho cái riêng của ḿnh để sức sống của Thiên Chúa dồi dào trong họ và trong toàn thế giới. Họ bị bách hại v́ lẽ công chính không chỉ v́ sự bách hại bằng tra tấn, gươm đao hay tù đày, mà c̣n chính sự truy nă vây bắt từng giây phút của những cơn cám dỗ xa ĺa Thiên Chúa. Gươm đao ấy có thể là những đồng tiền bất chính, những mối hận thù từ lịch sử, những thú tiêu khiển sắc nước hương trời với khoái lạc mong manh. Họ phải chiến đấu đến rơi máu lệ, cuộc chiến đấu của những khước từ. Thực sự họ đă chấp nhận cái chết khi hăy c̣n đang sống, chết v́ sự công chính của Thiên Chúa, chết để bảo vệ sự hiệp thông viên măn với Thiên Chúa.

Đúng như Thánh Gioan mô tả, họ từ đau khổ lớn lao mà đến, “tay cầm nhành lá Thiên Tuế”, nhành lá của những người thắng trận trong trận chiến cho chính nghĩa, cho vương quốc của Thiên Chúa. Họ xứng đáng nhận lănh triều thiên vinh quang mà Đức Giêsu đă hứa: Nước trời là của họ, Đất hứa làm gia nghiệp, được Thiên Chúa ủi an, được Thiên Chúa cho thỏa ḷng, được Thiên Chúa xót thương, được nh́n thấy Thiên Chúa, được gọi là Con Thiên Chúa. Nước Trời là của họ. Phần thưởng cho họ ở trên trời thật lớn lao.

Mừng lễ các Thánh Nam Nữ ở trên trời

* Chúng ta hợp lời ca tụng Thiên Chúa đă dành sẵn cho con cái Ngài một chỗ ngàn thu hạnh phúc trong t́nh vô biên của Cha như Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô đă chỉ lối lên trời qua tám Mối Phúc Thật, Hiến Chương Nước Trời.

* Chúng ta tôn vinh các Thánh Nam Nữ là những người trần gian mỏng ḍn yếu đuối, nhưng đă biết yêu mến và kết hiệp viên măn với Thiên Chúa để liên lỉ chiến đấu với thế lực nguy hiểm của Satan và chiến thắng vinh hiển nhờ chiến thắng của Đức Giêsu Kitô chiến thắng.

* Chúng ta noi gương các Thánh Nam Nữ quyết tâm thực hiện Hiến Chương Nước Trời, dù ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, tinh thần Tám Mối Phúc cũng là kim chỉ nam cho chúng ta, những con người phải chiến đấu trong cuộc sống trần gian để có một cuộc sống hạnh phúc muôn đời trên Thiên Quốc.

Lạy Chúa, chúng con hèn hạ yếu đuối lắm. Xin cho chúng con biết dựa vào sức mạnh của Đức Giêsu Kitô, Đấng đă anh dũng chiến thắng Satan và các âm mưu của chúng, để chúng con chiến đấu và bảo vệ được linh hồn và thân xác chúng con là đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.

 
 

10. Lễ các Thánh nam nữ - Lm. Nhân Tài.

“Anh em hăy vui mừng hớn hở, v́ phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao”.

Hôm nay Giáo Hội hân hoan mừng lễ kính các thánh nam nữ trên thiên đàng, qua thánh lễ này chúng ta càng thấu hiểu hơn nữa về mầu nhiệm các thánh thông công của Giáo Hội, và khi suy niệm đến mầu nhiệm thông công này, chúng ta càng đặt niềm tin tưởng của ḿnh vào Thiên Chúa và Hội Thánh hơn.

Các thánh là những con người, không ai có thể nên thánh nếu không đi qua cuộc sống làm người với những khổ đau, không đi qua đau khổ th́ không thể trở thành một thánh nhân, bởi v́ chính Đấng cứu chuộc nhân loại là Chúa Giê- su Ki-tô đă làm như thế: bị đánh đ̣n, bị đóng đinh vào thập giá và cuối cùng chết trên thập giá.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, khi c̣n sống ở thế gian các ngài cũng có tham sân si, cũng có kiêu căng, có giận hờn, có ghét ghen, có tham lam, có những tội lỗi mà chúng ta đă phạm hôm nay, nhưng các ngài biết cậy vào ơn Thiên Chúa và biết quyết tâm đứng lên cố gắng làm lại cuộc đời ḿnh, biết chiến đấu với những cám dỗ để rồi hôm nay các ngài được hưởng phúc với Thiên Chúa và các thiên thần của Thiên Chúa trên thiên đàng.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, có vị đă từng làm vua, có vị đă từng làm quan lớn quan nhỏ, làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thấy giáo, làm nô lệ, có vị làm giáo hoàng, có vị làm giám mục, làm linh mục, phó tế, có các vị là nam nữ tu sĩ.v.v... nghĩa là các ngài đủ mọi thành phần giai cấp trong xă hội có những đời sống và hoàn cảnh khác nhau, nhưng các ngài đă có một mục đích để sống, đó chính là phải trở nên thánh, phải trở thành những bạn hữu của Thiên Chúa trong chính bổn phận của ḿnh.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, nhưng các ngài đă biết thực hiện “Hiến Chương Nước Trời” tức là “Tám Mối Phúc” ngay tại trần gian này:

1) Các ngài giàu có nhưng đă sống tinh thần khó nghèo v́ Nước Trời.

2) Các ngài bị người khác vu oan giá họa nhưng vẫn hiền lành với họ.

3) Các ngài đă chia vui với người vui và buồn với người buồn, nên được Thiên Chúa ủi an ngay khi c̣n ở đời này.

4) Các ngài mong muốn được trở nên người công chính, và sống công chính giữa một xă hội đầy mưu mô xảo trá, nên được Thiên Chúa cho thỏa ḷng

5) Các ngài biết thương xót người, tức là biết động ḷng trước cảnh thương tâm của người khác, nên được Thiên Chúa xót thương.

6) Các ngài sống trong danh vọng, sống giữa bụi trần với những đam mê của nó, nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong sạch, nên các ngài được nh́n thấy Thiên Chúa.

7) Các ngài đi đến đâu là đem b́nh an của Thiên Chúa đến nơi đó, các ngài được gọi là những người biết kiến tạo hoà b́nh, nên các ngài được gọi là con Thiên Chúa.

8) Các ngài bị bắt bớ, bị đánh đập, bị tra tấn, b́ tù đày v́ các ngài sống và tin vào Chúa Giêsu, Đấng sẽ ban Nước Trời cho họ, nên các ngài đă được Nước Trời làm của ḿnh sau khi từ giă cơi đời tạm này.

Các thánh nam nữ đều là những con người như chúng ta, các ngài đă trở nên những thánh nhân, th́ chúng ta cũng có thể trở nên thánh như các ngài, bởi v́ nên thánh là đ̣i hỏi của Phúc Âm và là mục đích sống ở đời của chúng ta –người Ki-tô hữu.

Xin Mẹ Maria và các thánh nam nữ trên thiên đàng, cầu bàu cho chúng ta là những người đang trên đường đi về quê trời biết noi gương của các ngài, biết quyết tâm đổi mới cuộc sống của ḿnh, biết đứng dậy khi ngă xuống trong tội, và biết phục vụ và tha thứ cho nhau trong t́nh yêu của Thiên Chúa.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

 


 

LỄ CÁC LINH HỒN

1. Nghĩ về sự chết - ĐGM Bùi Tuần

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào. Chắc chắn tôi phải chết. Đó là một chân lư hết sức rơ ràng và chắc chắn. Chân lư này, không ai đă dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.

Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi v́ nó đặt ra câu hỏi: Đâu là ư nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu? Bên kia sự chết có ǵ không?

Câu trả lời theo lư thuyết có thể t́m được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đă có lần thập tử nhất sinh.

Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lư. Nhưng sẽ là cái ǵ linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm t́nh, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập ŕnh sát tới.

Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hăi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nh́n xa xăm. Cũng có thể là những bất b́nh tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy b́nh an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cơi đời đời.

Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đă tới lúc vĩnh biệt. Đă tới lúc ra đi. Đă tới lúc phải bỏ lại tất cả. Đă tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.

Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đă lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về tŕnh diện rất nghiêm túc.

Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của ḿnh là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để ḿnh phát triển ḿnh và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.

Thực tế cho thấy là đă có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đă phần nào hoàn thành.

Trái lại nếu thấy những phát triển của ḿnh là xấu, nhiệm vụ được trao đă không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hăi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. V́ chết là bước sang cơi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rơ ràng công minh.

V́ thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.

Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:

1. Hăy tiến về sự chết của ḿnh như tiến tới một quăng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.

Một khi nh́n sự chết của ḿnh như thế, th́ cuộc sống của ḿnh cũng được hiểu theo hướng đó. Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện ḿnh, phải biết khiêm tốn quên ḿnh, dấn thân sống theo ư Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.

2. Hăy tiến về sự chết của ḿnh như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai ḿnh.

Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. V́ thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoăn trong tay Ngài không?

3. Hăy tiến về sự chết của ḿnh như người khắc khoải trở về với Đấng đă trao cho ḿnh điều răn mới.

Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: "Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương các con" (Ga 13,34).

Để hiểu thấm thía hành tŕnh t́nh yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:

"Chúng ta biết rằng: chúng ta đă từ cơi chết bước vào cơi sống, v́ chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, th́ ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em ḿnh, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được t́nh yêu là ǵ: đó là Đức Ki-tô đă thí mạng v́ chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng v́ anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em ḿnh lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động ḷng thương, th́ làm sao t́nh yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an ḷng trước mặt Thiên Chúa"(1Ga 3,14-19).

"Phần chúng ta, chúng ta hăy yêu thương, v́ Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em ḿnh, người ấy là kẻ nói dối; v́ ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đă nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, th́ cũng yêu thương anh em ḿnh" (1 Ga 4,19-21)

Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ. Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lư do để lo, bởi v́ tôi biết tôi đă lỗi phạm nhiều.

Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là t́m cách sửa ḿnh, đổi mới ḿnh nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại. Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ c̣n lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân ḿnh bằng sám hối và tin mến khiêm cung.

Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức ḿnh, th́ những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu t́nh yêu thương xót, chúng ta b́nh tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.

  

 


 

2. Luyện ngục

Từ cổ chí kim, cũng như từ đông sang tây, người ta đều có truyền thống thương tiếc và an táng người quá cố một cách kính cẩn. Ngày xưa, người ta thương tiếc và dâng tặng người quá cố một thánh lễ an táng trọng thể, một bài điếu văn chải chuốt, rồi tụ tập ăn uống linh đ́nh, tiếng khóc biến thành những câu chuyện ṛn ră bễn cỗ bàn rượu thịt ê hề. Nỗi thương nhớ trôi mất theo từng ly rượu của bàn tiệc, để rồi khi tiệc tan, trở về nhà và không c̣n nghĩ ǵ đến người qua cố đang khổ đau v́ bị thanh luyện nữa.

Có một người sau khi chết được dẫn vào luyện ngục. Anh ta thấy mọi người trong đó đang đứng trong một vũng bùn lên tới quá đầu gối. Có người đang hút thuốc. Người khác th́ uống cà phê và mọi người đều cười nói với nhau một cách vui vẻ. Anh ta thầm nghĩ:

- Nếu luyện ngục là như vậy, th́ đâu có ǵ tệ lắm.

Vừa nghĩ thế, anh ta liền nh́n thấy một người trong bọn trông giống như một viên cai ngục, vỗ tay ra hiệu và tuyên bố:

- Hết giờ nghỉ xả hơi rồi. Bây giờ hăy chống cằm xuống đất và chổng hai chân lên trời.

Nghe đến đây, anh ta bỗng ngất xỉu. Th́ ra đó chỉ là một giấc mơ. Vậy luyện ngục là ǵ?

Dĩ nhiên luyện ngục không phải là một căn hầm hay một vũng bùn như trong câu chuyện vừa nghe. Theo lời các thánh, luyện ngục chính là nơi các linh hồn được thanh tầy, để trở nên trong sạch, xứng đáng được hưởng kiến tôn nhan thánh Chúa.

Các linh hồn nơi luyện ngục chắc chắn đă được cứu độ, nhưng chưa phải là trong giây phút hiện tai. Do đó, luyện ngục thực sự là một dấu chứng của ḷng Chúa xót thương.

Một ông cụ luôn khuyên nhủ con cháu hằng ngày đọc kinh sớm tối kẻo mất linh hồn. Thế nhưng, một người con của cụ trả lời:

- Không cần đọc nhiều, mà chỉ cần đọc ba kinh Kính mừng là đủ lên thiên đàng cả giường lẫn chiếu.

Ông cụ đáp lại:

- Lên thiên đàng, th́ chúng mày đừng ḥng. Tao chỉ mong chúng mày xuống luyện ngục là đă phúc lắm rồi.

Thực trạng bất toàn của con người khiến chúng ta cảm thấy không xứng đáng được diện kiến, gặp gỡ mặt đối mặt với Thiên Chúa, bởi v́ Ngài là đấn thánh thiện vô cùng.

Sụ thánh thiện của Thiên Chúa và tội lỗi là hai cái ǵ đối kháng nhua, như lửa với nước, như ánh sáng với bóng tối. Do đó, tội lỗi làm cho chúng ta phải xa ĺa Thiên Chúa, khiến chúng ta quay lưng chống lại Ngài và đi ngược lại với bản tính thánh thiện tuyệt vời của Ngài. Thực vậy, Thiên Chúa thánh thiện không thể nào chấp nhận một chú bợn nhơ xấu xa nào trong vương quốc của Ngài.

Đối với các linh hồn đáng thương c̣n mang dấu ấn của tội lỗi, th́ luyện ngục chính là nới ẩn náu đầy yêu thương, là tiền đường của thiên đàng. Các ngài vui mừng trong đau khổ. Và nỗi đau khổ nặng nề nhất không phải là cực h́nh hỏa ngục, mà là khát vọng được diện kiến thánh nhan Thiên Chúa, mà hiện nay chưa được trở thành sự thật, mà vẫn c̣n bị trói buộc trong sợ ṃn mỏi trông chờ và mong đợi.

