|
|
Các bài suy niệm: * LỄ CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ: Lời Chúa: Ed 47,1-2.8-9.12; 1Cr 3,9c-11.16-17; Ga 2,13-22 * CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN – A: Lời Chúa: Kn. 6, 12-16; 1Tx. 4, 13-18; Mt. 25, 1-13
* LỄ CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ 2. Cung hiến đền thờ Latêranô. 7. Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh- Lm. Trần B́nh Trọng. 8. Đền thờ Thiên Chúa - Trần Thanh Sơn. 9. Suy niệm của Phạm Ngọc Ngôn. * CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN – A 6. Vừa mang đèn, vừa mang dầu. 9. Cảnh giác và sẵn sàng đón Chúa - Lm Vũ Thái Ḥa.
LỄ CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ1. Tôi sẽ xây dựng lạiSuy Niệm Hôm nay chúng ta mừng lễ cung hiến thánh đường Latêranô. Đây là vương cung thánh đường cổ kính nhất của Hội Thánh, là nhà thờ chính toà của Đức Thánh Cha, giám mục Rôma, là Mẹ của mọi nhà thờ trên thế giới. Cung hiến thánh đường là dâng cho Chúa một ngôi nhà để dành riêng cho việc phụng tự. Khi được cung hiến để trở thành nhà của Thiên Chúa, thánh đường cũng trở nên nhà của các tín hữu. Nơi Thiên Chúa hiện diện và thi ân, cũng là nơi con người họp nhau để tôn thờ, cảm tạ. Dù nguy nga hay nhỏ bé, cổ kính hay hiện đại, mọi nhà thờ đều là nơi Thiên Chúa hẹn gặp con người. "Hăy phá hủy Đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại." Đức Giêsu không có ư nói đến đền thờ Giêrusalem. Ngài muốn nói đến chính thân thể Ngài, thân thể bị phá hủy và được xây dựng lại, thân thể bị giết chết và được phục sinh. Đức Giêsu phục sinh trở nên Đền Thờ của Giao Ước mới. Ai ai cũng được mời gọi bước vào Đền Thờ này. Chỉ nơi đây, con người mới gặp được Thiên Chúa. Hội Thánh cũng được ví như một Đền Thờ thiêng liêng, mỗi tín hữu là một viên đá sống động (x. 1Pr 2, 4-8), và Đức Kitô là viên đá góc, là nền (x. 1Cr 3, 11) Thánh Phaolô không ngần ngại khẳng định "Đền thờ của Thiên Chúa chính là anh em" (1Cr 3,17). Hơn thế nữa, ngài c̣n nói: "Thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần" (1Cr 6,19) Như thế cả Hội Thánh và từng Kitô hữu đều là Đền Thờ. Đền Thờ chủ yếu lại không phải là những toà nhà có thể bị thời gian bào ṃn, bị chiến tranh phá hủy. Đền thờ là những con người sống động. Đền thờ quan trọng nhất là con người Đức Giêsu phục sinh, một con người đầy tràn sức sống của Thánh Thần. Mọi Đền thờ đều phải qui về Đền thờ đó. Không gắn bó với Đấng phục sinh và Thánh Thần của Ngài, chẳng Đền thờ nào là Đền thờ thực sự. Khi thấy nhà Cha trở thành nơi buôn bán, Đức Giêsu đă nổi giận, v́ nhiệt tâm đối với Cha. Chúng ta thường thiếu một chút giận dữ hồn nhiên như vậy, v́ chúng ta yêu quá ít và sợ quá nhiều. Chúng ta dửng dưng với những ǵ liên hệ đến Thiên Chúa. Có nhiều nhà thờ, đền thờ cần tu bổ. Nhà thờ đầu tiên là con người tôi. Xin Đức Giêsu cứ thanh tẩy chúng ta bằng Thánh Thần, cứ tiếp tục lật đổ và trục xuất những ǵ ô uế. Ước ǵ chúng ta cung hiến lại bản thân ḿnh cho Chúa để Hội Thánh thật sự là Đền thờ, nhờ đó cả thế giới cũng trở thành Đền thờ của Chúa. Gợi Ư Chia Sẻ Thân xác là Đền thờ của Thiên Chúa. Chưa bao giờ thân xác được chiều chuộng như bây giờ, và cũng chưa bao giờ thân xác bị coi rẻ như bây giờ. Theo bạn, đâu là những h́nh thức chiều chuộng thân xác quá đáng và đâu là những h́nh thức khinh miệt thân xác? Bạn nghĩ ǵ về nhà thờ bạn thường đến dự lễ? Theo bạn, thế nào là một ngôi nhà thờ lư tưởng? Cầu Nguyện Lạy Chúa Giêsu, xin thương nh́n đến Hội Thánh là đàn chiên của Chúa. Xin ban cho Hội Thánh sự hiệp nhất và yêu thương, để làm chứng cho Chúa giữa một thế giới đầy chia rẽ. Xin cho Hội Thánh không ngừng lớn lên như hạt lúa. Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước, đừng để dễ dăi làm chúng con ngủ quên. Ước ǵ Hội Thánh trở nên men được vùi sâu trong khối bột loài người để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh. Ước ǵ Hội Thánh thành cây to bóng rợp để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ. Xin cho Hội Thánh trở nên bàn tiệc của mọi dân nước, nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do. Cuối cùng xin cho chúng con biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời, nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh. Ước ǵ khi thấy Hội Thánh ở trần gian, nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen. 2. Cung hiến đền thờ LatêranôHôm nay toàn thể Giáo Hội mừng lễ cung hiến đền thờ Latêranô, đền thờ này là nhà thờ chính ṭa của giáo phận Rôma, được hoàng đế Constantinô xây cất dưới thời Đức Giáo Hoàng Silvester I. Với tư cách là nhà thờ chính ṭa giáo phận Rôma, trung tâm hiệp thông và hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội Công Giáo. Đền thờ Latêranô được xem như là Đền Thờ Mẹ của tất cả mọi đền thờ của thành Rôma và của toàn thể thế giới. Toàn thể Giáo Hội Công Giáo hôm nay mừng kính việc cung hiến Đền thờ này để nói lên sự hiệp thông Giáo Hội. Giáo Hội Chúa hiện diện khắp nơi trên thế giới, được hiệp nhất và hiệp thông với nhau. Như thế Đền thờ Latêranô c̣n là dấu hiệu mời gọi hiệp thông và hiệp nhất, sự hiệp thông và hiệp nhất này đă được bắt đầu nơi tâm hồn con người đón nhận Tin Mừng của Chúa và tôn thờ Thiên Chúa trong sự thật và trong tinh thần. Đền thờ bằng đá không c̣n ư nghĩa nếu không có đền thờ tinh thần nơi tâm hồn con người, nếu con người không biến tâm hồn ḿnh làm đền thờ sống động cho Thiên Chúa ngự trị. Qua mọi thời đại con người luôn bị mời gọi trần tục hóa đền thờ, trần tục hóa niềm tin tôn giáo như những kẻ buôn bán chiên ḅ, đổi tiền được nhắc đến hôm nay qua đoạn Phúc Âm “đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán…” (Ga 2, 13-22). Không có ḷng tin, không tôn thờ Thiên Chúa trong tâm hồn con người, th́ việc tôn thờ nơi đền thờ bằng đá sẽ không có giá trị đích thực và tệ hơn nữa là người Kitô hữu có thể bị cám dỗ trần tục hóa đền thờ, như những kẻ buôn bán và đổi tiền thời Chúa Giêsu. Mọi việc tôn thờ Thiên Chúa cần được bắt đầu nơi tâm hồn lănh nhận sự thật mạc khải và được ơn thánh Chúa biến đổi. Mỗi người Kitô hữu chúng ta cần xác tín điều này và góp phần giúp anh em xung quanh cũng được soi sáng hiểu như vậy. Đây là một trách nhiệm trong những trách nhiệm của từng người Kitô hữu đối với anh em ḿnh, trách nhiệm chỉ cho anh em ḿnh biết phải tôn thờ Thiên Chúa Cha như thế nào cho phải đạo. Trong tập sách “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă kể lại kinh nghiệm sống đạo của chính ḿnh như sau: Xin cho phép tôi nhắc lại đây những năm thời tuổi trẻ của tôi. Tôi nhớ rằng một ngày kia, cha tôi cho tôi một cuốn sách kinh có ghi lời cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Cha tôi bảo tôi hằng ngày phải đọc đi đọc lại kinh này. Từ ngày đó trở đi tôi đọc kinh này theo lời yêu cầu của cha tôi, và lần đầu tiên tôi đă hiểu được ư nghĩa của lời Chúa Giêsu nói về kẻ đích thực thờ phượng Thiên Chúa, những kẻ thờ phượng Ngài trong Thánh Thần và trong Sự Thật. Giờ đây tôi nghĩ rằng lời khuyên của cha tôi đóng vai tṛ hết sức quan trọng, bởi v́ những lời đó đă hướng dẫn tôi đến việc cố gắng trở thành một trong những kẻ tôn thờ đích thật của Thiên Chúa, một trong những kẻ tôn thờ Thiên Chúa trong Tinh Thần và Sự Thật. Tôi đă khám phá ra Giáo Hội như là một cộng đoàn của ơn cứu rỗi, từ từ tôi học được ư nghĩa của công cuộc cứu rỗi được hoàn thành trong Chúa Kitô, từ đó như hậu quả kéo theo tôi hiểu được ư nghĩa của các bí tích và đặc biệt là của Thánh Lễ. Tôi đă hiểu được, chúng ta đă hiểu được ơn cứu chuộc với giá cả như thế nào? Và tất cả những điều này lôi kéo tôi một cách sâu xa hơn vào trong mầu nhiệm Giáo Hội, một Giáo Hội chính v́ là mầu nhiệm nên có chiều kích vô h́nh. Công đồng Vaticanô II cũng đă nói đến điều này: “Mầu nhiệm Giáo Hội này rộng răi hơn cơ cấu hữu h́nh và có tổ chức của Giáo Hội. Cơ cấu và tổ chức của Giáo Hội là để phục vụ cho mầu nhiệm của Giáo Hội. Giáo Hội như là Nhiệm Thể Chúa Kitô thấm nhập và ôm trọn lấy tất cả chúng ta. Những chiều kích thiêng liêng và huyền nhiệm của Giáo Hội thật là cao cả hơn bất cứ chiều kích nào mà những con số thống kê xă hội học có thể chỉ cho thấy”. Đó là những lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong tập sách “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng”, những lời trên giúp ta suy tư và hiểu chiều kích mầu nhiệm Giáo Hội vượt ra bên ngoài cơ cấu hữu h́nh, và đồng thời nhắc cho mỗi người chúng ta về bổn phận phải làm sao để làm chứng cho anh em hiểu và trở thành những kẻ thờ phượng Thiên Chúa đích thật trong Thánh Thần và trong Sự Thật. Đây chính là ư nghĩa mừng kỷ niệm cung hiến thánh đường Latêranô nhắc lại cho mỗi người chúng ta hôm nay. Lạy Chúa, xin hăy biến đổi mỗi người chúng con trở thành đền thờ sống động của Chúa và trở thành những kẻ tôn thờ Chúa đích thật như ḷng Chúa mong ước trong Thánh Thần và trong Sự Thật. Xin giúp mỗi người chúng con tránh được cám dỗ trần tục hóa đền thờ, trần tục hóa niềm tin vào Chúa. Amen. 3. Nhà thờ trở nên cộng đồngHai anh chị kia sắp cưới. Trong khi chuẩn bị hôn nhân, họ xin cha làm lễ cưới tại một cảnh thơ mộng trên núi. Họ ngạc nhiên thấy cha nói không được. Họ phải làm lễ cưới tại nhà thờ xứ của họ. Họ tỏ ra bất măn. Cha cho biết đó là luật của địa phận nhưng họ thắc mắc làm sao đám cưới của họ mà họ không được làm nơi họ muốn? Điều anh chị này thắc mắc có liên quan đến lễ chúng ta cử hành hôm nay, lễ kỷ niệm Dâng Hiến Thánh Đường Lateranô. Thánh đường này từ thế kỷ thứ 12 vẫn được coi là mẹ, là đầu của các nhà thờ. Thánh đường này cũng là nhà thờ chính toà của Đức Giáo Hoàng. Lễ này cũng nhắc nhớ chúng ta nghĩ đến nhà thờ của giáo xứ, cộng đoàn chúng ta. Nhà thờ tượng trưng cho thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô và mỗi Kitô hữu được kêu gọi để xây dựng thân thể mầu nhiệm này. Nhà thờ ví như bào thai cho ra đời những người con cùng một trí một ḷng truyền tụng và phục vụ Nước Trời. Để thực hiện điều đó, mỗi nhà thờ luôn thực hiện việc xây dựng cộng đồng. Như các đường chỉ được dệt với nhau thành tấm vải, mỗi người cũng có một sứ vụ hiệp thông trong trong chiều hướng để sứ vụ chung được kết quả tốt đẹp trong tinh thần Chúa Kitô. Những người trong giáo xứ hoặc là lạnh nhạt với mọi người và điều đó không xứng với Kitô Giáo; hoặc mọi người tích cực liên hệ đến giáo xứ, kiến tạo một cộng đồng một trí một ḷng. Mỗi lần chúng ta tham dự vào một bí tích nhắc nhớ chúng ta mục đích của bí tích là xây dựng thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng, liên kết chặt chẽ với nhau hơn trong sự dấn thân chung đó là hiệp thông và thi hành sứ mệnh. V́ thế bí tích được khuyến khích cử hành tại nhà thờ. Nhà thờ trở nên nơi liên kết, để tinh thần thân thiện được triển nở chứ không phải chỉ là nơi tụ họp của những muốn giữ thái độ xa lạ. Chúng ta cố gắng làm cho giáo xứ chúng ta nên cơ hội thuận tiện cho tinh thần hợp nhất Chúa Kitô được phát triển. Chúng ta không thể chấp nhận thái độ chia rẽ, không thể đầu hàng trước các phe nhóm. Giống như cặp anh chị sắp cưới được nói cho biết là họ cử hành bí tích hôn phối của họ nơi nhà thờ của họ. Cùng với những lư do khác, các giáo dân cùng cử hành với họ, dâng họ lên Chúa, cầu nguyện cho họ, và nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời. Để kết thúc, chúng ta đọc lại lời Thánh Phaolô trong bài đọc II: "Anh em không c̣n là người xa lạ, là khách ngoại bang. Anh em là công dân của các thánh, là phần tử nhà của Chúa." 4. LatêranôHôm nay chúng ta mừng kính ngày cung hiến đền thờ Latêranô, đền thờ đầu tiên của Giáo hội La mă, được coi như là mẹ của các đền thờ khác. Đền thờ Latêranô là nhà thờ chánh ṭa của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám mục Rôma. Đền thờ này được hoàng đế Constantinople xây dựng vào năm 320, thời gian Giáo hội vừa thoát khỏi cơn bách hại tàn khốc để bước vào giai đoạn huy hoàng. Trong tất cả các tôn giáo, đền thờ là nơi thánh thiêng, là nơi thần linh hiện diện với con người để tiếp nhận những sự thờ kính và cho họ thông phần vào các ân huệ và sự sống thần linh. Chắc hẳn nơi cư ngụ của các thần linh không thuộc trần gian này, nhưng có thể nói, đền thờ đồng hóa với nơi cư ngụ ấy, nhờ đó con người giao tiếp được với thế giới của các thần linh. Chính trong chiều hướng này mà chúng ta t́m thấy những h́nh ảnh của đền thờ Giêrusalem. Đền thờ Giêrusalem là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người, nhưng đó mới là một dấu chỉ tạm thời, sẽ được thay thế bằng thân xác Đức Kitô với Giáo hội của Ngài, như là một đền thờ mới và có tính cách vĩnh cửu. Vào thời các tổ phụ, người Do thái không biết đến đền thờ, cho dù họ vẫn có những nơi thánh để kêu cầu với Đức Giavê như Bêtal, như Sichem, như Sinai…Nhưng rồi sau đó, họ đă dùng một thánh điện lưu động, để Thiên Chúa có thể ngự trị thường xuyên giữa dân chúng đang được Ngài dẫn qua sa mạc. Đó là nhà tạm với ḥm bia giao ước. Sau khi người Do thái đă tiến vào miền đất hứa và lập thành vương quốc, bấy giờ Đavid mới nghĩ đến việc xây dựng đền thờ dâng kính Thiên Chúa. Ước mơ ấy được Salomon thực hiện. Ông đă xây dựng đền thờ Giêrusalem với tất vả vẻ huy hoàng của triều đại ông, và Thiên Chúa đă nhận đền thờ ấy như nơi cư ngụ của Ngài. V́ thế, đền thờ Giêrusalem trở nên trung tâm sinh hoạt chính trị về tôn giáo của người Do thái. Người ta từ khắp nơi hành hương về Giêrusalem vào những dịp lễ lớn để cầu nguyện, kết hiệp và tôn thờ Thiên Chúa. Năm 587 trước công nguyên, đền thờ Giêrusalem bị vua Nabucodonosor phá hủy và bắt một số người Do thái phải lưu đày sang Babylon. Sống dưới ách nô lệ với những đau khổ và nặng nhọc, nhưng ḷng họ vẫn hướng về đền thờ Giêrusalem. Thế nhưng, bây giờ đền thờ Giêrusalem đă bị đổ vỡ hoang tàn. V́ thế, họ đă t́m thấy một chiều hướng tôn thờ mới, đó là tôn thờ thiêng liêng, tôn thờ trong tâm hồn v́ Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Trong Tân ước, đền thờ chính là thân xác Đức Kitô: Đền thờ ấy bị phá hủy nhưng dă được xây dựng lại trong ba ngày. Đây mới chính là đền thờ vĩnh cửu, không do tay người trần thế làm nên, nhưng do chính Ngôi lời. Đền thờ ấy nói lên sự hiện diện thiết thực của Thiên Chúa ở giữa chúng ta. Ngoài ra, các Kitô hữu c̣n ư thức rằng chính họ kết thành đền thờ mới, đền thờ thiêng liêng nơi thân thể Đức Kitô, đó chính là Giáo hội. Giáo hội là đền thờ của Thiên Chúa, thiết lập trên Đức Kitô. Ngài là nền móng, là đầu và là viên đá góc tường. C̣n chúng ta th́ sao? Tâm hồn mỗi người cũng phải là một đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị. Khi lănh nhận bí tích Rửa tội, vị linh mục đă nói với chúng ta: Hỡi thần ô uế, hăy xéo đi, hăy ra khỏi người này để nhường chỗ cho Thần Linh Thiên Chúa. Bao lâu sạch tội trọng, bao lâu c̣n sống trong ân nghĩa Chúa th́ linh hồn chúng ta chính là một ngôi đền thờ sống động cho Thiên Chúa. Trái lại, khi phạm tội trọng, chúng ta là những kẻ dám nói với Thiên Chúa như sau: Hỡi Thiên Chúa, xin Ngài hăy ra khỏi tâm hồn tôi để nhường chỗ cho ma quỷ. Chúng ta hăy ǵn giữ tâm hồn ḿnh cho trong sạch, xứng đáng là nơi cho Chúa ngự trị, chứ đừng biến nó thành hang trộm cướp. Chúng ta hăy noi gương bắt chước ông Giakêu đă tiếp đón Chúa tại nhà ḿnh. Chính sự hiện diện của Chúa đă đem lại cho ông niềm vui mừng và hy vọng, để rồi ông đă hoán cải bản thân, làm lại cuộc đời. Hăy sửa đổi những sau lỗi để tâm hồn chúng ta thực sự là một đền thờ được dâng hiến cho Thiên Chúa.
5. Nhà thờMỗi vị vua đều có cung điện riêng của ḿnh. Và chính từ cung điện này, ông điều hành mọi công việc của đất nước. Cung điện chính của nhà vua thường được tọa lạc tại thủ đô. C̣n Chúa Giêsu, vua của chúng ta th́ sao? Cung điện của Ngài ở tại mỗi thành phố, ở tại mỗi thôn ấp. Cung điện ấy chính là ngôi thánh đường, ngôi nhà thờ của chúng ta. Đồng thời từ những ngôi thánh đường, từ những ngôi nhà thờ ấy, Ngài đă ban phát cho chúng ta biết bao ơn lành. Thực vậy, biết bao nhiêu trẻ nhỏ đă lănh nhận Bí tích Rửa tội, để trở thành những người con của Thiên Chúa. Biết bao nhiêu em thiếu nhi đă được diễm phúc rước lấy Chúa lần đầu và thề quyết trung thành với Chúa măi măi. Biết bao nhiêu lần cánh cửa nhà tạm đă mở ra, để nuôi sống linh hồn chúng ta. Biết bao nhiêu lần Chúa Giêsu qua bàn tay của linh mục đă thăm viếng những người đau yếu bệnh tật. Từ ngôi thánh đường này, từ ngôi nhà thờ này và nhất là từ nhà tạm này, Chúa Giêsu đă điều hành mọi công việc đem lại lợi ích cho tâm hồn chúng ta. Chính tại ngôi thánh đường này, hằng ngày Chúa Giêsu đều tái diễn hy lễ thập giá và thay mặt cho nhân loại dâng lên cho Chúa Cha lễ vật đền tội và ḥa giải. Đồng thời Ngài luôn mời gọi chúng ta tới tham dự Bàn tiệc Thánh Thể. Thế nhưng, chúng ta có đáp trả lời mời gọi đầy yêu thương ấy hay không? Chúng ta không phải chỉ tới nhà thờ vào những ngày lễ buộc như ngày Chúa nhật, nhưng mỗi khi có thể, chúng ta hăy cố gắng đến t́m gặp Chúa tại đây. V́ thế, ngôi thánh đường này, ngôi nhà thờ này không phải chỉ là nhà của Chúa, mà c̣n là nhà thật của mỗi người chúng ta. Khi được hân hạnh gặp gỡ một nhân vật quan trọng, chẳng hạn một ông Bí thư, một ông Tổng thống hay một ông vua… chúng ta thường phải ăn mặc sạch sẽ. Cũng vậy, khi đến gặp Chúa Giêsu, vua của mọi cơi ḷng, chúng ta phải có một tâm hồn trong sạch, một thái độ trang nghiêm xứng đáng. Thái độ trang nghiêm của chúng ta ở trong nhà thờ sẽ biểu lộ niềm tin tưởng và yêu mến của chúng ta đối với Chúa và chắc chắn sẽ làm cho Chúa được hài ḷng. Từ h́nh ảnh của ngôi nhà thờ này, của ngôi thánh đường này, chúng ta đi tới một kết luận, đó là mỗi người chúng ta đều có bổn phận biến tâm hồn chúng ta trở thành một ngôi nhà thờ, một gian cung thánh cho Chúa ngự trị. Trong ngôi thánh đường, ngôi nhà thờ thiêng liêng ấy, chúng ta hăy thắp lên ngọn nến đức tin, hăy trang điểm bằng những bông hoa nhân đức, và hăy rung lên những tiếng chuông nhỏ đó là tiếng nói của lương tâm, giúp chúng ta bước đi trên nẻo đường của Chúa. Và hơn thế nữa trái tim của chúng ta chính là chiếc bàn thờ, trên đó, mỗi ngày chúng ta hăy dâng lên cho Chúa của lễ xuất phát từ ḷng cuộc đời, đó là những hy sinh chúng ta gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. 6. Suy niệm của JKNĐỪNG BIẾN ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA THÀNH NƠI BUÔN BÁN Câu hỏi gợi ư: 1. Tại sao Đức Giêsu lại tỏ ra tức giận đến nỗi dùng tới bạo lực như vậy? Sự kiện đó nói lên điều ǵ? Những điều ǵ làm Ngài ghê tởm nhất trên đời? 2. Thiên Chúa, Đức Giêsu, việc phụng vụ hay thờ phượng Ngài có thể bị biến thành đối tượng kinh doanh, buôn bán không? 