Với ư thức về tội lỗi của ḿnh, các ngài sẽ không rời xa luyện ngục, cho tới khi được tẩy sạch mọi vết nhơ tội lỗi. C̣n mang lầy một chút dấu vết của tội lỗi trong tâm hồn ḿnh cũng là một đớn dau cho các ngài, khi cảm thấy ḿnh bất xứng.

Chính v́ thế, trong niềm hiệp thông, chúng ta hăy giúp đỡ các ngài bài những hy sinh, những lời kinh và những thánh lễ chúng ta dâng lên, bởi v́ đó mới chính là những điều các ngày đang cần đến, đỗng thời đó cũng là cách thức chúng ta báo hiếu, đền đáp công ơn của các ngài một cách sâu xa và có ư nghĩa nhất.

 
 

3. Luyện ngục

Nói tới luyện ngục, hẳn chúng ta không khỏi có những cảm nghĩ buồn vui lẫn lộn. Vui v́ người vào đó sớm muộn ǵ rồi cũng sẽ có ngày ra. Buồn v́ số người vào đó chắc chắn là đông đảo. Hay nói một cách khác: mấy ai sẽơ thoát được lửa luyện tội?

Ngay từ xa xưa, Giáo Hội vẫn t́n rằng những người đă chết trong t́nh trạng ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng c̣n vướng mắc những tội nhẹ, hay chưa đền bù hết những h́nh phạt tạm bởi tội, sẽ phải vào luyện ngục đền bù cho xong, rồi mới được lên thiên đàng, hưởng hạnh phúc muôn đời cùng Chúa.

Cựu Ước đă đề cập tới luyện ngục khi ghi lại hành động cao đẹp của ông Macabêô, khi ông quyên tiền gửi về Giêrusalem để dâng của lễ xóa tội cho một số anh em binh lính đă chết, mà lúc c̣n sống đă mang trong ḿnh những ảnh tượng ngẫu thần, là điều mà lề luật Do Thái ngăn cấm.

Chúa Giêsu trong Tin Mừng cũng đă nói về luyện ngục:

- Hăy liệu làm ḥa với kẻ thù ngay lúc c̣n đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan ṭa, quan ṭa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống vào ngục. Ta bảo thật cho ngươi biết: ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 5,25).

Ra khỏi đó, không phải là ra khỏi thiên đàng, v́ thiên đàng không phải là nơi đền bù tội lỗi. Ra khỏi đó, cũng không phải là ra khỏi hỏa ngục v́ một khi đă rơi vào hỏa ngục, th́ đời đời không bao giờ ra được nữa. Như vậy, ra khỏi đó chỉ có thể hiểu là ra khỏi luyện ngục mà thôi.

Tuy nhiên, việc ra khỏ đó lâu hay mau, c̣n tùy thuộc vào thời gian đền bù. Thật vậy, khi người ta cố t́nh phạm một tội trọng, th́ đă đáng phải sa hỏa ngục. Thế nhưng, v́ thật ḷng ăn năn, nên tội trọng đó đă được tha, án phạt trầm luân đời đỡi đă được xóa bỏ, nhưng h́nh phạt tạm, nếu chưa được xóa bỏ hết, th́ người ta vẫn phải đền ở đời này, hoặc đời sau trong luyện ngục.

Những linh hồn trong luyện ngục phải chịu đau khổ, nhưng không c̣n lập được công như khi c̣n sống ở trần gian, bởi v́ thời gian lập công đă hết. Các ngàiï phải chịu đau khổ, nhưng lại không thểu tự cứu lấy ḿnh được. Các ngài phải ở đó cho tới khi trả hết đồng xu cuối cùng.

Do đó, h́nh phạt ở luyện tội lâu hay mau c̣n tùy ở tội lỗi và sự đền bù của mỗi người. Tuy nhiên, những người c̣n đang sống vẫn có thể dâng những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ, để xin Chúa sớm giải thoát những linh hồn nơi luyện ngục, trong đó có ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng quyến thuộc và bạn hữu. Những người thân quen này, rất có thể v́ yêu thương chúng ta, mà đă không tuân giữ những điều Chúa truyền dạy. Đồng thời chúng ta cũng hăy cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi không ai tưởng nhớ đến.

Thế nhưng trước hết và trên hết, chúng ta hăy cố gắng cải thiện đời sống, xa tránh tội lỗi, thực thi những việc bác ái yêu thương, để chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục, cũng như để bản thân chúng ta cũng được giảm bớt thời gian thanh luyện sau khi chết.

 
 

4. Bên kia sự chết

Trên giường hấp hối, thánh Monica đă nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: "Mẹ chỉ xin con một điều là hăy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh".

Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đă được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giă cơi đời... Nhưng xa mặt cách ḷng, nhiều người trong chúng ta lăng quên những lời van xin thống thiết ấy.

Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người. Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn. Dưới cái nh́n Đức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, c̣n chứng tỏ một ḷng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của ḿnh.

Để giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đă đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối t́nh thông hiệp "các thánh thông công", Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đă cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố. Những thế kỷ gần đây đă dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy. Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng với những kinh nguyện rất ư nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội. Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đă viết như sau: "Giáo Hội lữ hành hết ḷng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đă chết, v́ cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...".

Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Đồng viết như sau: "Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bàu cho chúng ta bên Chúa Cha...". Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đă thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện.

Quỳ cầu nguyện một ḿnh trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và chính cái chết. Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô h́nh của sự sống và sự chết. Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết... Cái chết không c̣n là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa. T́nh yêu mạnh hơn sự chết. Chính T́nh Yêu đă làm cho những người đă chết được sống và cũng chính T́nh Yêu liên kết chúng tư với những người chết. Vâng, chỉ có T́nh Yêu mới làm cho con người được bất tử. Chỉ có T́nh Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đă chết. Chỉ có T́nh Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt.

Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó, mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu, an ủi một người đau khổ, bênh vực một người cô thế, hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống... Chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử.

Yêu thương chính là tái sinh, là sự thông dự vào sự sung măn của cuộc sống. Đó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố. Xin Chúa nâng đỡ Đức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.

 
 

5. Lễ cầu nguyện cho các linh hồn – JK

TIN MỪNG: Lc 23,33-34.39-43

Câu hỏi gợi ư:

1) Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, tại sao Ngài lại bắt linh hồn người chết phải thanh luyện cho hoàn hảo mới được vào thiên đàng?

2) Chịu thanh luyện để nên hoàn hảo, Bản chất của sự hoàn hảo này là ǵ? Là t́nh yêu? đức tin? sự trong sạch? hay sự tôn trọng lề luật? hay sự ǵ khác?

3) Người gian phi đầy tội lỗi trong bài Tin Mừng, tại sao lại được Đức Giêsu cho vào thiên đàng ngay? Vậy yếu tố cốt yếu nhất để vào thiên đàng là ǵ? Đọc kinh? cầu nguyện? dâng lễ? bố thí? giữ luật? hay t́nh yêu? ḷng vị tha?

CHIA SẺ

1- Niềm tin của người Công giáo về luyện ngục

Hôm nay và suốt tháng 11 này, người Công giáo chúng ta đặc biệt quan tâm cầu nguyện cho những người quá cố. Chúng ta thường nghĩ họ đang phải chịu thanh luyện bằng đau khổ để trở nên hoàn hảo. Sự thanh luyện đó được Giáo Hội định tín: «Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những h́nh phạt được gọi là "Thanh Luyện"» (DS 856/464).

Mục đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị tha, đầy t́nh thương, không c̣n một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào nữa. Thiên Đàng đ̣i hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lư, v́ đó là một «nơi» hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời. (Gọi là «nơi» th́ chỉ là tạm gọi, v́ thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục không phải là nơi chốn, là không gian vật lư cho bằng là những t́nh trạng tâm linh hoặc tâm lư. Chẳng hạn: Thiên Đàng là t́nh trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không c̣n một chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện. C̣n Hỏa Ngục là t́nh trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ...)

2- Thiên đàng đ̣i hỏi người trong đó phải thật hoàn thiện

Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đ̣i hỏi rằng: để vào Thiên Đàng th́ phải thật trọn hảo. Thật vậy, thử hỏi, khi trở về «nơi» lư tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không? Nếu người ở thiên đàng mà c̣n ích kỷ, c̣n ác ư, c̣n lănh đạm, c̣n hẹp ḥi, c̣n hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, th́ chính bản thân họ sẽ đau khổ, đồng thời c̣n gây nên đau khổ cho người khác nữa. Chưa hoàn hảo mà đă sống ở Thiên Đàng th́ ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền của Thiên Đàng, và biến Thiên Đàng trở thành một cái ǵ không c̣n là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đ̣i hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành, nếu c̣n chút ǵ xấu xa th́ phải thanh luyện cho hết. T́nh trạng thanh luyện ấy được gọi là «luyện ngục».

3- Tội lỗi hay tính vị kỷ là đầu mối gây đau khổ

Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải đau khổ. Việc Ngài sai Con Một ḿnh xuống chịu chết một cách thảm thương để cứu nhân loại chứng tỏ điều ấy. Nhưng Ngài không thể trực tiếp cứu chúng ta khỏi đau khổ, mà chỉ có thể cứu chúng ta khỏi những nguyên nhân gây nên đau khổ là tội lỗi. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan viết: «Người đă yêu mến chúng ta và lấy máu ḿnh rửa sạch tội lỗi chúng ta» (Kh 1,5). Đau khổ chỉ là ngọn, c̣n tội lỗi mới là gốc. Muốn tránh khổ th́ phải tránh tội lỗi. Diệt khổ th́ chỉ là diệt ngọn, khổ vẫn có thể tiếp tục phát sinh. Diệt tội lỗi mới là diệt khổ tận gốc. Nhưng con người v́ c̣n u mê nên thường sợ khổ chứ không sợ nguồn gốc phát sinh ra đau khổ là tội lỗi, là tính ích kỷ. Họ vẫn cứ tiếp tục phạm tội, sống ích kỷ. V́ thế, dù t́m đủ mọi cách để tránh khổ, con người vẫn cứ rơi vào đau khổ, hết khổ này đến khổ khác. Trong việc cứu khổ cho người khác, cho các linh hồn được thanh luyện, con người cũng chỉ nghĩ tới việc cứu họ khỏi đau khổ, chứ không nghĩ tới việc cứu họ khỏi những nguyên nhân gây đau khổ.

Nguồn gốc của tội lỗi chính là tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ tới đau khổ và hạnh phúc của ḿnh, mà không quan tâm hay biết đến đau khổ và hạnh phúc của người khác. V́ thế, nguyên nhân sâu xa hơn của đau khổ chính là tính ích kỷ.

4- T́nh yêu hóa giải đau khổ và đem lại hạnh phúc

Nếu ích kỷ là nguồn gốc phát sinh đau khổ, th́ ngược lại, tính vị tha hay t́nh yêu chính là nguồn tạo nên hạnh phúc. Do đó, người ta chỉ có thể vào được thiên đàng khi họ có đầy tràn t́nh yêu và không c̣n chút tính ích kỷ nào nữa. Nắm vững điều này, ta mới hiểu được ư nghĩa sâu xa câu nói Đức Giêsu, khi có người – vốn đă giữ rất chu đáo các lề luật – hỏi Ngài về cách đạt được sự sống đời đời: «Anh chỉ thiếu có một điều, là hăy đi bán những ǵ anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hăy đến theo tôi» (Mc 10,21). Điều đó có nghĩa là phải biết yêu thương và thật sự thể hiện t́nh yêu ấy th́ mới được sự sống đời đời, tức được hạnh phúc đích thực. Kho tàng ở trên trời mà mọi người muốn lên đó phải sắm cho ḿnh chính là kho tàng t́nh yêu.

Người trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay đă thể hiện được tinh thần vị tha và t́nh yêu ấy. Trong cảnh khổ như thế mà anh không hề nghĩ tới đau khổ của bản thân ḿnh, mà chỉ nghĩ tới đau khổ của Đức Giêsu, thương cho Ngài bị hàm oan: «Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, v́ xứng với việc đă làm. Chứ ông này đâu có làm điều ǵ trái!». Chính v́ thế, anh đă được Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». Người trộm lành tuy đầy tội lỗi, nhưng cuối cùng anh đă phát tâm yêu thương, và t́nh yêu đă biến anh thành người tốt lành, xứng đáng với hạnh phúc thiên đàng. Đúng như câu nói của thánh Phaolô: «T́nh yêu che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8).

5- Chấp nhận đau khổ v́ t́nh yêu là bí quyết của hạnh phúc

Câu chuyện về người trộm lành trên làm tôi nghĩ đến một câu chuyện của Đức Phật. Trong một tiền kiếp nọ của ngài, ngài đă phạm một trọng tội khiến ngài bị đọa vào địa ngục. Tại đó, ngài cùng nhiều người khác bị đau khổ ghê gớm. Khi nh́n thấy những người trong đó đang quằn quại với những cực h́nh vô cùng đau đớn như ḿnh, ngài thương họ vô cùng. T́nh thương ấy khiến ngài phát tâm nguyện rằng: Tôi nguyện sẵn sàng chịu thay cho mọi người trong địa ngục này tất cả những đau khổ mà họ đang phải chịu, để họ thoát khỏi những cực h́nh ghê gớm này! Vừa nguyện như thế xong th́ lập tức ngài tự nhiên thoát khỏi cảnh đau khổ ấy. C̣n những người kia th́ vẫn tiếp tục ở lại đấy chịu đau khổ.