3. Thân xác, tâm hồn hay bản thân ta cũng là đền thờ của Thiên Chúa. Ta có kính trọng đền thờ nội tâm của ta một cách xứng đáng không? Những hành động nào biểu lộ sự kính trọng hoặc coi thường đền thờ đó? Suy tư gợi ư: 1. Hai điều Đức Giêsu ghê tởm nhất trên đời Đức Giêsu đă phản ứng hết sức mạnh mẽ trước cảnh tượng đền thờ bị biến thành nơi buôn bán. Trong Tin Mừng, phản ứng mạnh như thế của Đức Giêsu rất hiếm thấy. Có hai lần Ngài phản ứng rất mạnh, khác hẳn với thái độ hiền lành ḥa nhă b́nh thường của Ngài: lần đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ (x. Ga 2,13-16), và lần Ngài chửi bọn Pharisêu thậm tệ (x. Mt 23,13-36). Điều này cho ta thấy hai điều làm Ngài ghê tởm nhất trên đời: - một là biến nơi thờ phượng thành nơi buôn bán (x. Ga 2,16), biến việc thờ phượng, lời cầu nguyện, lễ nghi tôn giáo thành hàng hóa mua bán, thành đối tượng kinh doanh để sinh sống… - hai là đạo đức giả, lợi dụng hay núp bóng đạo đức hoặc tôn giáo để tiến thân, để ngồi lên đầu lên cổ thiên hạ (x. Mt 23,2.6), để bóc lột người nghèo (23,14), để thần thánh hóa những thực tại vốn chẳng phải là thần thánh hầu đem lại lợi nhuận (23,16-22), để làm mọi người lầm tưởng ḿnh đạo đức bằng cách giữ nhiệm nhặt những luật lệ không quan trọng nhưng lại bỏ qua những điều quan trọng nhất của lề luật là tôn trọng “chân lư, công lư và t́nh thương” (x. 23,23-24), hoặc t́m cách tôn vinh các ngôn sứ thời xưa để che đậy việc bách hại hay bạc đăi những ngôn sứ đồng thời với ḿnh (23,29-36)… 2. “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” Bài Tin Mừng hôm nay nói về điều ghê tởm thứ nhất của Ngài. Phải công nhận rằng Ngài đă phản ứng hết sức mạnh mẽ khi thấy “trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, ḅ, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền”. Cách hành xử của Ngài thật là hung hăng và đáng sợ: Ngài “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên ḅ ra khỏi Đền Thờ; c̣n tiền của những người đổi bạc th́ đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ”. Trước sự việc ấy, chắc các tông đồ phải lấy làm lạ v́ Ngài làm trái với điều Ngài thường dạy: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, th́ hăy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39). Tại sao vậy? - V́ Ngài đang phải đối diện với một cảnh tượng mà Ngài cho là hết sức kinh tởm: người ta đă biến đền thờ hay nhà Cha Ngài thành nơi buôn bán, thành một cái chợ. Trong bài Tin Mừng này, những vật bị đưa ra mua bán chỉ là “chiên, ḅ, bồ câu” mà Ngài đă phản ứng dữ dội như thế! Không biết Ngài sẽ phản ứng mănh liệt thế nào khi con người đem chính Thiên Chúa, Cha Ngài, đem chính Ngài, hay chính những lễ nghi thờ phượng Ngài ra làm đối tượng để kinh doanh buôn bán, để mặc cả, trao đổi. T́nh trạng tương tự như thế vẫn đang xảy ra nhan nhản trong các tôn giáo. Các thầy cúng mặc cả với tín đồ về số tiền phải trả cho một buổi lễ cúng, không đủ tiền th́ thầy không cúng. Hoặc các thầy đưa ra một bảng giá (tarif) cho những buổi lễ tùy theo mức độ trang trọng của chúng, bảng giá đó áp dụng chung cho cả người giầu lẫn người nghèo, v.v… Nhiều thầy cúng coi việc cúng tế như một nghề nghiệp để sinh sống. Lúc ấy thần thánh trở nên một loại phương tiện, một loại hàng hóa phục vụ cho nghề nghiệp của họ. So sánh với thái độ hiền lành và đầy tính bênh vực của Đức Giêsu trước người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại t́nh (x. Ga 8,2-12) với thái độ dữ tợn của Ngài trước cảnh buôn bán trong đền thờ, ta thấy Ngài coi tội sau nặng hơn như thế nào! Và càng nặng hơn biết bao tội buôn thần bán thánh! Trong sách Công Vụ, có thuật lại một trường hợp buôn bán thần thánh như sau: «Ông Simon thấy rằng khi các tông đồ đặt tay cho ai th́ Thánh Thần được ban xuống tren người ấy, nên ông đem tiền đến biếu các tông đồ và nói: “Xin cũng ban ban quyền ấy cho tôi, để tôi đặt tay cho ai th́ người ấy cũng nhận được Thánh Thần”. Nhưng ông Phêrô đáp: “Tiền bạc của anh hăy tiêu tan luôn với anh cho rồi, v́ anh tưởng có thể lấy tiền mà mua được ân huệ của Thiên Chúa!”» (Cv 8,18-21). Quả thật, hiện nay, biết bao kitô hữu đă hành động như Simon, muốn dùng tiền bạc để mua chuộc các ân huệ, sự tha thứ, sự giảm h́nh phạt của Thiên Chúa, hoặc chức tước trong Giáo Hội cho ḿnh hoặc cho người thân của ḿnh! Họ làm như ḷng nhân từ của Thiên Chúa có thể mua chuộc được bằng tiền bạc! 3. Bản thân ta cũng là đền thờ, đừng biến nó thành nơi buôn bán Thánh Kinh cho biết: đền thờ vật chất ở bên ngoài không quan trọng bằng đền thờ tâm linh ở bên trong ta. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ và muôn loài trong đó, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm nên” (Cv 17,24). Thánh Têphanô cũng nói tương tự (x. Cv 7,48). Vậy th́ Ngài ngự ở đâu? Thánh Phaolô trả lời: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (…) Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em” (1Cr 3,16-17; x. 2Cr 6,16b). Ngay cả thân xác của chúng ta cũng là đền thờ của Thiên Chúa: “Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?” (1Cr 6,19), thậm chí c̣n là một phần bản thân của Đức Kitô: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1Cr 6,15). Sự hiện diện của Thiên Chúa trong đền thờ vật chất không được “đậm đặc” như đền thờ tâm linh trong tâm hồn ta. Thế mà khi nó bị trần tục hóa Đức Giêsu đă tỏ ra tức giận như vậy! Vậy th́ khi đền thờ tâm linh trong tâm hồn ta bị trần tục hóa, Ngài sẽ tức giận đến thế nào? Chúng ta trần tục hóa đền thờ trong bản thân ta và người khác khi ta coi thường phẩm giá con người của ḿnh và của người khác. Thiên Chúa đă dựng con người theo h́nh ảnh của Ngài, giống như Ngài, đồng thời nâng con người lên hàng con cái Ngài. Con người trở nên một cái ǵ hết sức quí giá trước mặt Thiên Chúa, đến nỗi khi con người phạm tội, Thiên Chúa đă phải hy sinh chính Con Một rất yêu quí của Ngài để cứu con người. Thánh Kinh nói Thiên Chúa quí con người đến mức “luôn ấp ủ, dưỡng dục, giữ ǵn, chẳng khác nào con ngươi mắt Ngài” (Đnl 32,10). Thiên Chúa quí con người như vậy, nhưng con người lại coi thường chính bản thân, phẩm giá của ḿnh và người khác, đến nỗi sẵn sàng bán rẻ hoặc xúi giục người khác bán rẻ lương tâm và phẩm giá - thậm chí cho kẻ ác - để chỉ nhận được những lợi ích chóng qua: tiền bạc, hư danh, địa vị, sự an toàn bản thân… Không chỉ những phường gái điếm, những tay nghiện rượu, nghiện ma túy mới coi thường thân xác hay linh hồn ḿnh, mà cả những kitô hữu trí thức, những người được coi là đạo đức cũng sẵn sàng coi thường đền thờ Thiên Chúa nơi bản thân. Chẳng hạn sẵn sàng hy sinh sự trong sáng của lương tâm, hoặc hy sinh sức khỏe, sự an toàn bản thân để đổi lấy một niềm vui nho nhỏ của miếng ăn, của thú vui thể xác, của tiện nghi vật chất… để rồi cuối cùng trở nên một con người tầm thường, hoặc chuốc lấy một căn bệnh, một thương tật hoặc có khi mất mạng… Chúng ta trần tục hóa tâm hồn ta khi ta nuôi trong tâm trí những quan niệm sai lầm, những tư tưởng kiêu căng, vị kỷ, những ư định độc ác, những tâm t́nh ghen ghét, vô ơn, v.v… Chính những tư tưởng này xúc phạm và làm ô uế đền thờ của Thiên Chúa trong tâm hồn ta. V́ thế, để tỏ ḷng kính trọng đền thờ này, chúng ta hăy mặc lấy những quan niệm đúng đắn, những tâm t́nh yêu thương, vị tha, xả kỷ… Những tâm t́nh này chính là những thứ trang hoàng đền thờ nội tâm ta xứng đáng làm nơi Thiên Chúa ngự. CẦU NGUYỆN Lạy Cha, xin cho con biết thật sự kính trọng đền thờ của Cha nơi tâm hồn và thân thể con. Xin đừng để con làm ô uế đền thờ của Cha bằng những tư tưởng xấu, những tâm t́nh ích kỷ, kiêu căng. Xin giúp con trang hoàng đền thờ của Cha bằng những tư tưởng và hành động tốt đẹp, bằng những nỗ lực sống thuận theo thánh ư Cha. Để Cha cảm thấy hài ḷng khi ngự trong tâm hồn con. Amen.
7. Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh- Lm. Trần B́nh TrọngTriết gia cũng như thần học gia luôn t́m kiếm xem Thiên Chúa hiện diện ở đâu và hiện diện thế nào trong vũ trụ. Người ta biết Chúa hiện diện khắp mọi nơi, nhưng họ cũng dành những cách thế đặc biệt và những nơi đặc biệt cho Chúa ngự trị. Trong Cựu ước, đền thờ và ḥm bia giao ước được coi là những nơi ngự trị đặc biệt của Chúa như Chúa phán Ta đă chọn và thánh hoá nhà này, để muôn đời Danh Ta ngự tại dây (2Sb 7:16). Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu tỏ ra khó chịu với những người đổi tiền bạc v́ họ đă biến nhà Chúa Cha thành nơi buôn bán (Ga 2:16). Trong Tân Ước, ta có thánh đường và nhà tạm là nơi Ḿnh thánh Chúa ngự. Ta biết Chúa hiên diện khắp nơi, nhưng đặc biệt Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh thể nơi nhà tạm. Có những người có thể tự hỏi tại sao hôm nay Giáo Hội mừng nơi thờ phượng thay v́ mừng kính ông thánh no, bà thánh kia. Giáo hội mừng kính nơi thờ phượng v́ đền thờ Latêranô, nhà thờ chính toà của Đức Giáo Hoàng, tượng trưng cho các thánh đường công giáo, c̣n là biểu hiệu của hai sự vật quan trọng. Trước hết thánh đường là biệu hiệu của sự hiệp nhất và cộng đồng, qui tụ giáo dân lại trong một nhiệm thể màu nhiệm của Đức Kitô, để cầu nguyện, thờ phượng, cảm ta và xin ơn. Thánh đường c̣n là biểu hiệu của sự tiếp nối và truyền thống, có liên kết với quá khứ và cùng nhau hướng về tương lai để đối phó với những đổi thay và thách đố mới trong xă hội và trong Giáo hội. Có những người cho rằng Chúa hiện diện khắp mọi nơi nên họ cho rằng không cần đến nhà thờ cầu nguyện và thờ phượng. Họ cần nhận thức rằng, loài người cần những biểu hiệu bên ngoài để khơi dậy những tâm t́nh bên trong. Loài người cũng cần những biểu hiệu đạo giáo để đưa họ vào thế giới thần linh và để khơi dạy những tâm t́nh thiêng liêng. Nếu là thiên thần, họ không cần biểu hiệu. C̣n loài người th́ lại cần biểu hiệu như thánh đường, bàn thờ, tượng ảnh, đèn nến... trong việc thờ phượng thể khơi dạy đức tin và tâm t́nh đạo đức bên trong. Do đó người chủ trương giữ đạo tại tâm, không cần thờ phượng ở thánh đường, là lừa dối ḿnh. Đến thánh đường thờ phượng, đức tin của người tín hữu được nâng đỡ một cách tối đa. Khi thờ phượng công cộng tại thánh đường th́ người có đức tin mạnh có thể giúp củng cố đức tin của người yếu đức tin. Đến thánh đường thờ phượng, người tín hữu được bổ dưỡng và tăng sức bằng lời Chúa và Ḿnh thánh Chúa. Khi kiệt sức về đàng thiêng liêng, họ lại đến nhà thờ để được bổ dưỡng và tăng sức bằng lời Chúa và ḿnh thánh Chúa. Thánh đường công giáo được cung hiến để làm nơi thờ phượng công cộng. Trong thánh đường có sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh thể trong nhà tạm. Một dấu chỉ có Chúa hiện diện trong Bí tích thánh thể trong nhà tạm là khi đèn nhà tạm, thường là màu đỏ, được thắp sáng ở gần nhà tạm. Do đó người công giáo cần