Tôi chỉ coi chuyện trên như một dụ ngôn. Tuy không có thực, nhưng nó nói lên một chân lư mà chính tôi đă thực nghiệm thấy rất đúng. Khi tôi chỉ quan tâm chú ư tới những đau khổ tôi đang phải chịu, th́ tôi thấy đau khổ ấy – một cách chủ quan – tăng lên gấp bội. Nhưng khi tôi quan tâm tới những đau khổ của người khác đang phải chịu, khi tôi muốn làm giảm bớt đau khổ cho họ, khi tôi chấp nhận chịu đau khổ thay cho họ, hay chịu khổ nhiều hơn nữa để họ bớt khổ hay để họ được hạnh phúc, th́ lập tức tôi cảm thấy tâm hồn ḿnh mạnh mẽ lên. Lúc ấy những đau khổ tôi đang chịu – tuy dù một cách khách quan không hề thay đổi, mà có thể c̣n tăng lên – bỗng nhiên mất đi tính dữ dội hay thảm khốc của chúng đối với tôi. Chúng không c̣n làm tôi đau khổ được như trước.

Áp dụng kinh nghiệm này vào đời sống gia đ́nh, tôi nhận thấy: khi tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, mọi đau khổ, mọi buồn phiền để làm những người thân yêu của tôi bớt khổ và được hạnh phúc, th́ điều lạ lùng tôi cảm nghiệm được là tôi không hề đau khổ mà lại thấy hạnh phúc hơn. Tôi hạnh phúc hơn v́ tôi thấy nhờ hành động ấy của tôi mà những người tôi yêu thương được hạnh phúc hơn. Điều làm họ hạnh phúc nhất là thấy tôi yêu thương họ, hết ḿnh với họ. Và chính v́ thế, họ cũng chẳng để tôi phải vất vả hay chịu đau khổ thay cho họ, ngược lại họ lại sẵn sàng chịu đau khổ thay cho tôi. Và thế là cả gia đ́nh tôi – trong đó có tôi – đều cảm thấy hạnh phúc trong bầu khí đầm ấm yêu thương. Thế là chỉ v́ tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, cực nhọc, đau khổ thay cho những người thân yêu, mà tôi biến gia đ́nh tôi thành một gia đ́nh hạnh phúc. So với nhiều người chủ gia đ́nh khác, tôi thấy ḿnh hạnh phúc hơn họ nhiều, xét cả mặt khách quan lẫn chủ quan. Tôi nhận thấy: không phải khi ḿnh sẵn sàng chịu đau khổ thay cho người khác th́ tất nhiên ḿnh sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn đâu! Mà ngược lại, thái độ quên ḿnh ấy lại đem lại hạnh phúc cho cả tôi lẫn những người chung quanh tôi. Đó là kinh nghiệm của tôi trong gia đ́nh. Và tôi đang áp dụng kinh nghiệm này ra ngoài gia đ́nh, trong xă hội… và tôi vẫn thấy nó đúng. Xin chia sẻ với mọi người kinh nghiệm có thật này để may ra hữu ích cho ai đó!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, thánh Gioan nói: «T́nh yêu không biết đến sợ hăi; trái lại, t́nh yêu hoàn hảo loại trừ sợ hăi, v́ sợ hăi gắn liền với h́nh phạt và ai sợ hăi th́ không đạt tới t́nh yêu hoàn hảo» (1Ga 4,18). Con cảm thấy chính khi con thật sự có t́nh yêu th́ con không sợ đau khổ, mà sẵn sàng đón nhận đau khổ để người khác được hạnh phúc. Và khi con không sợ đau khổ, th́ đau khổ không c̣n tác oai tác quái trên con nữa. Nó không c̣n khả năng làm con mất b́nh an hạnh phúc được nữa. Và con cảm thấy b́nh an và hạnh phúc do t́nh yêu đem lại chính là thiên đàng. Một thiên đàng mà con có thể cảm nghiệm trước ở ngay trần gian này.

 
 

6. Các tín hữu đă qua đời

Trong thánh lễ cầu cho những người đă qua đời, chúng ta thường hát:

- Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy.

Khi cầu xin với Chúa như vậy, chúng ta phải giả thiết các linh hồn ấy chưa đến được nơi hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng đồng thời cũng không bị đày đọa trong hỏa ngục. Và dựa vào giáo lư, chúng ta đă biết luyện ngục là nơi đau khổ, trong đó linh hồn những người công chính sẽ phải thanh tẩy tội lỗi trước khi bước vào Nước Trời.

Các linh hồn ấy không bị ném vào chốn cực h́nh muôn kiếp, nhưng cũng chưa được vào thiên đàng. Sở dĩ như vậy v́ Thiên Chúa là Đấng thánh thiện và trong sạch vẹn toàn. Ngài không bao giờ chấp nhận chút bùn nhơ tội lỗi, dù là nhỏ bé tầm thường. Linh hồn vấp phạm đă được tha thứ, nhưng c̣n phải đền bù và thanh luyện về những sai lỗi ấy. Và thật là may mắn, chúng ta có thể giúp đỡ bằng những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ dâng lên cho Thiên Chúa, để xin Ngài xóa bỏ tội lỗi, giảm bớt h́nh phạt và mau giải phóng các linh hồn ấy.

Sau đây chúng ta hăy lắng nghe một tiếng nói từ thế giới bên kia vọng về. Vào mùa chay năm 1922, nữ tu Joséfa xin với Chúa cho ḿnh được liên hệ với thế giới của luyện ngục, và nữ tu đă ghi nhận:

- Rất nhiều linh hồn đă xin ngài hy sinh và cầu nguyện cho.

Một linh hồn nói:

- Tôi đă sống trong t́nh trạng tội lỗi suốt bảy năm. Sau đó tôi bị đau ốm ba năm. Tôi từ chối không muốn xưng tội. Tự tay tôi đă xây lấy hỏa ngục cho tôi. Nhưng nhờ lời kinh và hy sinh của người mẹ, mà tôi ăn năn thống hối trở về với Chúa và sống trong t́nh trạng ơn thánh. Bây giờ tôi đang bị giam cầm trong luyện ngục. Tôi van xin ngài hăy cứu giúp tôi, để mau mau chóng ra khỏi tù ngục này.

Hăy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục v́ đó là một bổn phận bác ái. Nỡ ḷng nào mà chúng ta không ra tay trợ giúp kẻ kêu cầu chúng ta. Nỡ ḷng nào mà chúng ta lại lănh đạm trước một người bạn đang chới với giữa ḍng nước mà không t́m cách cứu vớt.

Hăy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục v́ đó là một bổn phận công bằng, v́ tất cả chúng ta đều liên đới với nhau trong sự thiện cũng như trong sự ác, trong sự tốt cũng như trong sự xấu. Những người bị đền bù, rất có thể v́ đời sống tầm thường, v́ gương mù gương xấu của chúng ta mà vấp ngă, rất có thể v́ yêu thương chúng ta mà các ngài đă sai lỗi điều nọ điều kia. Dù ít hay nhiều, chúng ta cũng liên đới chịu trách nhiệm về những h́nh phạt của các ngài và phải chia sẻ về những h́nh phạt ấy.

Sau cùng, hăy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục v́ đó là việc làm có lợi cho chúng ta. Cầu nguyện cho các ngài, th́ các ngài cũng sẽ bầu cử cho chúng ta v́ các ngài đă là những bạn hữu nghĩa thiết của Chúa. Tưởng nhớ đến các ngài, th́ chắc hẳn mai ngày khi ở trong hoàn cảnh khổ đau như thế, Chúa cũng sẽ không để chúng ta ch́m vào quên lăng.

Cách đây không lâu cha sở vùng Bretagne là một mục tử tận tâm chăm sóc đoàn chiên của ḿnh. Chẳng may ngài bị chết bất ngờ, và có tới hơn hai trăm linh mục khác đến đồng tế trong thánh lễ an táng của ngài.

Ngài đă nói với các em nhỏ trong giờ giáo lư cuối cùng như sau:

- Hăy cầu nguyện cho các linh mục. Nếu cha bị chết bất ngờ, chắc hẳn cha sẽ phải vào trong luyện ngục. Các em hăy hứa là sẽ cầu nguyện và cầu nguyện nhiều cho cha nhé.

Và để kết luận, tôi xin đưa ra nơi đây ư kiến của một tờ báo Công giáo:

- Bạn nhớ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục và cũng thường xuyên nghĩ tới cái chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Bạn c̣n có thể chuẩn bị cho ngày gặp gỡ mặt đối mặt với Thiên Chúa. Trong ngày đó, chỉ có hai con đường: hoặc là đau khổ vĩnh viễn, hoặc là hạnh phúc muôn đời. Vậy chúng ta chọn con đường nào đây?

 
 

7. Người Công giáo và sự chết- Lm Nguyễn Vinh Gioang

Mỗi người công giáo chúng ta có ba nhà: nhà thứ nhất, là nhà sinh, nhà cha mẹ sinh chúng ta ra, nơi đây, chúng ta sống và lớn lên, gọi là nhà ở; nhà thứ hai, là nhà thờ, nhà thờ của giáo xứ chúng ta, nơi chúng ta thờ phượng Chúa, nơi chúng ta được chịu phép Rửa Tội để làm con Chúa, chịu các phép bí tích khác, nơi chúng ta được gặp Chúa Giêsu trong Nhà Chầu, được nghe Lời Hằng Sống của Chúa, được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào ḷng; nhà thứ ba, là nhà chết, tức là ngôi mộ chôn vùi chúng ta sau khi chúng ta tắt thở ĺa đời.

Nhà chết, ngôi mộ của chúng ta, chỉ có ư nghĩa khi c̣n sống, chúng ta năng đến nhà thờ để gặp Chúa Giêsu, bởi v́, khi thân xác chúng ta nằm trong nhà chết của ḿnh, nằm trong ngôi mộ của ḿnh, th́ linh hồn chúng ta trước ṭa của Chúa Giêsu để chịu phán xét riêng, và Chúa Giêsu sẽ nhận ra ngay chúng ta là con của Chúa, khi đó, linh hồn chúng ta sẽ được thưởng vào nước thiên đàng, c̣n thân xác sẽ được sống lại sáng láng sau nầy trong ngày tân thế.

Đạo chúng ta là đạo suy tưởng và thẳng thắn nh́n vào sự chết không khiếp sợ, tránh né. Ngày nào, Giáo Hội cũng dạy con cái ḿnh lặp đi lặp lại lời cầu nguyện xa xưa nhất, do từ cửa miệng các bổn đạo đầu tiên trong Giáo Hội: " Xin cho các linh hồn được nghỉ ngơi bằng an ". Ngày nào chúng ta cũng âu yếm nh́n lên Tháng Giá để thấy Chúa chết. Ngày nào chúng ta cũng nhiều lần sốt sắng làm Dấu Thánh Giá trên thân xác chúng ta để kính nhớ sự Chúa chết, để in cái chết của Chúa Giêsu trên thân xác ḿnh. Sáng nào, khi vừa thức dậy, cũng như môỵi tối trước khi đi ngủ, đôi môi chúng ta luôn mấp máy lời cầu nguyện tha thiết: "Lạy Chúa Giêsu, v́ yêu thương con, Chúa đă chết, xin cho con được chết như Chúa và được chết giống Chúa. Xin cho con ngày hôm nay, xin cho con tối nay, biết luôn luôn ăn năn tội để khỏi phải chết tươi khốn nạ đời đời". Và ngày nào, từ sáng đến tối, thế nào môi miệng chúng ta cũng nhiều lần lặp đi lặp lại lời cầu nguyện với Mẹ Maria trong Kinh Kính Mừng: "Cầu cho con là kẻ có tội khi nầy và trong giờ lâm tử. Amen!".

Đạo chúng ta là đạo hiệp thông với người chết. Khi biết được trái tim người chết của chúng ta vừa thôi đánh, Giáo Hội dạy đánh chuông nhà thờ để tiếng chuông vang lên báo tin cho mọi người biết linh hồn người nầy đă được Chúa gọi về. Khi nghe tiếng chuông báo tin nầy, mọi thành phần Dân Chúa trong giáo xứ đến nhà người chết, đọc kinh, cầu nguyện, tẩm liệm cung kính theo nghi thức của Giáo Hội. Và ḱa đây, xác người chết được rước đến Nhà Thờ, được đặt ngay trước Nhà Chầu của Chúa Giêsu, được đặt gần quả tim của Người. Cây nến Phục Sinh, tượng trưng cho sự sống lại của Chúa Giêsu và của những ai theo ngài, được thắp sáng lên, đặt cạnh quan tài người chết. Rồi thánh lễ được cử hành để cầu nguyện cho người chết, nói lên việc Giáo Hội cung kính xác người chết, như thánh nữ Mađalêna cung kính Xác Thánh của Chúa Giêsu. Đại diện cho Giáo Hội, linh mục lên đường đi tống táng, từ Nhà Thờ ra đến Đấùt Thánh, nơi đây, linh mục làm phép huyệt để thánh hóa nơi người chết an nghỉ, và nói lên cho mọi người nghe những lời hy vọng tuyệt vời: chúng ta hăy gởi xác người thân yêu ở lại đây, đợi ngày sống lại, sẽ gặp nhau trên nước thiên đàng.

Trên trần gian nầy, Giáo Hội dạy người có đạo phải kính trọng và săn sóc hai nơi đặc biệt, một nơi để thờ phượng Chúa, là Nhà Thờ; một nơi để kính các người có đạo đă qua đời, mà Giáo Hội tin thế nào cũng sẽ về trời để làm những vị thánh, đó là Đất Thánh.

Bởi vậy, Đạo chúng ta là đạo của người sống và của người chết. Người chết, tuy là người đă hết sống đời nầy, nhưng họ đang sống ở đời sau, trong t́nh yêu của Chúa, và họ đang đợi gặp chúng ta lại. Người sống là người sẽ chết và sẽ gặp lại những người thân yêu của ḿnh sau nầy.

Như thế, đối với người sống, người chết vẫn c̣n sống để gặp nhau lại, và đối với người chết, người sống một ngày kia sẽ gặp lại họ trên nước thiên đàng. Thế là kẻ chết người sống không mất nhau: người chết không mất người sống, và người sống cũng không mất kẻ chết. Kẻ chết, người sống, không ai mất ai hết: họ chỉ tạm biệt nhau nơi bờ đau khỗ dưới trần gian, để gặp nhau lại vĩnh viễn nơi bến hạnh phúc trên thiên đàng.

Cùng với thời gian, Chúa ban cho chúng ta đang sống trên trần gian nầy được ư thức rằng ḿnh không phải sống trong một gia đ́nh, mà sống trong hai gia đ́nh rơ rệt: một gia đ́nh với những người đang c̣n sống với ḿnh, và một gia đ́nh với những người đă chết trước ḿnh. Và tâm hồn chúng ta luôn luôn đi từ gia đ́nh nầy đến gia đ́nh kia, trong niềm yêu thương vui sướng.

Trong thinh lặng của đêm khuya, chúng ta nhớ đến cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, bà con, bạn bè, ân nhân của chúng ta đă qua đời. Bao nhiêu khuôn mặt hiện ra trước mắt chúng ta: đó là cha, mẹ ta, đó là anh, chị, em ta, đó là bạn bè ân nhân của ta. Những người nầy luôn luôn hiện diện trong tâm trí của chúng ta. Chúng ta nhớ tên từng người một. Chúng ta thấy rơ họ hơn và thấy họ luôn mới mẽ. Chúng ta nghe rơ giọng đặc biệt của họ, nghe rơ tiếng họ nói, thấy rơ những cử chỉ thân mật của họ, thấy rơ cặp mắt trong sáng của họ, và nụ cười thân ái của họ. Chúng ta nh́n họ và nói chuyện với họ. Chúng ta thấy giờ đây, họ đă thoát khỏi vật chất, thoát khỏi lầm lạc, thoát khỏi xa cách. Chúng ta thấy họ hiểu rơ chúng ta hơn chúng ta hiểu rơ ḿnh, và họ thấy rơ chúng ta hơn là chúng ta thấy rơ chúng ta. V́ những người chết, mặc dù chúng ta không thấy họ, không nghe họ, không đụng chạm đến họ nữa, nhưng tâm hồn họ vẫn luôn bao phủ lấy chúng ta, luôn luôn hiện diện với chúng ta: những người chết không phải là những kẻ vắng mặt, họ chỉ là những kẻ chúng ta không trông thấy mà thôi, nhưng họ vẫn luôn luôn ở bên cạnh chúng ta.

Chúa Giêsu của chúng ta là Đấng đă thắng cái chết của kẻ khác một cách lạ lùng: em bé kia nằm chết trên giường, ngài được mời đến, cầm tay em, lôi dậy, cho em sống lại; thanh niên con trai bà góa thành Naim nọ đă bị bó lại, đem đi chôn, ngài phán một lời, anh ta sống lại ngay; Ladarô đă chôn trong mộ bốn ngày, không ai dám mở nắp mộ ra kẻo thúi, Chúa truyền cho mở nắp mộ, phán một lời, ông ta sống lại, ra khỏi mổ, không c̣n thúi tha ǵ nữa.

Chúa Giêsu đă thắng cái chết của kẻ khác một cách lạ lùng, nhưng ngài cũng đă thắng cái chết của chính ḿnh một cách lạ lùng hơn nữa. Khi c̣n sống, ngài nói rơ: "Tôi có quyền trên sự sống của tôi", và ngài đưa ra một lời tiên tri táo bạo về sự sống lại của ngài: "Tôi chết, nhưng ba ngày sau, tôi sống lại". Trên núi Canvariô, quân nghịch của Chúa nhạo cười ngài đang hấp hối trên thập giá: "Nếu ngươi là Con của Thiên Chúa, hăy xuống thập giá để chúng ta tin." Chúa Giêsu im lặng, không trả lời. Đối với Chúa Giêsu lúc đó, xuống khỏi thập giá cũng dễ dàng như khi ngài ra lệnh cho băo táp im lặng, cho người bất toại đi được, cho kẻ chết sống lại. Nhưng Chúa Giêsu muốn dành cho loài người chúng ta một sự lạ lùng vĩ đại hơn nhiều: Ngài muốn chết như mọi người chúng ta, bị đem chôn chặt trong mồ, để từ trong ngôi mộ, - ngôi mộ mà từ xưa đến nay, và từ nay cho đếán tận thế, đè bẹp tất cả những ai nằm trong đó, không cho ai chỗi dậy, - th́ Chúa Giêsu của chúng ta sau khi chết chôn ba ngày nằm trong đó, đă tung mồ sống lại.

Giáo Hội reo mừng chiến thắng khi thấy Thầy ḿnh sống lại. Giáo Hội ca lên lời ca bất hủ ngày Chúa Phục Sinh: "Sự sống và sự chết giao tranh ác liệt, nhưng sự sống đă toàn thắng sự chết và ngự trị muôn đời." Và kể từ đó, những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô phục sinh, đều bước theo dấu vết của ngài trên con đường sống lại. Thánh Atanasiô dạy chúng ta: "Từ khi Đấng Cứu Thế sống lại th́ sự chết không c̣n đáng sợ nữa. Tất cả những ai tin vào Chúa Kitô đều biết rằng khi chết, ḿnh không hết, nhưng vẫn sống, và sự sống lại sẽ làm cho thân xác ḿnh được sáng láng."

Chúng ta phải chết để đền tội chúng ta, như Chúa Giêsu đă chết để đền tội nhân lọai.

Nhưng chúng ta chết, c̣n là để được sống lại, để được sống muôn đời bên cạnh Thiên Chúa Ba Ngôi, bên cạnh Chúa Giêsu đă cứu chuộc chúng ta, bên cạnh Đức Mẹ Maria đă sinh Chúa Cứu Thế ra cho chúng ta, bên cạnh những người thân yêu đă ra đi trước chúng ta.

Vậy chúng ta hăy sống thánh, để được chết lành v́ chỉ khi nào chết lành, chúng ta mới được gặp lại những người thân yêu của chúng ta trên nước thiên đàng. Chúng ta hằng ngày luôn nhớ cầu nguyện cho những người thân yêu của chúng ta đă ra đi trước chúng ta, nhất là cầu nguyện cho họ trong Thánh Lễ và xin dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho họ. Amen.

 
 

CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN - A

1. Khiêm nhường

Chúng ta có thể xác quyết: Khiêm nhường là con đường bảo đảm nhất dẫn chúng ta tới quê hương Nước Trời.

Thực vậy, tội của ông bà nguyên tổ là ǵ, nếu không phải là sự kiêu căng, muốn trở nên bằng Thiên Chúa, từ chối không chịu để cho Ngài hướng dẫn, bằng cách giơ tay ngắt trái cấm mà ăn. Tội của Lucifer, vị thần mang ánh sáng, là ǵ, nếu không phải là tính kiêu ngạo, không muốn phục tùng Thiên Chúa nữa.

Từ đó, chúng ta thấy ḿnh chỉ có thể gặt hái được những thành quả tốt đẹp, nếu biết trở nên như trẻ nhỏ, phó thác vào bàn tay quan pḥng của Thiên Chúa, người cha đầy yêu thương và giàu ḷng thương xót.

Dưới mắt Thiên Chúa, chúng ta thấy dường như có một sự đảo lộn giá trị: Ai tự nâng ḿnh lên cao th́ sẽ bị hạ xuống thấp, và trái lại ai hạ ḿnh xuống thấp th́ sẽ được nâng lên cao, bởi v́ chính Chúa Giêsu đă phán: Ai muốn làm lớn th́ phải trở thành kẻ rốt hết và làm đầy tớ phục vụ cho mọi người…Ai trở nên giống trẻ nhỏ, th́ sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời…

Để nuôi đám đông dân chúng trong hoang địa, Chúa Giêsu đă không làm cho manna từ trời rơi xuống, nhưng Ngài đă dùng năm chiếc bánh và hai con cá của một em nhỏ.

Và trong cuộc sống, Ngài đă sử dụng những phương tiện tầm thường nhất. Thực vậy, để thiết lập Giáo Hội, Ngài đă không chọn lựa những tiến sĩ luật và những nhà thông thái, trái lại, Ngài đă kêu gọi những con người đơn sơ và dốt nát.

Tại pḥng tiệc ly, mặc dù luôn ư thức quyền năng của ḿnh, thế nhưng Ngài đă qú xuống rửa chân cho các môn đệ, để dạy cho các ông bài học khiêm nhường và phục vụ.

Trong công cuộc cứu độ nhân loại, Ngài đă không sử dụng tới uy quyền của một vị Thiên Chúa, nhưng đă cúi đầu chấp nhận thập giá, như lời thánh Phaolô đă diễn tả: Ngài đă vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.

Ngài cũng muốn chúng ta noi gương bắt chước Ngài: các con hăy học cùng Ta, v́ Ta hiền lành và khiêm nhường trong ḷng.

Đoạn Tin Mừng hôm nay đưa ra hai khuôn mặt, đó là khuôn mặt của một bậc thầy, một tiến sĩ luật và khuôn mặt của một người tôi tớ, một người hèn mọn.

Kẻ kiêu căng luôn đặt ḿnh làm trung tâm của vũ trụ, muốn người khác phải trọng kính và coi ḿnh như một vị thủ lănh. Chính v́ thế, kẻ kiêu căng không hề biết vâng lời và yêu thương. Họ sẽ không bao giờ được thỏa măn, trái lại lúc nào cũng ghen tức v́ hấy người khác được thành công. Một kẻ như vậy th́ làm sao có thể gặp được Thiên Chúa.

Trong khi đó, người khiêm nhường biết từ bỏ mọi sự, ngay cả bản thân cùng với địa vị và danh dự. Họ biết nhận định đúng về con người của ḿnh, đồng thời họ biết quên ḿnh đi để mưu cầu lợi ích cho những người chung quanh. Chính v́ thế, họ được dành cho nhiều t́nh cảm tốt đẹp và ï được chính Thiên Chúa đón nhận, v́ tâm hồn họ trống rỗng, không có những vướng mắc và níu kéo.

Kytô giáo của chúng ta không thể thiếu vắng sự khiêm nhường, như lời thánh Bernađô đă xác quyết: Lời rao giảng quan trọng nhất của Đức Kitô chính là sự khiêm nhường.

Và thánh Phanxicô Assie cũng nói: Thiên Chúa thấy tôi tội lỗi hơn hết mọi người, nên Ngài đă chọn tôi để làm những công việc trọng đại.

C̣n thánh Phanxicô Xaviê th́ bảo: Trên dấu chân của Đức Kitô, chúng ta chỉ thực sự được nâng lên, một khi đă thực sự hạ xuống.

Để kết luận, chúng ta cùng nhau ghi nhớ tư tưởng sau dây của ông Gandhi: Nếu chúng ta nghĩ rằng ḿnh là một cái ǵ đó, thi chúng ta đă đặt một hàng rào để ngăn cách với Thiên Chúa, c̣n nếu chúng ta nghĩ rằng ḿnh chẳng là ǵ cả, th́ chúng ta sẽ trở nên một với Ngài.

  


 

2. Quyền bính để phục vụ – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 23,1-12

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ.

Lời Chúa hôm nay thật mạnh mẽ, khiến ta bàng hoàng, chới với. Phải chăng Chúa muốn phá đổ tất cả những cơ chế trong xă hội và trong Giáo Hội? Phải chăng tất cả chúng ta đều sai lầm? Có lẽ không nên hiểu theo nghĩa đen của mặt chữ nhưng phải hiểu theo tinh thần. Qua chân lư: Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em, Chúa muốn dạy ta phải sống những quan hệ với xă hội theo một tinh thần mới gồm 3 khía cạnh sau đây.

1- Mọi người đều b́nh đẳng. Mọi người b́nh đẳng trong xă hội v́ tất cả đều là người. Là người như nhau nên phải được kính trọng như nhau. Cũng thế, mọi người b́nh đẳng trước mặt Chúa. V́ mỗi người đều là h́nh ảnh của Thiên Chúa. Cùng là h́nh ảnh Thiên Chúa, nên mọi người phải kính trọng nhau. Mọi người đều là con của Cha trên trời và đều là anh em với nhau. Nên mọi người đều phải vâng phục Thiên Chúa và yêu thương anh em chung quanh ḿnh.

2- Chức vị chỉ là một phân công. Một xă hội phải có tổ chức. Có tổ chức nên có nhiều công việc. Phân công để công việc chung được trôi chảy. Hơn nữa phải hiểu rằng mọi quyền lực đều đến từ Thiên Chúa. Làm cha mẹ là được thông phần vào quyền làm Cha của Thiên Chúa. Làm người lănh đạo là được dự phần vào quyền cai trị của Thiên Chúa. Con người không tự ḿnh chiếm đoạt được chức vị, nên phải khiêm nhường nhận biết ơn Chúa ban v́ lợi ích của tập thể.

3- Chức vị là để phục vụ. Hăy nh́n vào một gia đ́nh. Trong gia đ́nh cha mẹ là quan trọng nhất, là người điều khiển gia đ́nh. Nhưng chính cha mẹ lại phục vụ nhiều nhất. Cha lao động vất vả. Mẹ cực nhọc chăm sóc con thơ. Nh́n bề ngoài cha mẹ không khác người giúp việc. Nhưng cha mẹ điều hành gia đ́nh trong khi phục vụ con cái thơ dại. Cha mẹ đă dùng quyền để yêu thương và phục vụ. Cũng thế, người có nhiệm vụ trong Giáo Hội và trong xă hội phải là người có ḷng yêu mến anh em. Chu toàn nhiệm vụ với t́nh yêu thương sẽ giúp ta biết phục vụ bằng chức vụ của ḿnh.

Không ở đâu ta có thể t́m gương mẫu cho những lời Chúa dạy hôm nay bằng t́m nơi chính Chúa Giêsu Kitô, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể.