biểu lộ ḷng tôn kính khi vào nhà Chúa. Người công giáo nên học hỏi với người thuộc các đạo khác xem họ tỏ ra tôn kính nơi thờ phượng của họ thế nào? Chẳng hạn người Do thái luôn tỏ ra tôn kính đền thờ và bàn thờ dâng lễ vật của họ. Họ luôn cảm tạ Thiên Chúa cho họ có được đền thờ và bàn thờ dâng lễ vật. C̣n người Hồi giáo khi vào đền thờ, họ phải để giày dép ở ngoài để tỏ ta tôn kính nơi thờ phượng của họ. Nhà thờ là trung tâm điểm của đời sống đức tin của người công giáo. Nhà thờ là nơi ta thường lui tới để cầu nguyện và thờ phượng hàng tuần hoặc hàng ngày, để nghe lời Chúa và rước Ḿnh thánh Chúa. Sau khi chào đời, ta được đưa đến nhà thờ để lănh nhận bí tích rửa tội. Ta được rước lễ lần đầu và thêm sức ở trong nhà thờ. Khi sa phạm tội, ta đến nhà thờ để lănh phép cáo giải. Khi cưới hỏi, ta lại đến nhà thờ để lănh nhận bí tích hôn phối. Khi một người đươc gọi lên bàn thánh, ta đến nhà thờ chính toà để dự lễ truyền chức linh mục. Khi mang bệnh nặng, ta c̣n được chịu phép sức dầu trong nhà thờ, hoặc tại nhà tư hay ở nhà thương. Và khi nằm xuống vĩnh viễn, xác ta được đem đến nhà thờ để được cử hành thánh lễ an táng. 8. Đền thờ Thiên Chúa - Trần Thanh SơnHôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta cùng kỷ niệm việc cung hiến Đền thờ Latêranô. Đây là ngôi đền thờ đầu tiên của Giáo Hội Công giáo được chính quyền hợp pháp La mă công nhận, sau hơn 3 thế kỷ dài cấm cách. Đây cũng là nhà thờ chính toà của Giáo phận Roma, và là nơi đặt ngai toà của Đức Giáo Hoàng. Nhân dịp này, tôi muốn được chia sẻ cùng quư ông bà anh chị em một vài suy nghĩ về ư nghĩa của đền thờ vật chất trước mắt chúng ta và cả ngôi đền thờ thiêng liêng là mỗi người chúng ta. 1. Đền thờ, nơi Thiên Chúa ngự trị Trong thị kiến của ḿnh, ngôn sứ Êdêkiel kể lại: “Uy nghi Chúa tiến vào đền thờ theo lối cửa hướng đông… Ánh vinh quang của Chúa tràn ngập đền thờ… Và người đứng gần bên tôi bảo tôi rằng: “Hỡi con người, đây là nơi đặt bệ ngai Ta, nơi Ta để chân, nơi Ta ngự giữa con cái Israel đến muôn đời”. Điều đó cho thấy Đền thờ trước hết là nơi Thiên Chúa ngự trị, và cũng là nơi con người đến để gặp gỡ Thiên Chúa. Thế nhưng, qua ḍng thời gian, đền thờ đă dần mất đi sự trang nghiêm cần có. Người ta đă lợi dụng đền thờ như là nơi để kiếm tiền, nơi để phô trương sự giàu có. Đó cũng là điều đă xảy ra nơi đền thờ Giêrusalem của người Do thái khi xưa. Thánh Gioan kể lại: “Lễ Vượt Qua của dân Do thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Người thấy ở trong đền thờ có những người bán ḅ, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi bạc”. Như thế, Đền thờ bị coi như một nơi để người ta buôn bán, kiếm lời, và dĩ nhiên cũng trở thành nơi con người lừa dối lẫn nhau, và cũng là nơi để người ta khoe khoang sự giàu có của ḿnh. Và cũng chính tại nơi đây, người ta dễ dàng nhân danh việc đạo đức để chứng tỏ sự giàu có của ḿnh, để rồi khinh dể người khác. Đây cũng là điều chúng ta dễ mắc phải. Chúng ta dâng cúng cho Đền thờ, để rồi đ̣i cho được ghi tên bảng vàng, gắn nơi trang trọng, hoặc là dâng cúng với điều kiện này nọ, th́ thử hỏi, mục đích của việc chúng ta dâng cúng là ǵ? Phải chăng việc dâng cúng này chỉ là dịp để chúng ta chứng tỏ sự giàu có của ḿnh với mọi người, và cũng là dịp để chúng ta sỉ nhục sự nghèo khó của anh em ḿnh? Đức Giêsu không chấp nhận điều đó. Ngài muốn trả lại ư nghĩa nguyên thủy của đền thờ. Đền thờ phải là nơi Thiên Chúa ngự trị và là nơi con người đến để gặp gỡ Thiên Chúa. Do đó, trước cảnh “Chướng tai, gai mắt” tại đền thờ Giêrusalem lúc bấy giờ, Đức Giêsu đă “chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên ḅ ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: “Hăy đem những thứ này đi khỏi đây và đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”. Có lẽ đây là một trong những đoạn hiếm hoi, cho thấy sự nóng giận của Đức Giêsu, vị Thầy hiền lành. Điều đó càng cho chúng ta thấy được sự kiên quyết của Đức Giêsu đối với việc lạm dụng Đền thờ. Ngài đă hành động quyết liệt để trả lại cho đền thờ ư nghĩa đích thực của nó, cho dù điều đó có thể làm mất ḷng và khơi dậy sự thù ghét của người Do thái. Đức Giêsu đă không nhân nhượng khi phải bảo vệ chân lư. Ngài đă để cho ḷng nhiệt thành nhà Chúa thiêu đốt bản thân Ngài. Ngài muốn mọi người hiểu rơ rằng: Đền thờ là nơi con người đến để gặp gỡ Thiên Chúa, như lời Ngài tuyên bố: “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện” (Mt 21, 13). 2. Chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa: Đền thờ là nơi con người đến để gặp gỡ Thiên Chúa, nhưng đền thờ không chỉ được xây dựng bằng gỗ đá, vàng bạc, nhưng chính Đức Giêsu là Đền thờ của Thiên Chúa, v́ qua Ngài, chúng ta gặp được một Thiên Chúa làm người đang ở giữa chúng ta, như lời thánh sử Gioan: “Nhưng Người, Người có ư nói về đền thờ là thân thể Người”. Mặt khác, nhờ ân sủng của bí tích Rửa tội, mỗi người chúng ta cũng trở nên đền thờ của Thiên Chúa như lời thánh Phaolô trong bài đọc hai: “Anh em là toà nhà của Thiên Chúa… Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?... V́ đền thờ của Thiên Chúa là thánh mà chính anh em là đền thờ ấy”. Và nếu mỗi người cũng là đền thờ, chúng ta đă làm ǵ để thân xác chúng ta xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa? Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Corinhthô nhắc nhở chúng ta: “Phàm mọi tội người ta phạm, th́ đều ở ngoài thân xác; c̣n kẻ tà dâm th́ có tội phạm đến chính thân xác ḿnh. Anh em không biết sao? Thân ḿnh anh em là Đền thờ của Thánh Thần (ngự) trong anh em” (1 Cr 6, 18-19). Và trong bài đọc hai hôm nay, thánh Phaolô c̣n nói rơ: “Nếu ai xúc phạm tới đền thờ của Thiên Chúa, th́ Thiên Chúa sẽ huỷ diệt người ấy”. Điều này, nhắc nhở mỗi người chúng ta lưu ư hơn về việc lỗi điều răn thứ sáu. Mỗi lần chúng ta lỗi điều răn này là lúc chúng ta trực tiếp xúc phạm đến đền thờ Thiên Chúa nơi thân xác chúng ta, và như thế, có khác ǵ chúng ta xúc phạm trực tiếp đến Thiên Chúa. Ngoài ra, để đền thờ của chúng ta thật sự vững chắc, mỗi người chúng ta cần xây dựng đời ḿnh trên nền tảng của chính Đức Kitô, bởi v́, ngoài Đức Kitô, chúng ta không thể có một nền móng vững chắc được, như lời khẳng định của thánh Phaolô trong bài đọc hai “V́ chưng không ai có thể xây dựng một nền tảng khác, ngoài nền tảng đă được xây dựng là Đức Giêsu Kitô”. Cuối cùng, cũng như từng viên gạch nếu để riêng lẽ không thể làm nên một đền thờ, do đó, để có thể xây dựng Đền thờ của Thiên Chúa ngày càng lớn mạnh và vững chắc, mỗi người chúng ta cần liên kết với nhau bằng t́nh yêu. Chính t́nh yêu là thứ xi-măng tốt nhất để gắn kết những viên gạch là từng người chúng ta lại với nhau. Và nếu mỗi người chúng ta đều là một viên gạch để góp phần xây dựng nên ngôi đền thờ của Thiên Chúa, th́ chúng ta cũng được mời gọi tôn trọng thân xác của anh chị em ḿnh, nhất là những người nghèo hèn bất hạnh, khốn khổ. Thánh Gioan Kim Khẩu nhắc nhở chúng ta: “Anh em treo những sợi xích vàng để móc đèn, nhưng lại không bằng ḷng đi thăm Ngài trong tù, nơi Ngài bị xiềng xích. Một lần nữa, nếu tôi có thể nói thế, th́ không phải để ngăn cấm anh em tôn vinh Ngài (ở nhà thờ), nhưng để anh em biết cứu giúp Ngài cùng lúc đó, hay đúng hơn, trước lúc đó nữa… vừa tôn kính Ngài nơi nhà Thiên Chúa, đồng thời cũng đừng có khinh bỉ người anh em ḿnh đang lâm cảnh cùng quẫn: Đền thờ này c̣n quan trọng hơn đền thờ kia nhiều”. Chớ ǵ nhân ngày mừng lễ kỷ niệm ngày cung hiến thánh đường Latêranô, Mẹ của các nhà thờ Công giáo trên toàn thế giới hôm nay, tất cả chúng ta ư thức hơn về bổn phận của chúng ta trong việc xây dựng, và bảo vệ ngôi nhà thờ giáo xứ của chúng ta. Hơn nữa, không chỉ là làm đẹp cho ngôi nhà thờ vật chất này, mỗi người chúng ta cũng luôn ư thức giữ ǵn tâm hồn của chúng ta luôn trong sạch để xứng đáng là đền thờ của Thánh Thần. Đồng thời, chúng ta cũng luôn mở rộng ṿng tay, sẵn sàng chia sẻ với những anh chị em bất hạnh, để tất cả chúng ta cùng liên kết với nhau trong một t́nh yêu. Nhờ đó, chúng ta có thể xây dựng một ngôi Đền thờ thật đẹp, ấm cúng t́nh người, t́nh Chúa, nơi mà muôn dân có thể đến để ca ngợi Cha chúng ta ở trên trời. Amen. 9. Suy niệm của Phạm Ngọc NgônĐỪNG BIẾN NHÀ CHA TÔI THÀNH NƠI BUÔN BÁN Lễ Cung hiến Thánh đường Latêranô, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Ngôi Đền Thờ mới, đó chính là Thân Thể Đức Kytô, Chúa chúng ta. 1. Từ ngôi Đền thờ bằng đá, nơi Chúa Giêsu xua đuổi quân buôn bán… Đền thờ Giêrusalem được vua Hêrôđê cả trùng tu từ năm 20 trước công nguyên và kéo dài tới thời tổng trấn Rôma Albinus khoảng năm 63 sau công nguyên mới hoàn thành. Biến cố mà Tin mừng Gioan ghi lại có lẽ xảy ra vào khoảng năm 27 sau Công nguyên, lúc đó những phần chính yếu đă làm xong. Đền thờ gồm có cung thánh, sân tư tế, sân đàn ông, sân đàn bà và sân ngoại giáo rất rộng. Người Do thái luôn tự hào về Đền thờ của họ bởi nó được xây dựng nguy nga, to lớn xứng đáng nơi Thiên Chúa ngự và thích hợp cho mọi người đến cầu nguyện, dâng lễ vật. Sự việc diễn ra trong Tin mừng mà Gioan ghi lại xảy ra tại sân ngoại giáo. Đây là nơi dành cho dân ngoại lui tới nhưng cũng nơi đó đă diễn ra một tổ chức buôn bán trục lợi với những mánh khoé bất chính, những thủ đoạn lộ liễu. Tổ chức này do các tư tế Đền thờ cầm đầu. Con cháu họ giữ việc buôn bán đổi tiền. Gia nhân của họ cầm dùi cui, sẵn sàng đánh những ai cản trở việc buôn bán của con cháu họ. Thật ra, việc buôn bán chiên cừu, bồ câu cho khách hành hương để dâng lễ vật là một việc chính đáng, v́ vừa giúp khách hành hương khỏi phiền phức đem lễ vật từ xa đến vừa thu lợi cho Đền thờ trong việc bảo quản sửa sang. Việc đổi tiền ngoại quốc ra tiền Đền thờ cũng là việc phải lẽ. Bởi dân Do thái thời Chúa Giêsu bị thống trị bởi đế quốc Rôma. Chính