Bí tích Thánh Thể đưa ta về pḥng Tiệc Ly, nơi Chúa ăn bữa tối cuối cùng với các môn đệ. Trong khi ăn, Chúa đứng dậy, cầm chậu nước đi rửa chân cho từng môn đệ. Rồi Chúa nói: “Thầy là Chúa, là Thầy, mà c̣n rửa chân cho anh em, th́ anh em cũng phải rửa chân nhau. Thầy đă làm gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đă làm cho anh em?” (Ga 13,12b-15). Quyền bính để phục vụ. Không c̣n minh họa nào sinh động hơn. Không c̣n giải nghĩa nào sáng tỏ hơn h́nh ảnh Chúa quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Không c̣n lệnh truyền nào thuyết phục hơn, v́ chính Chúa đă làm gương trước.

Bí tích Thánh Thể cho ta thấy sự hiến thân phục vụ của Chúa Giêsu. Trở thành tấm bánh là để trở thành lương thực nuôi con người. Không trở thành một tượng đài uy nghi để mọi người cung kính. Không trở thành một trang sức quư giá để mọi người trân trọng. Nhưng trở thành tấm bánh để phục vụ con người. Trở thành lương thực là trở thành những ǵ gần gũi nhất. Trở thành lương thực là chấp nhận phục vụ sự sống: chịu nhỏ bé đi để người khác được lớn lên, chịu đau khổ cho người khác được hạnh phúc, chịu chết đi cho người khác được sống. Bí tích Thánh Thể là một mẫu gương về quyền bính phục vụ. Thiên Chúa phục vụ con người. Người Cha hy sinh cho hạnh phúc của con cái. Chúa tể vũ trụ hiến thân nuôi dưỡng loài thụ tạo.

Như thế, bí tích Thánh Thể thiết lập một mối quan hệ mới giữa con người. Quyền bính là để phục vụ. Nếu hiểu và thực hành Lời Chúa dạy hôm nay, ta sẽ biến đổi bộ mặt thế giới. Thế giới sẽ trở nên một gia đ́nh ấm cúng chan chứa t́nh người. Xă hội sẽ tươi đẹp v́ sống theo nền văn minh mới, nền văn minh của t́nh thương.

Năm Thánh Thể đă kết thúc, nhưng mầu nhiệm Thánh Thể phải tiếp tục măi măi trong cuộc đời chúng ta. Sống mầu nhiệm Thánh Thể là biết quan tâm phục vụ anh chị em. Sống mầu nhiệm Thánh Thể là duy tŕ sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa xă hội, giữa cuộc đời chúng ta. Hiện diện đó là một tấm bánh bẻ ra cho một thế giới phát triển, một thế giới chan ḥa yêu thương, một thế giới hạnh phúc thực sự.

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết noi gương Chúa, phục vụ mọi người trong t́nh yêu thương.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU.

1- Tại sao mọi người đều b́nh đẳng?

2- Chức vị chỉ là một phân công trong Giáo Hội, bạn hiểu điều này thế nào?

3- Quyền bính là để phục vụ. Bạn thấy điều này đă ứng dụng ở đâu?

4- Bạn phải làm ǵ để sống bí tích Thánh Thể theo tinh thần bài Tin Mừng hôm nay?

 
 

3. Lúc này đây, ngài có phải là anh em của tôi không?

Hôm qua, có đột nhiên nói với tôi: “Tại sao linh mục để cho người ta gọi ḿnh là Cha? Linh mục hăy đọc Tin Mừng th́ sẽ rơ!”

Tôi đọc được trong Tin Mừng: “Các con đừng muốn cho người ta gọi ḿnh là Thầy, các con đừng muốn cho người ta gọi ḿnh làTiến sĩ, các con đừng gọi ai là cha”. Chắc chắn ở đây có một bài học mà chúng ta phải rút ra.

Tôi nghĩ rằng không nên chú mục vào những danh hiệu bị Chúa Giêsu lên án. Loại bỏ các danh hiệu đó, các bạn sẽ t́m được hàng chục danh hiệu khác cần thiết trong cuộc sống xă hội: ông thị trưởng, ông Tổng thống, Đại uư... Người ta thay thế danh hiệu Ngài bằng Đức giám mục? Danh hiệu này chẳng thích hợp và cũng không thoát được sự lên án của Chúa Giêsu.

Thật ra sự lên án của Chúa Giêsu nhắm đến điều ǵ? Tại sao lại gán cho điều chỉ là một chút kiêu căng một tầm quan trọng như thế? Thực tế, có điều ǵ trầm trọng đang xảy và một sự vụng về rơ ràng về biên tập của Matthêu lèo lái chúng ta. Luôn luôn nơi Matthêu, điều đó là cố ư, rất được trau chuốt từng ly từng tí. Ngài bắt đầu bằng: “Tất cả các con đều là anh em”. Sau đó Ngài tiếp: “Các con chỉ có một Cha mà thôi”. Nhưng ư tưởng anh em đến nhanh hơn bởi v́ trong văn mạch, ư tưởng này là ư tưởng chủ đạo, mặc dầu ư tưởng này rơ ràng liên kết với tư cách làm Cha của Thiên Chúa: “Tất cả các con đều là anh em, bởi v́ tất cả các con đều có cùng một Cha trên trời”.

Ở đây chúng ta rất kiêu căng, Chúa Giêsu sửa chữa lại những quan hệ bị sai lệch, giống như những nhà chuyên môn sửa lại những cái xương bị trật khớp. Chúng ta khó chịu trong cơ thể xă hội khi các quan hệ sai lệch và đau đớn: khi ông chủ đóng vai tay anh chị th́ những người thuộc quyền khúm núm. Vấn đề là không phải nói: “Ông thị trưởng”, mà là có một ông thị trưởng tốt. Bên dưới danh hiệu không quan trọng đến thế, có những thái độ, những tấm ḷng, một tinh thần.

Trong xă hội các môn đệ của ḿnh. Chúa Giêsu muốn có một tinh thần, một tinh thần dường như rơ ràng nơi Ngài đến nỗi quan hệ giữa Ngài với Chúa Cha là rất thắm thiết. Chúng ta đừng đụng đến điều đó, đừng ai chiếm chỗ của Chúa Cha, đừng ai dành cho một người nào đó một tầm quan trọng làm lu mờ Thiên Chúa.

Hậu quả cũng rất rơ ràng: giữa con người với nhau chỉ có thể có quan hệ anh em mà thôi. Những chức vụ cần thiết và những danh hiệu có ích không được làm thay đổi tinh thần “anh em”. Tôi có thể để người ta gọi ḿnh là cha... nếu tôi có một trái tim anh em! Nhưng điều đó phải rơ ràng trong các lời nói và trong các thái độ của tôi, và đừng ai cám dỗ tôi tự cho ḿnh là Thiên Chúa.

Khuynh hướng ma quỷ làm cho chúng ta trượt về phía kiêu ngạo sẽ luôn luôn làm cho việc suy niệm bài Tin Mừng này có ích. Than ôi! Chúng ta có thể viết cả một quyển sách về sự kiêu ngạo trong Giáo hội, y phục, tước hiệu, ngôi thứ, và ghê gớm hơn nữa, chuyên quyền, tự măn. Sự việc có phần tốt đẹp hơn, nhưng để duy tŕ tinh thần của Chúa Giêsu, các thầy, các cha và các tiến sẽ tự giữ ǵn là điều chưa đủ: trong dân Chúa, bất cứ ai cũng có thể nói với họ rằng “Lúc này đây, Ngài có phải là anh em của tôi không?”

 
 

4. Hăy dâng cho Thiên Chúa chỗ nhất

và không để cho một người nào khác.

Những người con thường gọi cha mẹ của chúng là cha mẹ, mặc dù Chúa Giêsu đă nói đừng gọi ai dưới đất là “cha”. Những vị dạy dỗ trong trường học chấp nhận tước hiệu “thầy” mặc dù Chúa Giêsu nói: “Tránh gọi ai là thầy”. Điều đó sẽ là ngớ ngẩn nếu duy tŕ những điều thực hành này khi những điều này trái với hướng dẫ của Chúa Giêsu. Hiển nhiên là ư nghĩa của nó không phải là nghĩa chữ. Mặc dù đúng hơn qua những điều giống như ra lệnh này, Chúa Giêsu muốn dạy cho chúng ta một bài học quan trọng hơn. Người muốn hướng dẫn dạy dỗ chúng ta rằng chúng ta đừng trao cho người nào chỗ nhất trong đời sống của chúng ta, mà chỗ này chỉ thuộc về một ḿnh Thiên Chúa.

Chúng ta là con cái của cha mẹ chúng ta. Một số người th́ đă được chúc phúc bởi cha mẹ của ḿnh và một số khác th́ hoàn toàn không. Tuy nhiên, chúng ta phải nh́n lên thiên đàng để t́m thấy những Đấng cha mẹ hoàn hảo, một người tuyệt vời không thể tưởng tượng được đó là Cha của chúng ta nữa. Chúng ta không thể cho phép ai chiếm mất chỗ của Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta.

Tất cả chúng ta phải có những vị thầy trong những khoảnh khắc khác nhau từ lúc chúng ta sinh ra trong suốt thời gian ở trường, khi chúng ta có một công việc, và thật sự xuyên qua toàn bộ đời sống của chúng ta, có một người có thể dạy dỗ chúng ta về mọi chân lư căn bản nhất của đời sống, cả đời này và cả đời sau, là Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta không thể cho phép bất cứ ai hơn Chúa Giêsu trong việc Chúa Giêsu trở nên Thầy dạy chúng ta về những giá trị của đời sống.

Thiên Chúa đă nói qua lời của tiên tri Malakia trong bài đọc I của chủ nhật hôm nay. Bài đọc tuyên bố: “Quả Ta là vua lớn lao”. Có ai trong đức tin chối điều đó không? Thiên Chúa đ̣i hỏi câu trả lời trong câu hỏi của Ngài: “Các người có chấp nhận rằng các người không được đặt ai vào chỗ của Ta như là Chúa các đạo binh của các người không?” Chúng ta phải trả lời: “Amen”.

Tuy nhiên có lẽ trong trường hợp của chúng ta th́ không khác biệt mấy với những người dân mà tiên tri Malaki đă rao giảng sứ điệp của ông. Họ những người dân Do thái đang trở về từ cuộc lưu đày ở Babylon, họ thấy quê nhà của họ đă bị xâm chiếm bởi một dân tộc khác, dân tộc đó không chia sẻ tôn giáo và những giá trị như họ. Hoàn cảnh là một thách đố đức tin cho cả hai, thành phần là tư tế và dân chúng. Đó là lư do v́ sao tiên tri Malaki đă rao giảng cho họ một bài giảng khẩn cấp và lớn lao như vậy.

Đó là lư do v́ sao Phúc âm của chủ nhật hôm nay có một ư nghĩa lớn lao đối với chúng ta. Chúng ta sống một xứ sở, xứ sở đó đă được thúc đẩy bởi những nguyện tắc chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu thụ, mà không phải bởi những giá trị của tôn giáo. Hầu hết mọi người mà chúng ta có thể nói rằng họ tin vào Thiên Chúa, nhưng sự cám dỗ thời đại trong xứ sở của chúng ta là sống mà Thiên Chúa không hiện hữu. Sự cám dỗ đó là có thực đối với chúng ta, tuy nhiên nó có thể tinh tế hay mờ nhạt khi chúng ta đang ngồi trong nhà thờ.

Có lúc nhà thờ sẽ là nơi cư ngụ của chúng ta, là ngôi nhà tinh thần của chúng ta trên mặt đất này. Nơi đây hăy trả sự chú ư cho Chúa Giêsu, vị Thầy dạy của chúng ta, khi chúng ta lắng nghe lời Người tuyên bố trong Thánh Kinh. Chúng ta tuân theo giáo huấn của Ngài bằng việc cầu nguyện với Thiên Chúa như là “Cha của chúng ta”, không chỉ trong lời kinh Lạy Cha, nhưng qua thánh lễ. Chúng ta nối kết với Người trong hy tế của Chúa Giêsu Kitô để hiểu rằng, Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và là vị Vua cao cả của chúng ta, là Đấng mà chúng ta dâng lời ngợi khen và cảm tạ.

Hơn nữa, chúng ta sẽ t́m thấy một dân và với dân đó chúng ta chia sẻ những giá trị trong đời sống, dân mà họ sẽ nâng đỡ chúng ta trong đức tin và là dân mà chúng ta sẽ sẵn ḷng giúp đỡ trong mọi lúc họ cần. Người Do Thái trở về một miền đất có vẻ giống như là ngoại quốc đối với họ. Chúng ta sẽ không bao giờ có cảm giác ḿnh không có chỗ trong một nhà thờ công giáo. Chúng ta phải t́m thấy nơi mỗi người, dân tộc được dâng hiến, là dân muốn sống theo những giá trị của Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa Cha đă ban cho chúng ta.

  


 

5. Đạo đức thật và đạo đức giả

Có một bà vợ thường xuyên càu nhàu về t́nh trạng khô khan nguội lạnh của ông chồng. Hơn thế nữa, bà c̣n tỏ ra khinh ghét tất cả những h́nh ảnh ông đă xâm trên ḿnh.

Ngày kia, trong một cố gắng nhằm cải thiện đời sống cũng như mối liên hệ với vợ, ông đă quyết định xâm h́nh Chúa Giêsu thật to trên tấm lưng của ḿnh. Trở về nhà, ông hớn hở giơ tấm lưng trần cho vợ xem và hỏi:

- Bà có biết ai đây hay không?

Chẳng đợi cho vợ trả lời, ông liền nói:

- Chúa đấy.

Thế nhưng, bà vợ bỗng nổi giận đùng đùng và quát lớn:

- Thật là báng bổ. Chúa nào lại ở trên cái lưng bẩn thỉu và nhớp nhúa của ông.

Nói rồi, bà vơ lấy cái chổi và cứ thế quất vào tấm lưng của ông cho đến khi bật cả máu.

Sau trận đ̣n ấy, ông ra ngồi dưới một gốc cây và bật khóc. Ông khóc không phải v́ trân đ̣n của bà vợ thuộc vào hạng sư tử Hà Đông, nhưng khóc v́ nhận ra rằng ḿnh không c̣n cách nào để làm đẹp ḷng bà vợ luôn tự hào về t́nh trạng đạo đức của ḿnh.

Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đọan Tin mừng sáng hôm nay và chúng ta dễ dàng nhận ra hai mẫu người đă được Chúa Giêsu nhắc đến. Mẫu người thứ nhất là những người luôn vỗ ngực tự hào v́ ḿnh công chính và đạo đức. C̣n mẫu người thứ hai là những kẻ tội lỗi và bị xă hội loại trừ.

Chúng ta c̣n thấy được chân dung hai mẫu người này qua những lời giảng dạy cùa Chúa và nhất là qua những câu chuyện Ngài đă kể.

Chẳng hạn câu chuyện về người con phung phá.

Cậu em tượng trưng cho kẻ tội lỗi, c̣n người anh cả tượng trưng cho những người tự nhận ḿnh là đạo đức và công chính. Khi nghe biết thằng em ḿnh đă ăn năn sám hối, quay trở về và được người cha niềm nở tiếp đón, th́ anh ta đă sừng sổ và giận dữ. Trong lúc người cha dịu dàng khoan dung, th́ anh ta đă bực tức xỉa xói:

- Thằng con hư đốn của cha.

Chủ đích của câu chuyện dĩ nhiên nói về ḷng nhân từ và khoan dung của Thiên Chúa, nhưng đồng thời qua đó, Ngài c̣n nhắm tới bọn biệt phái và luật sĩ v́ đám người này đă tỏ ra bực bội và tức tối khi thấy những kẻ tội lỗi được Chúa Giêsu ân cần tiếp đón.

Và hơn thế nữa, họ vốn tự hào là những người đạo đức và công chính, để rồi có thái độ kinh bỉ, chỉ trích và gay gắt kết an những kẻ tội lỗi.

Chúng ta cũng thấy được chân dung hai mẫu người trên qua câu chuyện về người biệt phát và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện.

Người biệt phái th́ huênh hoang tự đắc:

- Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa v́ con chẳng phải là kẻ ham hố, bất lương hay ngọai t́nh. Con cảm tạ Chúa v́ con không giống cái thằng thu thuế kia. Con dâng cho Chúa một phần muời hoa lợi của con…

Ngược lại, người thu thuế th́ đứng ở đằng xa, cúi đầu, đấm ngực và khiêm tốn kêu cầu:

- Lạy Chúa, xin thương xót con v́ con chỉ là một kẻ tội lỗi.

Và Chúa Giêsu đă kết thúc câu chuyện:

- Ta nói cho các ngươi hay khi trở về, không phải người biệt phái mà là người thu thuế được nên công chính trước mặt Thiên Chúa.

Sở dĩ như vậy là bởi v́ ai nâng ḿnh lên th́ sẽ bị hạ xuống, c̣n ai hạ ḿnh xuống th́ sẽ được nâng lên.

  


 

6. Đóng kịch

Tất cả chúng ta đều tỏ vẻ khó chịu và dứt khoát không chấp nhận lối sống giả h́nh, giả dối của người nào đó, Chúa Giêsu cũng thế thôi. Ngài thường phàn nàn và khiển trách tính cách giả h́nh, giả dối của những người Pharisêu và kinh sư, đồng thời Ngài cũng khuyến cáo dân chúng: hăy đề pḥng và cảnh giác đối với những người ấy, cụ thể như bài Tin Mừng hôm nay.

Chúng ta thấy Chúa Giêsu phân biệt quyền giáo huấn và những người thi hành quyền đó. Ngài nh́n nhận các người Pharisêu và kinh sư có quyền giáo huấn, v́ họ là những người được chính thức trao phó nhiệm vụ dạy bảo dân chúng, do đó khi họ thi hành nhiệm vụ là họ nhân danh Chúa, nên phải nghe và giữ những ǵ họ dạy bảo. Nhưng tại sao Chúa lại nói đừng bắt chước hay noi theo những việc làm của họ? Phải chăng họ đă làm những việc bất chính? Không, Chúa nh́n nhận họ có làm nhiều việc thật, b́nh thường th́ đó là những việc tốt đáng được ca tụng, nhưng đối với Chúa th́ chẳng nghĩa lư ǵ, v́ thái độ giả h́ng, giả dối của họ. Ḷng đạo đức của họ chỉ có tính cách giả dối, một thứ đạo đức chỉ có cái vỏ bên ngoài.

Mỉa mai hơn nữa, đáng trách hơn nữa, họ là những người có thẩm quyền giải thích luật, họ nhấn mạnh luật lệ từng chữ, từng tiếng và họ khắt khe đ̣i hỏi mọi người phải tuân giữ, nhưng chính họ th́ lại không áp dụng cho chính ḿnh. Như thế, họ nói mà không làm, hoặc tệ hơn nữa, họ nói một đàng làm một nẻo, như thánh Phaolô nói: “Ngươi giáo dục kẻ khác mà không giáo dục ḿnh. Ngươi hănh diện về lề luật mà chính ngươi lại lỗi luật”, nghĩa là ngôn ngữ và hành vi của họ mâu thuẫn nhau, lư thuyết và thực hành của họ bất nhất. Họ rao truyền lời Chúa, nhưng thực ra họ lạm dụng uy tín làm thầy và địa vị làm thủ lănh của họ. Cho nên, trong con người họ như có hai phương diện, hai nếp sống: một nếp sống giả h́nh trong bổn phận; c̣n với chính ḿnh lại buông xuôi, buông thả. Cuộc sống nước đôi như vậy thật là phiền phức: cái đúng trở thành cái sai, và cái sai mới là đúng.

Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu có thái độ nghiêm khắc, đến nỗi Chúa khiển trách họ nặng lời. Ngài không bao giờ có thể chấp nhận được cái thói giả h́nh và thái độ kiêu căng tự phụ của họ. Chính lối sống đạo như vậy đă chuốc lấy cho họ những lời khiển trách, có thể nói là gay gắt nhất phát ra từ miệng Chúa Giêsu. Chúa đă vạch trần bộ mặt giả h́nh và cách sống đóng kịch bôi bác của họ, và Chúa dạy chúng ta đừng sống như thế. Hăy sống thành thực, nói và làm đi đôi với nhau và trước sau như một.

Chúng ta hăy lặng tâm suy nghĩ: những người Pharisêu không c̣n, nhưng lối sống của Pharisêu chưa hết, vẫn c̣n nơi chúng ta. Nh́n vào xă hội, nh́n vào đời sống thực tế, chúng ta thấy: sự giả h́nh, giả dối đă thành ra như thông lệ, từ lănh vực t́nh yêu đến lănh vực văn hoá, kinh tế, tôn giáo, chính trị, người ta vẫn thường dùng cái bên ngoài mà lừa đảo nhau. Tính giả h́nh, giả dối ai mà không ghét, thế nhưng người ta lại thường đồng ư rằng: muốn được kẻ khác kính nể, cần phải giăng một bức màn dầy giữa tư tưởng và cái lưỡi, giữa tâm trạng bên trong và cách cư xử bên ngoài.

Thậm chí có người c̣n nói một cách trơ trẽn, trắng trợn rằng: ai muốn thành công th́ đừng bao giờ duy tŕ một thái độ trước mặt cũng như sau lưng. Đừng bao giờ nên nói ra ngoài miệng như ḿnh đang nghĩ trong bụng, dẫu trong bụng có muốn tru di tam tộc người ta đi nữa, bên ngoài cũng phải làm ra vẻ ngọt ngào. V́ vậy mà trong xă hội không thiếu ǵ những người: “Bề ngoài thơn thớt nói cười. Mà trong nham hiểm giết người không gươm”. Thành ra, để phân biệt được ai là chính trực, ai là giả h́nh, ai là người trung nghĩa, ai là kẻ lừa thầy phản bạn thật là khó. Chúng ta thấy có những người đóng kịch rất tài t́nh: bên ngoài coi lương thiện, đạo hạnh, tử tế mà thực sự bên trong là tay độc ác ghê tởm vô cùng, có những người tỏ ra đàng hoàng dưới ánh nắng, nhưng trong bóng râm tỏ ra lưu manh đáng sợ.

Chúng ta hăy suy nghĩ: đời sống của chúng ta có ǵ là giả h́nh hoặc đóng kịch không? Chúng ta hăy nhớ: chúng ta có thể sống đóng kịch, che đậy, giấu giếm người này người khác, nhưng chúng ta có thể sống măi như thế không? Không đâu, chắc chắn sẽ có ngày “cháy nhà ra mặt chuột”. Giả như chúng ta có sống được măi như thế suốt đời, không ai biết chăng nữa, nhưng chúng ta có thể qua mắt được Thiên Chúa không? Chắc chắn là không. Được ḷng người đời hay được người đời ca tụng, nhưng không được ḷng Chúa, không được Chúa ghi công th́ cũng như không, chẳng có giá trị ǵ. Đó là điều chúng ta cần suy nghĩ và tự nhủ ḿnh khi làm bất cứ điều ǵ, kể cả những việc đạo đức.

 
 

7. Là anh em với nhau

Suy Niệm

Nửa sau của bài Tin Mừng hôm nay có thể làm chúng ta bị sốc.

Đức Giêsu bảo ta đừng để ai gọi ḿnh là thầy, v́ chỉ có một Thầy, một vị lănh đạo là chính Ngài; cũng đừng gọi ai là cha, v́ chỉ có một Cha là Thiên Chúa trên trời. Vậy mà chúng ta vẫn gọi nhiều vị trong Hội Thánh là cha, là Đức Thánh Cha, là giáo phụ, thượng phụ, viện phụ... Chúng ta có làm sai lời Chúa dạy không? Ta có phải hiểu theo nghĩa đen lời của Đức Giêsu không?

Hội Thánh sơ khai đă không hề hiểu theo nghĩa đen. Thánh Phaolô đă coi ḿnh là cha sinh ra các tín hữu, đă gọi họ là con (1Cr 4,14-17; Gl 4,19). Hội Thánh cũng có những thầy dạy (Cv 13,1; 1Cr 12,28), và những vị lănh đạo (Cv 15,22; Rm 12,8). Vậy đâu là điều Đức Giêsu muốn nhắn nhủ chúng ta?

Chắc chắn Ngài không hề muốn phá bỏ những cơ cấu cần thiết cho thân thể Hội Thánh, Ngài cũng không loại bỏ phẩm trật và quyền hành. Ngài chỉ muốn chúng ta đừng quên: mọi quyền bính trong Hội Thánh đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và phải quy về Thiên Chúa.

Nếu có ai làm thầy, làm người lănh đạo, th́ v́ họ được chia sẻ quyền làm Thầy của Đức Giêsu.

Nếu họ được gọi là cha, th́ v́ họ được chia sẻ quyền làm Cha của Thiên Chúa. Dù có chức vụ hay chức vị ǵ trong Hội Thánh, tôi cũng không được quên chân lư này: c̣n tất cả anh em đều là anh em với nhau, con một Cha trên trời.

Chỉ có một vị Thầy là Đức Giêsu.

Nhưng Thầy Giêsu lại sống như bạn của các môn đệ, như anh em với họ (Ga 15,14; Mt 12,49-50), và nhất là như tôi tớ phục vụ họ (Mt 20,28).

Đức Giêsu măi măi là gương cho các nhà lănh đạo. Quyền lănh đạo chính là để phục vụ con người.

Phần đầu của bài Tin Mừng cho thấy sự giả h́nh của một số người pharisêu, có quyền giảng dạy Lề Luật.

Giả h́nh là không làm điều ḿnh dạy người khác, là dễ dăi với chính ḿnh, nhưng khắt khe với tha nhân.

Giả h́nh là biến việc thờ phượng Chúa thành thờ ḿnh, làm việc tốt để người ta thấy và thán phục.

Khi nh́n khuôn mặt của người pharisêu giả h́nh, tôi thấy tôi: háo danh, khoa trương, ích kỷ, dám "đốc" chứ không dám làm...

Có những đoạn Tin Mừng làm chúng ta nhức nhối, v́ mở cho chúng ta những chân trời xa, cho chúng ta thấy những điều cần làm, phải làm, nhưng chưa làm.

Gợi Ư Chia Sẻ

Vẫn thường có khoảng cách giữa điều tôi nghĩ với điều tôi nói, giữa điều tôi nói với điều tôi làm. Chúng ta ít nhiều đều có chút giả h́nh. Bạn nghĩ ǵ về sự giả h́nh của bạn?

Quyền hành thường làm con người hư hỏng. Bạn thấy có cách nào để tránh mối nguy hiểm này không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,

Khi đến với nhau, chúng con thường mang những mặt nạ. Chúng con sợ người khác thấy sự thật về ḿnh. Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.

Khi đến với Chúa, chúng con cũng thường mang mặt nạ. Có những hành vi đạo đức bên ngoài để che giấu cái trống rỗng bên trong. Có những lời kinh đọc trên môi, nhưng không có chỗ trong tâm hồn, và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con cũng thường ngắm ḿnh trong gương, tự ru ngủ và đánh lừa ḿnh, măn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.

Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ, đă ăn sâu vào da thịt chúng con, để chúng con thôi đánh lừa nhau, đánh lừa Chúa và chính ḿnh.

Ước ǵ chúng con xây dựng bầu khí chân thành, để chúng con được lớn lên trong b́nh an.

  


 

8. Trách kẻ giả h́nh

Sự kiện có nhiều tín hữu lấy việc phải đóng góp như là cớ để rời bỏ Giáo Hội, vén mở cho thấy một vấn đề khác đang gây âu lo không ít cho Hội Đồng Giám mục các nước Âu Châu. Đó là nhiều Kitô hữu đánh mất đi niềm tin của họ trong một xă hội bị tục hóa nặng nề. Chính v́ nhiều tín hữu Âu Châu không sống đạo và không liên hệ ǵ với Giáo Hội nữa, nên họ thấy việc đóng góp cho Giáo Hội trở thành một gánh nặng vô lư.

Trong một xă hội đang đánh mất đi các giá trị Kitô của ḿnh như Giáo Hội Âu Châu, th́ chỉ một Giáo Hội sinh động với một số tín hữu sống ḷng tin trung thực và xác tín mới có sức trao ban hy vọng cho con người đang lạc hướng bơ vơ ấy. Đây là lư do giải thích tại sao Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă khẩn thiết khuyến khích công tác "tái truyền giảng Tin Mừng" và kêu gọi các quốc gia tái khám phá ra nền văn hóa Kitô của ḿnh.

Nhưng thế nào là sống ḷng tin trung thực cho một Giáo Hội sinh động? Các bài đọc Phụng vụ của Chúa Nhật 31 Thường Niên hôm nay cống hiến cho chúng ta một số tư tưởng, giúp chúng ta duyệt xét lại ḷng tin của ḿnh vào Giáo Hội.

Bài Tin Mừng hôm nay được thánh Matthêu ghi lại cuộc đụng độ trầm trọng giữa Chúa Giêsu và hàng lănh đạo Do Thái, đồng thời nó cũng diễn tả t́nh trạng căng thẳng sự đổ bể liên hệ giữa cộng đoàn Do Thái và cộng đoàn Kitô giáo trong thời sơ khai.

Cuộc đụng độ ấy cho thấy hai loại Giáo Hội đối nghịch nhau: Thứ nhất là một Giáo Hội đầy dẫy những tín hữu thủ cựu huênh hoang, phách lối, ham hố quyền bính, vụ luật và dùng luật lệ làm b́nh phong che đậy cuộc sống giả dối tội lỗi của ḿnh. Thứ hai là một Giáo Hội sống theo tinh thần Tin Mừng của Chúa Giêsu, trong đó hàng lănh đạo là những người khiêm tốn, thánh thiện, biết hy sinh xả kỷ phục vụ và sống nêu gương cho người khác.

Vậy, khi mạnh mẽ chỉ trích hàng lănh đạo Do Thái, Chúa Giêsu đă phản đối quyền lănh đạo hợp pháp của họ, nhưng đồng thời Ngài cũng vạch trần những thái độ sống đạo sai lạc của giới lănh đạo, của hàng tư tế, của giới luật sĩ và biệt phái, giới kư lục và các bô tăo. Họ là những người thông hiểu luật Chúa, đáng lư ra họ phải nêu gương cho tín hữu th́ ngược lại họ lại gây nên gương mù, gương xấu cho dân chúng.

V́ thế, Chúa Giêsu đă tố cáo thái độ sống đạo lệnh lạc của họ là không trung thực, sống phản chứng. Họ nói mà không làm, rao giảng mà không sống các điều ḿnh rao giảng. Họ dạy tín hữu phải biết sống đơn sơ khó nghèo, trong sạch, liêm chính, không ham danh ham lợi, không chạy theo của cải vật chất trần gian, biết chia sẻ với người túng thiếu. Nhưng họ lại quan liêu hống hách, bê tha dục vọng, tranh giành chức vị, chạy theo tiền bạc của cải, quyền bính và sống ích kỷ, gian ác và tội lỗi, sống sa đọa hơn giáo dân rất nhiều. Thái độ nói một đàng làm một nẻo ấy của họ bôi nhọ và giảm uy tín Giáo hội, khiến cho giáo dân từ bỏ Giáo Hội và làm cho những người chưa biết Chúa xa rời t́nh yêu của Ngài.

Chúa Giêsu không chỉ tố cáo thái độ sống đạo lệch lạc của họ, mà Ngài c̣n tố cáo việc sống đạo vụ h́nh thức nặng nề của họ. Họ chủ trương tuân giữ luật lệ một cách tỉ mỉ, rườm rà theo bề ngoài mà quên đi tinh thần ṇng cốt của luật. Tâm thức luật lệ ấy khiến cho hàng lănh đạo Do Thái gia tăng số luật lệ, cam đoan đủ điều và biến luật lệ trở thành dụng cụ áp chế, bóp nghẹt sự tự do tinh thần trong cuộc sống ḷng tin, khiến cho liên hệ giữa tín hữu với Thiên Chúa trở thành một gánh nặng đè bẹp, ngột ngạt khó thở, v́ bị các luật lệ cột buộc bao vây tư bề.

Thật ra, các liên hệ với Thiên Chúa phải giúp cho tín hữu cảm nhận được ḷng yêu thương nhân thứ và quan pḥng ấp ủ của Ngài đối với ḿnh. V́ thế, cuộc sống ḷng tin phải là cuộc sống vui tươi, hạnh phúc tràn đầy hy vọng và an b́nh, chứ không phải là nhắm mắt tuân hành các luật lệ trống rỗng vô hồn.

Hơn nữa, kiểu sống đạo giả h́nh và phô trương của họ mang tính cách háo danh, thích ăn trên ngồi trốc, thích được nịnh hót, thích được xưng tụng và chào hỏi bằng tước hiệu trọng vọng.

Mặc dù không thi hành các luật Chúa, nhưng hàng lănh đạo Do Thái khi giảng dạy ởû Hội đường th́ họ lại nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo, huênh hoang, vạch đường chỉ lối cho người khác phải theo. Nhưng khi trở về đời sống riêng tư th́ chui đầu vào ngơ bí, làm những điều mà phải đóng cửa tắt đèn mới dám làm. Vậy, những kẻ giả h́nh đó phải coi chừng, v́ Chúa Giêsu sẽ chỉ mặt điểm tên mà bảo rằng: "Ngươi là cái mả tô vôi, ởû ngoài th́ trắng trẻo sạch sẽ, bên trong th́ đầy thây ma xác chết thối tha, là những phường nói một đàng làm một nẻo".

Nếu chúng ta không ư thức những điều đó, để rồi chúng ta lại rơi vào bánh xe xa lầy của những kẻ giả h́nh, lúc đó Chúa cũng trách chúng ta như vậy. Không trách sao được, khi chúng ta mở miệng dạy đạo đức cho người khác mà đời sống ḿnh lại không đạo đức chút nào? Không trách làm sao được khi ḿnh mở miệng răn bảo người khác không nên trộm cắp, phải tôn trọng tài sản của kẻ khác, mà chính ḿnh lại là kẻ hối lộ, tham nhũng, ăn gian ăn bớt đủ thứ. Tha làm sao được khi ḿnh dạy người khác phải chung thủy trong gia đ́nh, thanh tịnh trong đấng bậc ḿnh, c̣n ḿnh th́ đưa người cửa trước, đón người cửa sau.

Tin Mừng hôm nay nhắc nhở cho chúng ta biết rằng, Chúa Giêsu luôn luôn hiện diện với từng người trong chúng ta trong cuộc sống, diện đối diện, mắt nh́n mắt, chúng ta hăy để cho lời Ngài xoáy vào tâm can, vào tâm hồn chúng ta. Vậy chúng ta đừng sợ chi cả v́ bao lâu chúng ta c̣n sợ Lời Chúa, th́ bấy lâu chúng ta c̣n bào chữa để che giấu cho con người thứ hai trong chúng ta, con người chỉ thích bóng tối. Hăy lôi cổ con người thứ hai đó ra ánh sáng Lời Chúa để định bệnh cho nó. Hăy mổ xẻ nó và với ơn Chúa hăy băng bó cho nó, tạo lại những nếp sống hài ḥa trong mọi lănh vực của đời sống chúng ta.

Thật vậy, sự hài hoà mọi lănh vực trong đời sống của ḿnh không phải là chuyện dễ, v́ con người chúng ta đều có giới hạn. Nhưng Thiên Chúa đă đặt vào trong con người chúng ta những ư nghĩ của điều thiện hảo, giúp chúng ta hướng đến sự sống vô biên. Vậy chắc chắn điều Chúa muốn là chúng ta cố gắng trong khả năng, trong địa vị của ḿnh để trở thành một mẫu gương sống cho người khác, nhất là những người mà chúng ta có trách nhiệm hướng dẫn dạy dỗ họ.

Có như thế, chúng ta mới giảng dạy cho người khác một cách xác tín, mạnh dạn khuyên bảo người khác mà không đớ lưỡi, mà không ngượng miệng, không cứng họng, nhất là người khác đó là con cháu của ḿnh. Và như thế, mỗi người chúng ta mới thực hiện được lời khuyên tha thiết của Chúa Giêsu: "Chúng con phải sống thế nào để người khác nh́n vào chúng con mà ngợi khen Cha chúng con ởû trên trời".

Chúng ta cũng nên biết rằng, đối với thời đại chúng ta đang sống, nếp sống gương mẫu của các Kitô hữu là một phương thế hữu hiệu nhất để mở đường cho người khác tin vào Thiên Chúa. Có thể nói được rằng, con người ngày nay cần phải có đời sống gương mẫu để củng cố đức tin. V́ chính nhờ đời sống ngay lành, thánh thiện, công b́nh và bác ái của những người tin Chúa sẽ làm cho những người khác phải đặt câu hỏi. Nhờ đó mới khơi dậy trong họ một ước nguyện đi t́m Chân Thiện Mỹ mà Chân Thiện Mỹ tuyệt đối chính là Thiên Chúa vậy.

 
 

9. Sống chân t́nh

Chuyện kể rằng: Ngày kia, nữ hoàng Saba gởi đến vua Salomon hai bó hoa rất giống nhau, để thử xem sự khôn ngoan của ông tới đâu. Đó là một bó hoa thật và một bó hoa giả. Nhà vua bèn mở cửa sổ, cho bầy ong bướm bay vào. Tức th́ các chú ong và các nàng bướm liền sà ngay xuống những bông hoa thật.

Những bông hoa giả có sắc mà chẳng có hương, có bóng h́nh mà không có sự sống. Những kẻ giả h́nh nói nhiều làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí, chỉ nói suông mà không có thực hành. Họ dung túng cho ḿnh nhưng lại nghiêm khắc với kẻ khác.

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu vạch trần những con người giả h́nh ấy. Người nói: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta nhưng chính họ th́ lại không buồn động ngón tay vào”. Người giả h́nh c̣n nhiều tật xấu khác mà Đức Giêsu không tiếc lời chỉ trích. Như tính khoe khang công đức, thích ăn trên ngồi trước, ưa được kính trọng chào hỏi nơi công cộng, và muốn người ta gọi ḿnh là thầy. Sau khi nghe Đức Giêsu mô tả khuôn mặt kẻ giả h́nh, hẳn ai trong chúng ta cũng thấy dáng dấp của ḿnh trong đó. Nếu không háo danh th́ cũng khoa trương, nếu không kể công lênh th́ cũng thích được trọng vọng, nếu không ích kỷ cũng nói nhiều làm ít.

Đức Giêsu quả đă không nương tay khi cầm con dao mổ, rạch sâu vào ung nhọt của lương tâm mỗi chúng ta. Cuộc giải phẫu ấy làm chúng ta đau buốt, nhưng sau khi đă lấy ra hết ung nhọt hôi tanh của tính giả h́nh, chúng ta sẽ chân thành và khiêm tốn hơn.

Chúng ta sẽ chỉ sống những ǵ ḿnh nói và chỉ nói những ǵ ḿnh đă làm. Đức Gioan Phaolô II đă nói “Con người ngày nay không cầøn những thầy dậy nói suông, nhưng cần những chứng nhân sống điều họ nói”.

Chúng ta không bao giờ phê b́nh lên án một ai, v́ khi chỉ trích kẻ khác là chúng ta đang ngấm ngầm che giấu những tật xấu nơi chính ḿnh, là chúng ta không dám đối mặt với sự thật nơi bản thân, bởi sự thật đó buộc chúng ta phải sám hối và canh tân luôn măi.

Trong thẳm sâu của ḷng người, ai cũng muốn có được một chút danh vọng, ai cũng thích trổi vượt hơn người. Hôm nay, Đức Giêsu đă cho chúng ta một quan điểm mới, để đáp lại nhu cầu muốn làm lớn trong mỗi chúng ta: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em”. Điều này Đức Giêsu đă làm gương trước khi dạy. Tuy người là Chúa và là Thầy, nhưng Người luôn coi ḿnh như bạn hữu, như anh em, và nhất là như đầy tớ phục vụ và yêu thương các môn đệ cho đến cùng. Như thế, làm lớn theo quan điểm của Đức Giêsu chính là cúi xuống trước anh em để chân t́nh phục vụ họ trong yêu thương. Thánh Phaolô viết: “Người được chấp nhận không phải là để tự cao tự đại, nhưng là người được Chúa đề cao”. Hăy soi đời ḿnh vào tấm gương Giêsu, để t́m cho ḿnh một phong cách sống đẹp nhất.

 
 

10. Các kinh sư và Pharisiêu giả h́nh - JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Động lực căn bản nào khiến những người Pha-ri-siêu hành động như vậy? Ta có bị thúc đẩy bởi động lực đó không?

2. Nếu mọi việc tốt đẹp ta làm đều làm nhằm để được tiếng khen, để được ca tụng, th́ người khác có nghĩ rằng ta tốt, ta đạo đức không? Thiên Chúa sẽ đánh giá ta thế nào? Trước mặt Ngài, đạo đức của ta là đạo đức ǵ?

3. Muốn thánh thiện đích thực, ta phải xây dựng sự thánh thiện đó trên nền tảng nào?

Suy tư gợi ư:

1. Tật xấu chung của con người: muốn được mọi người nể phục tôn trọng, muốn được hơn người khác

Đọc bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy ngay hai phần rơ rệt diễn tả hai tinh thần đối chọi nhau. Phần đầu nói lên tinh thần «ph́nh to bản ngă» của người Pha-ri-siêu, thích đặt nặng «cái tôi», đưa «cái tôi» của ḿnh lên trên «cái tôi» của người khác. C̣n phần sau là tinh thần «tự hủy» của Đức Giê-su, là tinh thần từ bỏ ḿnh, quên ḿnh, xả kỷ, đặt «cái tôi» của ḿnh dưới «cái tôi» của kẻ khác.