v́ thế, người dân phải sử dụng đồng tiên Rôma trên đó có mang h́nh và kư hiệu hoàng đế Rôma. Đây là loại tiền bằng bạc, một đồng cân nặng 3,8 g và tương đương với 0, 875 quan vàng. Mặt phải của đồng tiền in đầu hoàng đế Tibêriô đội ṿng nguyệt quế với ḍng chữ: Tiberius Caesar Augustus, Divi Augusti Filius (Hoàng đế Tibêriô Augustô - con của thần August). Mặt trái của đồng tiền là h́nh hoàng hậu Livia hay thần chiến thắng trên một cỗ xe tứ mă với Tư tế Pontif. Người Do thái cho rằng đồng tiền Rôma là đồng tiền dơ dáy không xứng đáng để dâng cúng vào Đền thờ. Thế nên để có tiền dâng vào Đền thờ theo t́n ngưỡng, người Rôma chấp nhận cho người Do thái sử dụng một loại tiền khác gọi là tiền Đền thờ. Loại tiền này được người dân dâng cúng vào Đền thờ khi có dịp, muốn vậy th́ phải đổi tiền Rôma để lấy tiên này. Vấn đề ở đây là thay v́ các thầy Tư tế và gia nhân của họ phục vụ v́ mục đích tốt đẹp đó, họ lại lợi dụng để thu lợi bất chính cho ḿnh. Người dân biết đó nhưng phải im lặng v́ động đến họ th́ sẽ nhừ đ̣n. Chính trong khung cảnh đó, Chúa Giêsu đă can thiệp. Sự can thiệp của Chúa được thể hiện qua hành động và lời nói * Hành động: Gioan miêu tả khá tỉ mỉ: Chúa Giêsu cầm một dây thừng dùng làm roi, đuổi những lái buôn chiên ḅ; Người lật nhào, đổ tung bàn ghế của những người đổi tiền. * Lời quở trách: Khi nói với những người bán bồ câu: “Đem tất cả những thư này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi làm nơi buôn bán”. Đây là lời gợi nhớ lời của ngôn sứ Dacaria loan báo việc tẩy uế Đền thờ vào lúc đă định (x. Dcr 14,21) 2. … Đến ngôi Đền thờ mới là Thân thể Chúa Kitô Phản ứng tự nhiên của nhóm người thân cận hàng Tư tế là hạch sách Chúa Giêsu: Ông lấy quyền ai mà dám làm điều này? Nếu lấy quyền Chúa, ông hăy làm một dấu lạ chứng tỏ Chúa sai ông đi? Trả lời cho thái độ hạch sách đó, Chúa Giêsu nói: “Phá Đền thờ này đi, nội 3 ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Rơ ràng là Chúa không có ư nói đến ngôi Đền thờ xây bằng đá, trang hoàng bằng vàng này, mà Chúa muốn nói về chính thân thể của Người. Chúa Giêsu chính là Đền thờ và Người đến để thay thế ngôi Đền thờ Giêrusalem bằng đá bằng chính thân thể Người. Câu trả lời của Chúa c̣n mô tả cái chết thân xác của Người. Một cái chết chiến thắng v́ trong giới hạn 3 ngày, Người sẽ chỗi dậy. Một cái chết phá huỷ Đền thờ cũ để xây dựng một ngôi Đền thờ mới thờ “Thiên Chúa trong chân lư và Thánh Thần” như Chúa đă từng dạy. Mừng lễ Cung hiến Đền Thờ Latêranô là dịp thuận tiện để chúng ta cử hành thánh lễ tạ ơn Thiên Chúa, tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết và sống lại, hợp nên Thân ḿnh của Chúa Kytô là chính Hội Thánh. Mỗi người trong chúng ta là Đền thờ của Chúa Thánh Thần, là chi thể của Chúa Kytô. Thế nên chúng ta được mời gọi phải luôn luôn thanh tẩy ngôi đền thờ là chính tâm hồn chúng ta khỏi mọi tội lỗi, khỏi mọi vướng bận thế trần để làm nơi cư ngụ cho Thiên Chúa Ba Ngôi. 10. Thanh tẩy – Lm Trần NgàTừ thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem... Chúa Giêsu là Đấng rất hiền lành, và Ngài cũng là mẫu mực của sự hiền lành như lời Ngài dạy: “Anh em hăy mang lấy ách của tôi và hăy học với tôi, v́ tôi có ḷng hiền hậu và khiêm nhường...” ( Mt 11, 29 ) Khi Chúa Giêsu và các môn đệ bị người Samaria ngăn chặn không cho đi qua làng của họ mà tiến về Giêrusalem, Giacôbê và Gioan nổi giận đùng đùng, muốn khiến lửa trời xuống đốt, Chúa Giêsu quở trách Giacôbê và Gioan v́ lối xử sự nóng nảy của các ông. (Lc 9, 54) Khi có người cho Chúa là người mất trí (Mc 3, 21), là kẻ nói phạm thượng (Mt 9, 3), là người lấy phép của tướng quỷ mà trừ quỷ (Mt 9, 34), thậm chí là người bị quỷ ám (Ga 7, 20), là người dại dột... Chúa Giêsu cũng chẳng lấy làm điều. Nhất là trong cuộc thương khó, người ta lăng nhục hành hạ Chúa đủ điều, Chúa vẫn nín thinh không nói một lời. Khi chịu treo trên thập giá đau đớn lại c̣n bị chế nhạo, Chúa Giêsu chẳng những không giận mà lại c̣n cầu xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ hành hạ lăng nhục Ngài. Nói chung, Chúa Giêsu là Đấng rất dịu hiền và rất bao dung khiến ta nghĩ rằng Ngài không hề biết giận là ǵ. Vậy mà... khi Chúa Giêsu vào Đền Thờ Giêrusalem, thấy người ta làm ô uế đền thờ th́ Ngài không thể nào chịu nổi. Ngài nổi giận thật sự. Tin Mừng Gioan ghi lại: Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, ḅ, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên ḅ ra khỏi Đền Thờ; c̣n tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” Thế là để thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem khỏi bị tục hoá, Chúa Giêsu phải dùng đến roi vọt, dùng đến biện pháp cứng rắn không ai ngờ như “đổ tung tiền của những người đổi bạc”, “lật nhào bàn ghế”, dùng roi để ‘xua đuổi tất cả bọn’ ra khỏi Đền Thờ! Thật không thể ngờ được! Một Chúa Giêsu rất mực hiền lành khiêm nhượng, Đấng mà “cây lau bị giập, Người không đành bẻ găy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi” ( Mt 12, 20 )... giờ đây phải dùng roi vọt và biện pháp cứng rắn đối với những người xúc phạm đến sự linh thánh của Đền Thờ Giêrusalem. Điều đó chứng tỏ cho thấy rằng việc làm ô uế Đền Thờ là một hành vi rất tai hại khiến Chúa Giêsu đau khổ và bất b́nh xiết bao! Đến thanh tẩy đền thờ thân thể chúng ta Thân thể chúng ta cũng là những Đền Thờ, xét ra c̣n cao trọng hơn Đền Thờ Giêrusalem xưa. Trong chương 3 của thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô dạy: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3, 13) và qua chương 6, Thánh Phaolô tái khẳng định chân lư này: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?” (1 Cr 6, 19) Chúa Giêsu cũng dạy rằng có Thiên Chúa Ba Ngôi hằng ngự trị nơi những ai yêu mến và tuân giữ lời Ngài: “Ai yêu mến Thầy th́ sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23). Bản thân chúng ta là những Đền Thờ cao quư hơn mọi thánh đường trên khắp thế gian, v́ đây là những Đền Thờ sống động, có linh hồn, có trí khôn... chứ không phải bằng gỗ đá vàng bạc vô tri vô giác, được chính Ba Ngôi Thiên Chúa xây dựng nên theo h́nh ảnh Ngài, được Chúa Giêsu đổ Máu Thánh ra mà cứu chuộc, được Chúa Thánh Thần xức dầu thánh hiến trong ngày lănh Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, được Chúa Giêsu tô điểm và bồi bổ bằng lời hằng sống cũng như bằng chính Thịt Máu Ngài và nhất là mai sau được đưa lên cơi trời vinh hiển. Không một ngôi Thánh Đường vật chất nào trên thế gian có được những vinh dự lớn lao như thế. Vậy nếu Chúa Giêsu yêu quư Đền Thờ Giêrusalem một th́ Ngài c̣n yêu quư các Đền Thờ sống động này gấp trăm. Thế nên, Ngài đă không tiếc khi lấy chính Máu Thánh ḿnh mà thanh tẩy chúng; không tiếc hiến mạng ḿnh để chuộc lại chúng. Như thế th́ bản thân mỗi người Kitô hữu là Đền Thờ vô giá! Những người làm ô uế Đền Thờ Giêrusalem th́ bị Chúa Giêsu đuổi đi bằng roi vọt; c̣n ai làm hư hại Đền Thờ thiêng liêng nơi người tín hữu th́ bị Chúa đe phạt nặng nề hơn: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngă, th́ thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển c̣n hơn.” (Mc 9, 42) Có lẽ không c̣n răn đe nào nghiêm khắc hơn! Xin hăy hồi tâm... Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hăy cảnh tỉnh nh́n lại ḿnh, nh́n thật sâu vào nội tâm sâu thẳm của bản thân chúng ta là Đền Thờ Thiên Chúa để nhận ra những ư tưởng đen tối, những tham vọng xấu xa, những đam mê tội lỗi đang ẩn ḿnh trong đó... để sớm quét sạch chúng đi. Chính mỗi người chúng ta là thủ phạm trực tiếp làm ô uế Đền Thờ thân thể ḿnh chứ không ai khác. Vậy hăy liệu mà thanh tẩy kịp thời trước giờ Chúa Giêsu lại đến. 11. Nhà thờ của giáo xứHôm nay, chúng ta mừng kỷ niệm ngày cùng hiến đền thờ Latêranô. Đền thờ này vốn được coi như là nhà thờ chính ṭa của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám Mục giáo phận Rôma. Nhân dịp này tôi muốn chia sẻ một vài ư nghĩ đơn sơ về vai tṛ của nhà thờ, của thánh đường trong giáo xứ. Khi một em nhỏ mở mắt chào đời, cha mẹ của em thường bàn bạc với nhau xem sẽ đặt tên ǵ cho em. Các ngài mở lịch và đặt cho em không những một tên gọi b́nh thường, mà c̣n chọn cho em một tên thánh nữa. Chẳng hạn như Maria, Giuse, Phêrô, Anna… Vị thánh mà em nhỏ ấy mang tên sẽ là vị thánh bổn mạng, vị thánh quan thầy của em. V́ thánh ấy sẽ nâng đỡ và ǵn giữ em trên vạn nẻo đường đời. Cũng thế đối với ngôi nhà thờ của giáo xứ. Cụ thể là ngôi nhà thờ của giáo xứ An Sơn chúng ta, được đặt tên là nhà thờ Vô Nhiễm, v́ được đặt dưới sự bảo trờ của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Và rồi trong một năm, cứ đến ngày 8 tháng 12, tất cả chúng ta, những người con trong giáo xứ, đều mừng kính Mẹ như vị bổn mạng của ḿnh. Chính v́ thế, chúng ta hăy chạy đến kêu cầu để xin Mẹ luôn nâng đỡ và ǵn giữ cộng đoàn chúng ta trong sự b́nh an, yêu thương và hợp nhất. Chúng ta đă thấy trong thời gian chiến tranh, biết bao nhiêu ngôi nhà thờ đă đă bị tàn phá, đă bị sụp đổ do bom đạn của hận thù, để rồi chỉ c̣n là một đống gạch vụn. Chúng ta hăy cầu xin Mẹ che chở cho ngôi nhà thờ của giáo xứ, được luôn luôn an toàn. Tới đây chúng ta nhắc cho anh chị em một sự thật: Giáo xứ là một gia đ́nh. Chính tại gia đ́nh này, chúng ta t́m thấy được một t́nh mến thương đậm đà và những kỷ niệm thật êm đềm và tươi đẹp. Phải, giáo xứ chính là một gia đ́nh và ngôi nhà thờ này chính là ngôi nhà tổ được dành cho mọi người. Thực vậy, chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta đă được cha mẹ bồng ẵm tới, sau khi đă mở mắt chào đời, để lănh nhân bí tích Rửa Tội, sinh chúng ta trong đời sống siêu nhiên của người con cái Thiên Chúa. Chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta được lănh nhận bí tích Thêm sức, giúp chúng ta trưởng thành trong đời sống đức tin, nhờ đó chúng ta trở thành những người lính can đảm, chiến đấu dưới bóng cờ của Đức Kitô. Chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta được rẽ vào một khúc quanh mới của cuộc đời, khi chúng ta cùng với người chúng ta thương mến, tay trong tay tiến lên bàn thánh để cử hành bí tích Hôn phối. Và sau cùng chính tại ngôi nhà thờ này, chúng ta sẽ từ giă mọi người để trở về nhà Cha sau cuộc hành tŕnh dương thế, hầu đón nhận niềm hạnh phúc vĩnh cửu mà Thiên Chúa đă hứa ban cho những người tôi tớ trung thành phụng sự Ngài. Và nhất là chính tại ngôi nhà thờ này, mỗi ngày đều diễn ra cái quang cảnh xum họp thật đầm ấm và dạt dào yêu thương. Thực vậy, trong một gia đ́nh, cha mẹ và con cái thường quây quần bên mâm cơm nóng sốt, chứ không phải ngày nào cũng ăn cơm hộp hay giắt nhau ra hàng quán, ra tiệm ăn. Cũng vậy, chính tại ngôi nhà thờ nay, mỗi ngày chúng ta đều cùng nhau quây quần bên bàn tiệc Thánh Thể để chia sẻ với nhau một của ăn thiêng liêng nuôi sống linh hồn, rồi từ đó, chúng ta sẽ có được những hành động bác ái và yêu thương, tha thứ và gíup đỡ cho những người chung quanh. Tuy nhiên, chúng ta đă thực sự cư xử với nhau như những người con của gia đ́nh giáo xứ hay chưa? CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN – A1. Chúa sẽ đếnĐối với mười cô trinh nữ, th́ việc chàng rể sẽ đến là một xác tín mănh liệt và hiển nhiên. Họ đă chuẩn bị đèn đuốc, đă đi nghênh đón và đợi chờ chàng rể tại một nơi đă được ấn định. Họ tin chắc chắn rằng chàng sẽ tới. Tin chắc đến độ không c̣n lo âu và băn khoăn trước sự chậm trễ của chàng. Họ đă thiếp đi và ngủ cả. Đó là dấu chỉ cho thấy tâm hồn họ thật b́nh thản. C̣n đối với chúng ta th́ sao? Chúng ta cũng tin chắc chắn rằng Chúa sẽ đến. Tuy nhiên, đôi lần việc chờ đợi đă làm cho niềm tin ấy bị lu mời và phai nhạt. Ngài sẽ đến, nhưng xem ra mọi sự lại diễn ra một cách quá b́nh thường. Ngài sẽ đến, nhưng lại chẳng có dấu chỉ ǵ báo trước. Ngài sẽ đến, nhưng sao lại vẫn thinh lặng., một sự thinh lặng dễ sợ. Sự hao ṃn của thời gian dễ dàng tàn phá ḷng kiên nhẫn của chúng ta. Những câu hỏi bắt đầu được đặt ra, rồi những nghi vấn được chen vào làm cho niềm xác tín bị lung lay. Thêm vào đó, những kiến thức hời hợt và nông cạn sẽ làm phut tắt ngọn đèn nội tâm của chúng ta và đặt trong chúng ta một t́nh trạng dửng dưng nào đó, bởi v́ các biến cố đă được tiên báo xem ra thật đáng nghi ngờ. Bấy giờ, nếu th́nh ĺnh xảy ra những tai ương hoạn nạn, th́ sự chờ đợi có thể ch́m sâu vào thất vọng và bị coi là hoàn toàn vô ích. Chúa sẽ đến, đó là một điều chắc chắn và là một xác tín phải được củng cố trong suốt cuộc đời chúng ta. Đó không phải là một giả thuyết, nhưng là một thực tại hiển nhiên của tương lai. Và v́ liên hệ tới tương lại, nên đó cũng chính là một viễn tượng duy nhất chắc chắn như cái chết phần xác của chúng ta. Ước ǵ niềm xác tín này làm cho cơi ḷng chúng ta được tràn ngập an b́nh và tâm hồn chúng ta được hoàn toàn thanh thản. Chúa sẽ đến và Ngài sẽ đến một cách bất ngờ. Đó là khía cạnh thứ hai trong câu chuyện mười cô trinh nữ. Vào nửa đêm, có tiếng hô to: - Ḱa chàng rể đến. Như thế, việc chuyển sang một ngày mới cũng là việc chuyển đổi từ t́nh trạng này đến t́nh trạng kia. Bất ngờ và cưỡng chế, đó là đặc tính của việc Chúa đến trong Lời mà chúng ta đang nghe lúc này đây của thánh lễ. Đấy là như một dấu báo hiệu: Trước đó, nó đă cho thấy thật là phi lư nếu chúng ta tưởng rằng ḿnh sẽ có đủ thời giờ để canh chừng. Không báo trước như một tiếng sét giữa bầu trời quang đăng, như một tiếng kèn bất chợt vang lên, hay như một con đường đi Đamas khiến cho Phaolô bị quật ngă, xem ra rất b́nh thường nhưng lại có tính cách quyết định cho số phận đời đời. Cuộc viếng thăm trọng đại này sẽ áp đặt và mang đi tất cả, nhưng đồng thời cũng ban sự sống cho những ǵ phù hợp với nó và cho những ai đợi chờ nó. Tuy nhiên, hăng hái trông mong và hăm hở đi đón mừng Chúa đến với một đức tin kiên vững mà thôi chưa đủ, chúng ta c̣n phải tích cực chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ định mệnh này, bằng cách tích lũy cho ḿnh thật nhiều những việc lành phúc đức, thật nhiều những hành động bác ái yêu thương, thật nhiều những thái độ xả thân phục vụ những người hèn mọn chung quanh chúng ta. Chỉ một đời sống hoàn toàn dấn thân cho Chúa và cho anh em mới có thể rạng gnời như đèn sáng trong đêm tối trần gian và cho phép chúng ta được yên giấc ngàn thu v́ biết rằng Chúa sẽ mở cho chúng ta cánh của pḥng tiệc của Ngài. 2. Cho ngày hôm nayTrong mục “Cửa sổ tâm hồn” của báo Tuổi Trẻ có đăng một bài với tựa đề “Cho ngày hôm nay” như sau: Có hai ngày trong tuần chúng ta không nên lo lắng. Một ngày là ngày hôm qua, với những sai lầm, những âu lo, những tội lỗi, những thiếu sót và những nỗi đau. Ngày hôm qua đă đi qua. Mọi tiền bạc trên đời này cũng không thể đem ngày hôm qua quay trở lại. Chúng ta không thể nào hủy bỏ một hành động mà chúng ta đă làm cũng như không thể nào xóa đi một ngôn từ mà chúng ta đă thốt ra. Ngày hôm qua đă đi xa rồi! C̣n một ngày nữa mà chúng ta không nên lo lắng, đó là ngày mai với những kẻ thù quá quắt, những gánh nặng cuộc sống, những hứa hẹn tràn trề. Mặt trời của ngày mai sẽ mọc lên hoặc là chói lọi hoặc là khuất sau đám mây, nhưng dù ǵ th́ nó vẫn sẽ mọc lên. Và trước khi nó mọc lên, vào ngày mai chúng ta chẳng có mối đe dọa nào, bởi lẽ nó vẫn chưa được sinh ra. V́ vậy chỉ c̣n một ngày duy nhất là ngày hôm nay. Bất cứ ai cũng đều phải đấu tranh để sống dù chỉ một ngày. Thật ra chẳng phải những ǵ trải qua ngày hôm nay khiến người ta phát rồ – mà đó chính là sự hối tiếc về những ǵ đă xảy ra ngày hôm qua và những lo sợ về những ǵ ngày mai có thể đem đến. “Năm cô trinh nữ khôn ngoan” là những con người của ngày hôm nay. Các cô không hối tiếc cho ngày hôm qua, cũng không lo lắng cho ngày mai, v́ ngày hôm nay, các cô đang cầm đèn cháy sáng trong tay theo chú rể vào dự tiệc cưới. “Năm cô trinh nữ khờ dại” măi măi là những con người của ngày hôm qua. Cho dù các cô có đi mua thêm dầu, rồi cầm đèn cháy sáng trong tay, nhưng đă quá muộn, v́ cửa đă đóng.Ngày hôm qua đă đi xa rồi! Cuộc đời người tín hữu Kitô lúc nào cũng phải được xem là ngày hôm nay, luôn sẵn sàng chờ chàng rể đến, để vào dự tiệc cưới Nước trời. Thế nào là người tín hữu luôn sẵn sàng? Tin Mừng hôm nay chỉ rơ: “Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. C̣n những cô khôn th́ vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo”. Cốt lơi vấn đề là ở chỗ đó. Các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo, nên các cô sẽ măi măi là người đến sau, măi măi phải đứng bên ngoài, suốt đời hối tiếc. V́ ngày hôm qua đă đi xa rồi! Trái lại, các cô khôn vừa mang đèn vừa mang theo chai dầu. Đèn chính là ánh sáng đức tin luôn chiếu tỏa từ ngày chịu phép rửa tội. Đă có đèn th́ phải có dầu; đă thắp đèn th́ phải hao dầu, hao dầu th́ phải châm thêm mỗi ngày. Dầu ấy chính là dầu bác ái yêu thương. Chỉ có dầu t́nh yêu mới thắp sáng được cây đèn đức tin của người tín hữu. Thánh Gioan viết: “Ai không yêu thương th́ không biết Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là t́nh yêu”. Ai vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo người đó được kể là người sẵn sàng và là thực khách danh dự của tiệc cưới Nước Trời. Thánh Matthêu ghi rơ: “Những cô đă sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới”. V́ thế, những người luôn sẵn sàng là những con người của ngày hôm nay, không hối tiếc cho ngày hôm qua đă đi xa rồi, cũng chẳng lo lắng cho ngày mai chưa tới, nhưng chỉ tỉnh thức trong ngày hôm nay cho đèn luôn cháy sáng, cho dầu vơi lại đầy. Người ta cứ tự hỏi: Bao giờ chàng rể đến? B́nh dầu th́ cứ vơi dần! Màn đêm buông xuống, đôi mắt cũng nặng trĩu theo! Chờ đợi bao giờ cũng mệt mỏi căng thẳng! – Biết rằng đèn cháy sáng th́ dầu cũng cạn. T́nh yêu chờ đợi măi cũng ṃn mỏi, lời kinh có khi cũng phôi pha, cây đàn có lúc cũng quên mất nốt nhạc. Hăy kín múc dầu t́nh yêu nơi suối nguồn yêu thương, chính là Bí tích Thánh Thể. Nơi đó, chúng ta không chỉ nhận được dầu t́nh yêu, dầu ân sủng, mà c̣n được trao ban chính ḿnh Người làm của ăn, để chúng ta tỉnh thức mà chờ đợi Người dẫn đưa ta vào tiệc cưới Nước Trời. 3. Sẵn sàngTheo tục lệ tại các nước Trung Đông, th́ trong dịp đám cưới, nhà gái thường tổ chức những cuộc vui chơi suốt ngày. Thỉnh thoảng người ta lại loan báo cho biết: - Chàng rể sắp đến. Trong thực tế, nửa đêm vào lúc bất ngờ nhất, chàng rể mới xuất hiện. Chàng đến với đèn đuốc sáng trưng để đón cô dâu. Đáp lại, cô dâu cùng các cô phù dâu, cũng phải mang đèn đuốc sáng trưng để bắt đầu cuộc rước về nhà chồng. Đọan Tin mừng hôm nay cũng cho hay là chàng rể đến chậm. Sự chậm trễ này cũng là điều b́nh thường và phần lớn xảy ra là do nhà trai chưa đạt được thỏa thuận về các sính lễ phải đem sang nhà gái trước khi rước dâu. Tục lệ này tương đương với việc “thách cưới” ở Việt Nam mà dân gian đă có những lời diễu cợt như sau: - Em là con gái nhà giàu, Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao. Cưới em trăm tấm lụa đào, Một trăm ḥn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời. Ở Trung Đông, tục lệ này c̣n nặng nề hơn nữa, đến nỗi cuộc rước dâu có thể bị đ́nh hoăn tới đêm hôm sau do cuộc thương lượng và thỏa thuận kéo dài lê thê… V́ thế không lạ ǵ khi thấy các cô phù dâu thiếp đi rồi ngủ cả. Các cô tuy không buộc phải tỉnh thức, nhưng buộc phải sẵn sàng để đón chàng rể với đèn cháy sáng cầm trên tay. Câu chuyện trên được áp dụng vào hai lănh vực. Lănh vực nhân loại và lănh vực cá nhân. Trước hết là lănh vực nhân loại. Như chúng ta đă biết chàng rể trong câu chuyện là h́nh ảnh tượng trưng cho Đức Kitô. Ngài sẽ đến viếng thăm nhân loại vào ngày cuối cùng của vũ trụ vật chất, để phán xét chung hết thảy mọi người. Tuy nhiên quan trọng hơn đó là lănh vực cá nhân. Ngài sẽ đến viếng thăm mỗi người chúng ta vào ngày sau hết của cuộc đời để phát xét riêng mỗi cá nhân và ấn định số phận đời đời của chúng ta. Điều Ngài đ̣i hỏi nơi chúng ta không phải chỉ là tỉnh thức để biết được ngày giờ nào Ngài sẽ viếng thăm, nhưng cần thiết hơn, đó là thái độ sẵn sàng, để khi Ngài đến, chúng ta không bị bẽ bàng, hutï hẫng và đắng cay v́ sẽ bị loại trừ. Vào năm 79 sau công nguyên, thành phố Pompei với trên 20.000 dân bất ưng bị một ngọn núi lửa vùi lấp dưới lớp tro bụi dày hơn 5 thước. Các nhà khảo cổ đă đào bới và t́m thấy những bộ xương người mà thịt rữa được thay thế bằng những lớp tro chai cứng. Hay họ dùng thạch cao để đắp lại thành h́nh người theo dựa theo những bộ xương trong tư thế y hệt lúc xảy ra tai nạn núi lửa. Những khuôn đức ấy cho thấy hành vi cuối cùng của một số người trong thành. Trước hết là một người mẹ trẻ đang ôm chặt đứa con trong ṿng tay của ḿnh. Tiếp đến là một người lính gác trong bộ áo giáp với vũ khí trong tay, vẫn đứng thẳng tại vị trí của ḿnh, c̣n người khác th́ tay cầm gươm, chân đạp trên đống vàng, bên cạnh là năm xác chết, có lẽ đó là những người đến để cướp bóc hay hôi của. Nếu như hôm nay Chúa đến viếng thăm, liệu chúng ta có ở trong tư thế sẵn sàng với đôi tay chất đầy công nghiệp và một tâm hồn trong trắng, như năm cô trinh nữ khôn ngoan cầm đèn sáng đi đón chàng rể hay không? 