Tinh thần «ph́nh to bản ngă» không chỉ là tâm lư của những người Pha-ri-siêu, mà c̣n là tâm lư của đại đa số nhân loại chúng ta. Chúng ta thích được mọi người nể phục, ca tụng, đề cao; thích khoe những ưu điểm, thành tích của ḿnh; thích có địa vị hay quyền lực trong xă hội hay Giáo Hội; thích được người khác phục vụ, qụy lụy; ai nói đụng chạm đến ḿnh th́ tỏ ra bực bội; thấy những người chung quanh hơn ḿnh th́ đâm ra buồn nản, ganh tức, v. v.. Tâm lư như thế là tâm lư rất b́nh thường, không mang tính bệnh hoạn. Nó chỉ trở thành bệnh hoạn khi trở nên quá đáng, nghĩa là ước muốn được hơn người trở thành một nỗi ám ảnh, hay biến ta thành một người đầy tham vọng, và muốn thỏa măn những mong ước ấy với bất cứ giá nào, bất chấp phải làm những điều trái lương tâm... T́nh trạng bệnh hoạn ấy sẽ khiến tâm hồn ta thường xuyên mất b́nh an và làm người khác khó chịu.

Muốn nên thánh, ta phải vượt lên trên tâm lư b́nh thường ấy. Nếu ta thắng vượt được tâm lư đó, th́ ta đă trở nên hơn người b́nh thường một bậc. Và lên được bậc này là lên được bậc căn bản nhất để nên thánh rồi. Thật vậy, không ai có thể nên thánh nếu vẫn c̣n trong t́nh trạng tâm lư coi «cái tôi» của ḿnh là «cái rốn của vũ trụ», là hơn hết mọi người, và coi ư riêng, ư kiến, quyền lợi ḿnh cao hơn ư riêng, ư kiến, quyền lợi người khác.

2. Coi chừng kẻo thứ đạo đức của ta đang được xây dựng trên tâm lư muốn «ph́nh to bản ngă»

Khi ta tự đặt ta cao hơn người khác hoặc những ǵ của ta cao hơn của người khác th́ ta cũng mong muốn, thậm chí đ̣i hỏi người khác phải coi ta hơn bản thân họ, hoặc những ǵ của ta hơn của họ. Một người luôn đặt nặng «cái tôi» của ḿnh như thế vẫn có thể được mọi người coi là đạo đức, thậm chí là «đạo cao đức cả», nhờ tuân giữ chi tiết và hoàn hảo các luật lệ tôn giáo, hoặc làm được những việc phúc đức lớn lao như những người Pha-ri-siêu thời Đức Giê-su. Họ sẵn sàng tuân giữ mọi quy luật tôn giáo, làm những hành động tốt, không phải v́ mến Chúa yêu người, mà v́ muốn được mọi người chung quanh nể phục, ca tụng, coi ḿnh là người đạo đức, và nhờ đó, tín nhiệm ḿnh, tôn ḿnh lên những địa vị cao trong xă hội hay Giáo Hội.

`Nhưng trước con mắt Thiên Chúa, tinh thần «ph́nh to bản ngă» ấy làm hỏng tất cả những ǵ có vẻ tốt đẹp của họ. Tinh thần ấy đă biến những hành vi đạo đức như đọc kinh cầu nguyện, làm phúc bố thí, có vẻ yêu thương… thành những hành vi vị kỷ. V́ những hành vi ấy không xuất phát từ động lực yêu thương. Trước mặt Thiên Chúa, giá trị đạo đức của một hành động phần rất lớn hệ tại động lực thúc đẩy: càng vị tha, càng v́ yêu thương th́ càng có giá trị, c̣n càng vị kỷ th́ càng giảm giá trị. Điều này thánh Phao-lô nói rất rơ: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, th́ cũng chẳng ích ǵ cho tôi» (1Cr 13,3). Những hành vi ấy, cho dù vĩ đại, có vẻ đầy t́nh thương, hay đem lại lợi ích cho rất nhiều người khác, nhưng v́ không được thúc đẩy bởi động lực yêu thương, nên chẳng có giá trị trước Thiên Chúa, và chẳng đem lại lợi ích tâm linh cho ta. Khi làm v́ ta, th́ ta đă đạt được những lợi ích trần thế, nghĩa là «đă được phần thưởng rồi» (Mt 6,5b).

Chính trong viễn ảnh này mà câu Kinh Thánh sau đây trở nên dễ hiểu: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đă chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?... Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23). Việc nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ, tự bản chất đều là những việc đạo đức, nhưng nếu làm với động lực vị kỷ chứ không phải v́ yêu thương, th́ chẳng có giá trị ǵ về tâm linh. Nếu dựa vào những việc đạo đức kém giá trị ấy để lên mặt tự hào và khinh khi người khác, th́ những việc ấy lại trở thành tội ác! V́ thế, muốn nên thánh, ta cần phải thường xuyên thanh luyện động lực khi làm những điều thiện, những việc đạo đức.

3. Sự thánh thiện đích thực được xây dựng trên nền tảng tự hủy, quên ḿnh, xả kỷ, yêu thương

Thứ đạo đức của người Pha-ri-siêu được xây dựng trên nền tảng «ph́nh to bản ngă», nên đó là thứ đạo đức giả, có thể được người đời lầm tưởng mà đánh giá cao, nhưng trước mặt Thiên Chúa chẳng có giá trị ǵ. Đức Giê-su muốn chúng ta, những kẻ theo Ngài, là những người đạo đức thật sự. Nghĩa là đạo đức của ta phải được xây dựng trên nền tảng tự hủy và yêu thương. Ngài khuyên chúng ta đừng ham được mọi người gọi ḿnh là «ráp-bi», là «cha», là «thầy», là «người lănh đạo»... nghĩa là đừng ham được mọi người nể phục, kính trọng, đề cao, đừng khao khát quyền lực, địa vị... Hăy tự coi ḿnh là một số không, chẳng có ǵ đáng tự hào, đáng cậy công... V́ xét cho cùng, ta chẳng có một điều ǵ có giá trị do tự ta làm ra cả. Tất cả những ǵ có giá trị nơi ta đều đến từ Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nói: «Bạn có ǵ mà bạn đă không nhận lănh? Nếu đă nhận lănh, tại sao lại vênh vang như thể đă không nhận lănh?» (1Cr 4,7).

Khi ta tự hào với người khác về đạo đức, tài năng, ḷng can đảm... th́ điều ấy giả thiết rằng ta đă tự coi những thứ tốt đẹp ấy là do ta chứ không phải do ai khác. Thế là ta đă trở thành kẻ vô ơn đối với Thiên Chúa, v́ không ǵ ta có mà không phải do Ngài ban. Gio-an Tẩy giả nói với những người Pha-ri-siêu: «Đừng tự hào rằng: "Chúng ta đă có tổ phụ Áp-ra-ham." V́, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những ḥn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra- ham» (Mt 3,9). Cũng vậy, Thiên Chúa có thể biến những kẻ vô dụng, hèn kém nhất trong thế gian này, những kẻ mà ta đang khi rẻ thành những kẻ đạo đức và tài năng hơn ta. Và Ngài cũng có thể giảm các ân huệ Ngài vẫn ban cho ta, lập tức lúc đó ta trở thành kẻ không ra ǵ. Biết bao người đang được mọi người coi là cao cả mà chỉ v́ bị mất ơn Chúa đă trở thành kẻ tầm thường! Như vậy, người hiểu biết và khôn ngoan đích thực sẽ không bao giờ dám tự hào về ḿnh điều ǵ. Thánh Phao-lô khuyên: «Ai tự hào th́ hăy tự hào trong Chúa» (1Cr 1,31; x. 2Cr 10,17).

Một người đạo đức thật sự sẽ không «làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy» (Mt 23,5), «cốt để người ta khen» (Mt 6,2) như những người Pha-ri-siêu, mà trái lại sẽ làm theo lời khuyên của Đức Giê-su: «Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm» (Mt 6,3); «khi cầu nguyện, hăy vào pḥng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo» (6,6). Những việc tốt đẹp ấy nếu ta không làm v́ ta, để vinh danh ta, mà làm v́ yêu thương, v́ ích lợi của tha nhân, th́ dù nhỏ mọn, chúng vẫn có giá trị lớn lao trước mặt Thiên Chúa. C̣n nếu làm v́ ta, để được khen, được nể phục, th́ việc ấy dù có lớn lao đến đâu, cũng trở nên vô giá trị trước Thiên Chúa, bất chấp chúng được người đời ca tụng thế nào. Vậy chính tinh thần tự hủy, quên ḿnh, xả kỷ, vị tha khi hành động mới làm cho hành động của ta có giá trị, và giúp ta nên thánh thật sự.

Cầu nguyện

Tôi nghe Thiên Chúa nói với tôi: «Cha dựng nên con từ hư vô, và dựng nên người khác cũng từ hư vô. Tự bản chất và tự bản thân con, con chẳng hơn người khác một chút nào. Ngược lại người khác cũng chẳng hơn con chút nào. Con có hơn người khác được điều ǵ, th́ do chính Cha đă ban đủ ơn để con hơn được như vậy. Thế th́ con có lư do ǵ để lên mặt với những kẻ thua kém con? Rất có thể một lúc nào đó, Cha sẽ lại cho những kẻ kém con, những kẻ con khinh thường ấy hơn con. Tốt hơn là con hăy quên con đi, đừng tự coi ḿnh là ǵ cả. Chính thái độ ấy làm cho con trở nên cao cả trước mặt Cha, làm đời sống con hạnh phúc và tốt đẹp biết bao! Cha mong con có thái độ ấy».

 


 

11. Nói và làm

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đă nghiêm khắc kết án bọn biệt phái và luật sĩ là những người lănh đạo tôn giáo trong dân Do Thái. Thế nhưng, biết đâu những lời kết án nghiêm khắc ấy cũng được gửi đến cho mỗi người chúng ta, bởi v́ những khuyết điểm của họ cũng là những khuyết điểm của mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Nh́n lại khuôn mặt của bọn biệt phái và luật sĩ, chúng ta không khỏi giật ḿnh bởi v́ bản thân chúng ta cũng có những đường nét nào đó giống như họ. Vậy đâu là những khuyết điểm chính yếu bọn biệt phái và luật sĩ đă mắc phải để rồi đă bị Chúa Giêsu chỉ trích và phê b́nh một cách gắt gao?

Khuyết điểm thứ nhất, đó là họ nói mà không làm. Có một khoảng cách vừa sâu lại vừa rộng giữa những điều họ giảng dạy với những điều họ thực hành trong đời sống cá nhân. Chúa Giêsu đă diễn tả thật chính xác về họ như sau:

Họ nói mà không làm. Họ nói th́ nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Tệ hơn nữa, họ nói một đàng nhưng làm quàng một nẻo, họ làm ngược lại những ǵ họ đă nói và đă giảng theo kiểu:

- Khẩu phật tâm xà.

- Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.

Và như vậy, điều quan trọng đối với chúng ta là phải thống nhất đời sống, để việc chúng ta làm ăn khớp với lời chúng ta nói và dạy. Lời nói phải biểu lộ những ǵ ấp ủ trong cơi ḷng, chứ không phải chỉ là sự vận dụng khéo léo những ngôn từ hoa mỹ để thu hút và lôi cuốn người khác như người ta vốn thường bảo:

- Khéo mồm mép, khỏe tay chân.

Trong nghi lễ phong chức Linh mục, Đức Giám mục đă khuyên các tân chức như sau:

- Khi suy gẫm Lời Chúa, các con hăy chú tâm tin điều chúng con đọc. Dạy điều các con tin và làm điều các con dạy.

Mong rằng chúng ta cũng sẽ thực hiện được như vậy.

Bọn biệt phái nói mà không làm, nhưng lại bắt người khác phải làm. Chúa Giêsu đă dùng một h́nh ảnh sống động để diễn tả về khuyết điểm này:

- Họ chất những gánh nặng lên vai người khác, c̣n chính bản thân họ th́ lại không muốn đụng ngón tay lay thử.

Thái độ này ngày nay chúng ta gọi một cách khôi hài là giám đốc, giám xúi chứ không phải là giám làm, giám nhận lấy trách nhiệm của ḿnh.

Như vậy ở đây chúng ta lại thấy xuất hiện một khoảng cách giữa điều chúng ta làm với điều chúng ta buộc người khác phải làm. Chúng ta khoan dung với bản thân, nhưng lại hết sức nghiệt ngă với người khác. Dường như chúng ta đ̣i hỏi người khác là để khỏa lấp sự yếu đuối của bản thân.

Khuyết điểm thứ hai, đó là tính háo danh và tự măn. Họ làm mọi việc cốt để đượùc người ta thấy. Như vậy cái đích nhắm của mọi hành động đó là tiếng khen, uy tín và danh dự cá nhân. Tất cả đều qui về cái tôi của ḿnh, đều nhằm lôi kéo sự chú ư của người khác. Thậm chí cả những hành vi đạo đức cũng biến thành một thứ son phấn để trang điểm cho bộ mặt giả h́nh của chúng ta.

Thiên Chúa bị bỏ rơi khi các việc đạo đức của chúng ta được khua chiêng gióng trống, nặng phần tŕnh diễn, khiến người ta chỉ thấy được bản thân chúng ta mà không thấy được chính Thiên Chúa.

Với một vài nét chấm phá đơn sơ, Chúa Giêsu đă cho chúng ta thấy rơ bộ mặt giả h́nh của bọn Biệt phái và luật sĩ. Biết đâu, đó cũng là bộ mặt giả h́nh của mỗi người chúng ta.

Chính v́ thế, chúng ta hăy cầu xin để mỗi người chúng ta luôn sống trung thực với bản thân, với người khác và với Thiên Chúa. Tư tưởng th́ đi đôi với lời nói. C̣n lời nói th́ lại đi đôi với việc làm. Cả ba lănh vực tư tưởng, lời nói và việc làm của chúng ta đều không quanh co, không uẩn khúc, nhưng trong suốt như pha lê.