4. Tỉnh thứcChúa Giêsu hay nói về đám cưới, v́ đám cưới của người Do Thái sống ở Palestine thời Chúa Giêsu là một cơ hội lễ lạc linh đ́nh. Theo William Barclay, toàn thể dân làng được mời tham dự vào đoàn rước chú rể và cô dâu về nhà mới, họ đứng hai bên đường ca hát và chúc mừng những lời tốt đẹp nhất. Đôi tân hôn không đi xa để hưởng tuần trăng mật, nhưng ở tại nhà, suốt cả tuần lễ tiệc tùng, và được đối đăi quư trọng như hoàng tử và công chúa. Đây là tuần lễ quan trọng đáng ghi nhớ nhất trong đời của một người. Do đó, theo luật lệ của các thầy Rabbi, ngày lễ cưới là ngày hoan lạc vui tươi, tất cả khách đến tham dự được miễn trừ không phải giữ luật ăn chay. Thánh lễ cưới theo nghi thức tây phương, cô dâu đóng vai tṛ quan trọng với nghi thức rước dâu. Khi cô dâu xuất hiện, mọi người đều đứng lên tập trung vào cô dâu đẹp đẽ trong y phục áo cưới tiến lên bàn thờ với đoàn rước và tiếng nhạc hoan ca. C̣n chú rể chỉ đứng chờ đợi sẵn trên bàn thờ đón tiếp cô dâu. Trái lại, trong nghi thức đám cưới Do Thái, chú rể là người quan trọng. Mọi người phải chờ đợi và đón chú rể. Trước hết, nếu lễ cưới vào ban đêm, chú rể phải đi tới nhà cô dâu để thương lượng với người cha hay anh em của cô dâu về tiền bạc, quà cáp, của hồi môn… vào lúc mặt trời lặn. Thời đó chưa có đồng hồ, nên không thể định rơ giờ giấc để đón rước chàng rể từ nhà cô dâu về nhà chú rể được. Hơn nữa, theo phong tục, chú rể thường cố ư tŕ hoăn và kéo dài cuộc thương lượng để cô dâu và những nàng phù dâu phải chờ đợi trong hồi hộp và ngạc nhiên. V́ suốt ngày tiệc tùng, dạ vũ, nên chờ đợi đến khuya thường mệt mỏi và buồn ngủ. Mười cô trinh nữ được mời tham dự có bổn phận phải chuẩn bị sẵn sàng đèn đuốc để thắp sáng đường đi rước chú rể, cô dâu và khách đến tiệc cưới. Đây là một vinh dự rất đặc biệt cho các cô trinh nữ được mời. Tuy nhiên, theo bài Phúc âm diễn tả, năm cô khờ dại chưa chuẩn bị sẵn sàng, không mang theo đủ dầu cần thiết, khi chú rể đến th́ họ lại hết dầu. Điểm rất quan trọng cần lưu ư ở đây là thời xưa không ai được phép ra đường vào ban đêm mà không có đèn, nhất là trinh nữ. V́ bóng đêm với đầy dẫy sự nguy hiểm của gian tà tội lỗi! Thánh Augustinô đă chú giải như sau: “Năm cô trinh nữ khờ dại trong bài Phúc âm hôm nay thực sự là ngu xuẩn. Họ khờ dại v́ đă chểnh mảng giữ giới răn dễ dàng hơn, đó là mến Chúa và yêu người, để liều lĩnh giữ giới răn về sự thanh khiết”. Họ phải yêu thương tha nhân bằng việc thắp đèn dầu của ḿnh soi sáng đường đi cho mọi người đến đón chú rể. Họ ngu xuẩn v́ họ đă bỏ qua giới răn quan trọng và dễ thi hành này, “mến Chúa và yêu người”, để giữ một giới răn khó khăn là sự trong sạch. Theo William Barclay, tiệc cưới là những ngày hội vui tươi và linh đ́nh, kéo dài cả tuần lễ. Ăn uống, vui chơi, đàn ca và khiêu vũ không chỉ dành riêng cho đôi tân hôn, nhưng cả bạn bè và những người thân đều được mời tham dự. Do đó, những cô trinh nữ khờ dại đă bị loại ra, uổng mất cơ hội hoan lạc đáng kể này! Những nhân viên sĩ quan và thủy thủ đoàn cấp cứu của con tàu Titanic rất giống với những cô trinh nữ khờ dại trong dụ ngôn của Chúa Giêsu. Họ đă không chuẩn bị đầy đủ cho điều có thể xảy ra v́ họ tin rằng con tàu của ḿnh không thể ch́m nổi, nhưng trong một số trường hợp họ cũng không biết điều khiển máy móc làm cho những chiếc thuyền cấp cứu hạ thấp xuống nước nữa. Do đó, khi tai nạn xảy đến, tất cả chỉ là một đám đông hỗn độn: thủy thủ đoàn không được huấn luyện không biết phải làm ǵ. Và khi họ phát ra những chiếc phao cấp cứu, họ mới khám phá thấy rằng tất cả những dụng cụ cấp cứu và phao nổi đă quá ít so với số hành khách và thủy thủ đoàn. Đừng bắt chước năm cô trinh nữ khờ dại. Họ nghĩ rằng có thể mượn được dầu từ người khác. Chúng ta cũng không thể nào vay mượn được đời sống tinh thần của người khác. Phải tự phát triển đời sống đạo đức của riêng ḿnh. Không ai có thể sống dùm cho chúng ta. William Barclay ví von rằng, chúng ta không thể nào vay mượn được tính t́nh và nhân đức giống như vay tiền từ thẻ tín dụng! Năm cô trinh nữ khôn ngoan và năm cô trinh nữ khờ dại là những biểu tượng của những cách sống của con người. Xin Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để biết sống sẵn sàng vâng theo đường lối của Thiên Chúa. 5. Sẵn sàngBài Tin Mừng là một dụ ngôn của Chúa Giêsu, Chúa đă dùng một h́nh ảnh quen thuộc về cưới xin của quê hương Ngài để dạy chúng ta một bài học, là phải luôn luôn sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa đến. Trong một đám cưới, nhân vật chính là cô dâu và chú rể. Nhưng trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu lại đặt trọng tâm về phía các cô phù dâu, bởi v́ chàng rể ở đây là Chúa Giêsu, mười trinh nữ phù dâu là toàn thể nhân loại. Dụ ngôn này trước hết nói đến tất cả mọi người phải sẵn sàng chờ đợi ngày tận thế, ngày Chúa tái giáng để phán xét toàn thể nhân loại, ngày nào Chúa trở lại th́ không ai biết được, chỉ cần nhớ rằng ngày đó rất bất ngờ. Đàng khác, dụ ngôn này cũng muốn nhắc tới ngày chết của mỗi người, ngày ấy cũng rất bất ngờ, không ai biết trước được. Đời con người đă ngắn ngủi, lại có thể chết bất cứ lúc nào, cho nên đ̣i hỏi mỗi người phải cẩn thận và sẵn sàng. Việc chờ đợi sẵn sàng có tính cách bản thân cá nhân mỗi người, không ai làm thay ai được. Sự sẵn sàng này phải có luôn, kéo dài măi chứ không phải chỉ trong một thời gian nào thôi, v́ Chúa đến bất ưng, Chúa có thể gọi chúng ta ra khỏi đời này bất cứ lúc nào. Cho nên, như mười trinh nữ, sửa soạn có đèn mà thôi, đèn cháy mà thôi cũng chưa đủ, c̣n phải dự trữ dầu. Cũng vậy, có đạo, có đức tin mà thôi chưa đủ mà c̣n phải có sự nghiệp đức tin và công phúc nữa. Dụ ngôn cho chúng ta thấy, trong mười cô phù dâu, có năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại. Đó là h́nh ảnh tượng trưng cho hai nhóm tín hữu khác nhau: một nhóm những người khôn ngoan và một nhóm những người khờ dại. Khôn ngoan hay khờ dại là căn cứ vào cách sống của họ có biết sẵn sàng hay không? Có sự nghiệp đức tin và công phúc hay không? Năm cô phù dâu khờ dại không chuẩn bị đủ dầu, đến giờ chót đi vay mượn và bị từ chối, có nghĩa là ơn cứu rỗi của mỗi người là tự ḿnh sắm sửa lấy cho ḿnh. Mỗi người phải có sự nghiệp đức tin riêng. Sự cứu rỗi là của riêng mỗi người, không vay mượn được. Chúng ta không thể nhường lại cho ai khác và cũng không ai có thể nhường lại cho chúng ta được. Đàng khác, chúng ta cũng đừng cho rằng: chỉ cần sắm sửa một ít dầu vào phút chót là được. Trái lại, phải sắm sửa cả đời và suốt đời. Sự nghiệp đức tin phải sắm sửa hằng ngày cho đến chết, v́ không ai biết ḿnh chết khi nào, đừng bao giờ nghĩ rằng ḿnh c̣n lâu mới chết, v́ sự chết không kiêng nể ai và cũng chẳng báo trước cho ai cả. V́ thế, bổn phận của chúng ta là phải luôn sẵn sàng, lúc nào cũng chuẩn bị trước cho ḿnh một sự nghiệp nước trời theo gương nhân vật trong câu chuyện sau: Bá tước Henri đơ Bavie, người sau này trở thành hoàng đế nước Đức, và Giáo Hội đă phong thánh cho ngài. Ngài thường cầu nguyện bên mộ thánh Uôngang. Một hôm thánh Uôngang hiện ra với ngài và chỉ cho ngài một ḍng chữ viết trên mộ: “Sau sáu…” chỉ có hai chữ đó thôi, rồi thánh nhân biến đi. Henry suy nghĩ măi, không hiểu “sau sáu…” nghĩa là ǵ? Ngài nghĩ rằng có lẽ Chúa muốn cho ngài biết sau sáu ngày nữa ḿnh sẽ chết chăng? Ngài liền dọn ḿnh chết cách nghiêm túc. Nhưng sau sáu ngày vẫn không có sự ǵ xảy ra. Ngài cho rằng: sau sáu tuần chăng? Ngài lại dọn ḿnh chết trong sáu tuần. Sáu tuần lại qua đi vô sự. Ngài lại nghĩ sau sáu tháng chăng? Sáu tháng lại qua đi. Ngài lại nghĩ sau sáu năm chăng? Ngài kiên tŕ sống tốt lành, làm thật nhiều việc đạo đức. Sau sáu năm ngài được chọn làm hoàng đế. Dầu vậy, ngài vẫn không thay đổi cách sống, luôn chuẩn bị sẵn sàng chết. V́ thế, ngài đă trở thành một hoàng đế gương mẫu và hơn nữa là một vị thánh. Chúa Giêsu ân cần nhắn nhủ chúng ta: hăy khôn ngoan như năm cô trinh nữ đem đèn và trữ cả dầu. Chúng ta phải có đèn, đèn muốn hữu dụng phải có dầu, dầu đốt măi cũng phải hết, do đó, chúng ta phải trữ dầu, trữ càng nhiều càng tốt. Dầu đây là đời sống thiện hảo của ḿnh, loại dầu này nếu có trữ lượng phong phú, việc pḥng ngừa và cẩn thận của chúng ta mới thành hiện thực. Dụ ngôn mười cô trinh nữ, chúng ta thấy cả khôn và cả dại đều ngủ, đâu phải chỉ có những cô dại mới ngủ, nhưng cái làm cho mười cô trở thành khôn dại khác nhau ở chỗ biết chuẩn bị sẵn sàng. Năm khô khôn đă ngủ nhưng ngủ trong sự sẵn sàng, c̣n năm cô dại đă ngủ trong một thái độ chểnh mảng, việc đâu hay đó, nhưng đến khi “hay” được th́ đă quá muộn. Chúng ta hăy nhớ: một ngày nào đó cuộc đời chúng ta sẽ chấm dứt, chúng ta không biết ngày đó là ngày nào, nên chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng, chúng ta phải lo tính cho linh hồn ḿnh, phải luôn sẵn sàng tối đa bằng cách luôn sống tốt lành. Bởi v́ chỉ có những ai biết sống như thế mới bảo đảm được hạnh phúc đời đời. 6. Vừa mang đèn, vừa mang dầuSuy Niệm Chẳng ai nghĩ đi ăn sinh nhật là để chết. Chẳng ai nghĩ ḿnh sẽ chết vào ngày sinh nhật của ḿnh. Vụ cháy ở nhà hàng Hoàng Hôn đường Điện Biên Phủ, nhắc cho ta về sự bất ngờ của cái chết. Cái chết đến khi mọi người đang say ngủ, lúc 3 giờ sáng ngày 17-10, sau bữa tiệc sinh nhật. Chín người chết v́ không thể ra khỏi căn nhà bốc cháy. Đoạn Tin Mừng hôm nay nhắc ta rằng Chúa đến bất ngờ, như chú rể đến lúc nửa đêm. Chúng ta phải sẵn sàng như năm cô phù dâu khôn ngoan, hân hoan ra đón chú rể, tay cầm đèn thắp sáng. Thật ra năm cô dại chẳng phải là hạng vô tích sự. Chắc họ đă lo trang điểm cho ḿnh. Khi biết ḿnh hết dầu, họ đă lo vay mượn. Và khi bị từ chối, họ đă đi mua dầu giữa đêm khuya. Lúc có đèn sáng, họ đă gơ cửa xin vào dự tiệc cưới. Nhưng muộn quá! "Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!" Chẳng nên đổ lỗi cho chú rể đến chậm, khiến đèn của ḿnh hết dầu. Chẳng nên trách móc các cô khôn ngoan, v́ họ cần có đủ dầu để thắp sáng cho tiệc cưới giữa đêm khuya. Chỉ nên nhận ḿnh đă chểnh mảng, không mang dầu dự trữ. Có đèn. Không đủ! Đèn cần phải sáng, sáng lúc Chúa đến bất ngờ. Như thế cũng có nghĩa là phải luôn luôn sáng. Mang danh là Kitô hữu. Không đủ! Tham gia vào một số sinh hoạt tôn giáo. Không đủ! Cần phải sống hết ḿnh những đ̣i hỏi của Chúa. Đ̣i hỏi lớn nhất là yêu thương. Trong Hội Thánh, vẫn có những cô khôn và cô dại, có những người đèn đă hết dầu từ lâu... Cần chăm chút cho ngọn đèn đời ḿnh. Cần nuôi dưỡng nó bằng thứ dầu của t́nh yêu bao dung, của niềm hy vọng vững vàng, của niềm tin sắt đá. Cần châm thêm dầu mỗi ngày... Hăy tỉnh thức, v́ anh em không biết ngày nào, giờ nào. Tỉnh thức không phải là không ngủ... Cả mười cô trinh nữ phù dâu đều đă thiếp ngủ. Tỉnh thức không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối ḿnh suốt ngày. Chẳng ai biết lúc nào tận thế. Chẳng ai biết giờ chết của ḿnh. Chẳng ai biết hôm nay Chúa hẹn ḿnh ở đâu, trong biến cố nào, nơi con người nào. Chính v́ thế phải tỉnh thức luôn, cả trong giấc ngủ. Người ta biết ḿnh bắt đầu tỉnh thức, khi nhận ra ḿnh đă mê muội. Gợi Ư Chia Sẻ Nạn ma tuư đă đi vào trường học và tác hại trên người trẻ. Theo ư bạn, phải làm ǵ để ngăn chặn? Nếu định nghĩa ma tuư là tất cả những chất gây nghiện, khiến con người có nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao, không thể cưỡng lại được, th́ theo ư bạn, đâu là những thứ ma tuư hiện nay đang mê hoặc giới trẻ? (rượu, cờ bạc, bạo lực, t́nh dục...) Cầu Nguyện Lạy Chúa Giêsu, nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng. Thế giới này c̣n bao điều khiếm khuyết, dở dang, c̣n bao điều nằm ngoài ṿng tay của Chúa. Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào... Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ. Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những ǵ chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. 7. Mười người trinh nữTháng mười một là tháng dành riêng cho các linh hồn, nên chúng ta dừng lại để suy nghĩ một vài tư tưởng về cái chết. Chắc hẳn Chúa không muốn cho cuộc đời chúng ta ch́m đắm trong một màu tang tóc và từng giây từng phút luôn nơm nớp lo sợ, nhưng Chúa muốn chúng ta sẵn sàng và nh́n vào cái chết với đôi mắt lạc quan tin tưởng và hy vọng. Cái chết sẽ dạy cho chúng ta biết cuộc đời này tuy ngắn ngủi và chóng qua nhưng lại là một kho tàng quí giá, bởi v́ nhờ nó chúng ta có thể chiếm được Nước Trời, và một khi nó đă qua đi th́ không bao giờ trở lại. Bởi đó chúng ta hăy biết lợi dụng những năm tháng hiện tại để chuẩn bị cho ḿnh những hành trang cần thiết, hầu sẵn sàng lên đường dấn thân vào một cuộc hành tŕnh cô đơn và bi thảm nhất, đó là cái chết. Thật là hạnh phúc và tốt đẹp nếu ta có được một linh hồn luôn chuẩn bị và sẵn sàng, nhưng cũng thật bẽ bàng và cay đắng nếu ta chết đi trong t́nh trạng tội lỗi và thù nghịch cùng Chúa. Lúc đó ta sẽ mất cả ch́ lẫn chài, cả vốn lẫn lời, cả đời này lẫn đời sau, cả thân xác lẫn linh hồn. Trên bia mộ của những người thời xưa người ta thường thấy những chữ tuyệt vời trên đó: "Người này đă nghỉ yêu trong ṿng tay yêu thương của Thiên Chúa". Hăy khử trừ tội lỗi và hăy thực thi bác ái yêu thương để dù Chuía có đến vào ngày chúng ta không ngờ, vào giờ chúng ta không biết, chúng ta vẫn sẵn sàng và vui mừng kêu lên: "Lạy Chúa, này con xin đến". Thế nhưng chúng ta đă chuẩn bị cho cuộc hành tŕnh cuối cùng này chưa? Trong cơn hấp hối người ta hỏi thánh nữ Magarita: - Có cần ǵ nữa chăng? Thánh nữ trả lời: - Không, tôi đă sẵn sàng. Nếu như đêm nay chúng ta phải đến trước tôn nhan Chúa, nếu như chút nữa đây Chúa gọi chúng ta, liệu chúng ta đă thu xếp xong mọi công việc hay chưa? Liệu chúng ta đă trả hết món nợ đối với Chúa và đối với anh chị em hay chưa? Liệu chúng ta đă tẩy xóa hết tội lỗi trong tâm hồn qua Bí Tích Giải Tội hay chưa? Nếu chúng ta biết chuẩn bị ngay từ bây giờ, nếu như mỗi khi chiều xuống chúng ta ngồi hồi tâm xét ḿnh và chúng ta chỉ ngủ yên khi tâm hồn ḿnh đă gội rửa tẩy sạch qua tâm t́nh sám hối ăn năn. Nếu chúng ta luôn giữ được tấm áo trắng trong ngày lănh nhận Phép Rửa Tội, nếu ngọn nến đức tin vẫn c̣n cháy sáng trong cuộc đời, th́ quả thật chúng ta là người có phúc và cái chết không c̣n là một giây phút kinh hoàng và khiếp hăi nữa. Cuộc đời là một chuyến viễn du trong đêm tối, nhưng bên kia là b́nh minh ló hiện. Cuộc đời chúng ta là một hành tŕnh trên mặt biển đầy sóng, nhưng bên kia là bến bờ hạnh phúc, ở đó Thiên Chúa đang mở rộng ṿng tay để chờ đón chúng ta. Nếu bây giờ chúng ta đă chuẩn bị và sẵn sàng như năm cô trinh nữ khôn ngoan, th́ khi Chúa đến chúng ta sẽ không chết nhưng thực sự bắt đầu sống, v́ bấy giờ chúng ta được sinh ra cho cuộc sống mới, cuộc sống muôn đời. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết khử trừ tội lỗi trong tâm hồn và chất đầy trên đôi tay nhỏ bé những công việc sáng chói là những hành động bác ái yêu thương, để khi Chúa đến chúng con sẽ được Chúa đón nhận vào bàn tiệc Nước Trời. Amen. 8. Suy niệm của JKNCâu hỏi gợi ư: 1. Chúng ta là những người đang lữ hành tiến về Quê Trời, nhưng có bao giờ chúng ta đặt vấn đề về điều kiện không có không được để về được Quê Trời là ǵ không? Nếu không có điều kiện cần thiết ấy th́ việc lữ hành vất vả của ta có ích lợi ǵ không? Vấn đề quan trọng như thế tại sao ta lại không quan tâm? 2. Nếu Thiên Chúa cho cả những người không có t́nh yêu, vẫn c̣n ích kỷ, ghen ghét, hận thù... vào Thiên Đàng, th́ Thiên Đàng ấy có hạnh phúc được không? Thiên đàng ấy có khác ǵ trần gian không? 3. Đức tin hay t́nh yêu là «vé» để vào Nước Trời. Nhưng thứ đức tin không việc làm, chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, thứ t́nh yêu không cụ thể, chỉ nói ngoài môi miệng, có thể dùng làm «vé» vào Nước Trời được không? Tại sao? Suy tư gợi ư: 1. Mô tả lại dụ ngôn Theo phong tục của các dân tộc, khi cô dâu về nhà chồng, cô thường kêu thêm những cô gái đồng trang lứa làm phù dâu, để cùng tiễn đưa cô về nhà chồng cho có bạn. Theo phong tục Do Thái, những cô phù dâu này ngoài việc trang điểm và mặc quần áo đẹp c̣n phải mang theo đèn, v́ chàng rể thường đến đón dâu vào buổi tối, là đầu ngày (ngày của Do Thái bắt đầu từ 6 giờ tối). Các cô phù dâu sẽ cùng cô dâu đi về nhà chồng để dự tiệc cưới. Khi chàng rể đến, các cô sẽ cầm đèn thắp sáng trong suốt hành tŕnh đi đến chỗ dự tiệc. V́ thế, đúng ra các cô hễ đă mang đèn th́ phải lo liệu mang dầu đi. Khi nghe báo tin chàng rể đến, mấy cô không đem theo dầu mới khám phá ra đèn ḿnh không có dầu, và phải ra tiệm mua dầu. Trong khi các cô ra đi th́ chàng rể đến, năm cô đă sẵn sàng theo chú rể đi dự tiệc cưới. Khi các cô kia mua dầu về th́ đă quá trễ. Các cô tới chỗ dự tiệc th́ cửa đă đóng, không vào được nữa. Sự thường mà nói, mấy cô này quả thật là khờ dại: chỉ v́ không biết lo liệu mà lỡ chuyện của ḿnh. Công trang điểm, mặc quần áo đẹp, chờ đợi... trở thành «công cốc»! 2. Ư nghĩa dụ ngôn Dụ ngôn trên là một minh họa nói về những người đang thực hiện một mục đích nào đó, nhưng không hề ư thức về những ǵ mà mục đích ấy đ̣i hỏi, nên cuối cùng trở thành «sôi hỏng bỏng không», «nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ». Dụ ngôn trên có khác ǵ chuyện một học sinh chuẩn bị đi thi mà không hề nghĩ tới chuyện phải chăm lo học hành, nên khi vào pḥng thi chẳng có một kiến thức nào trong bụng. Hay như một người chuẩn bị nấu cơm mà không hề nghĩ đến chuyện phải có gạo mới nấu được, chỉ biết lo t́m củi lửa, nồi nấu... để rồi tới lúc phải nấu th́ chẳng có gạo để nấu. Hay như người sắp lên máy bay để đi du hành mới khám phá ra ḿnh quên mua vé. Dụ ngôn hay các minh họa trên có thể áp dụng cho việc nên thánh hay cho cuộc lữ hành về Nước Trời của chúng ta. Rất nhiều Kitô hữu lúc nào cũng ngưỡng vọng về hạnh phúc đời sau, và thường cầu xin cho ḿnh được «ái mộ những sự trên trời» (Kinh Môi Khôi). Họ khá ư thức rằng ḿnh đang trên đường lữ hành về Quê Trời. Nhưng trong số những Kitô hữu ấy có được bao nhiêu người tự hỏi xem những điều kiện cốt yếu nhất để vào Nước Trời là ǵ, để rồi thực hiện cho bằng được những điều kiện ấy, hầu chắc chắn đạt được mục đích ḿnh nhắm tới? V́ quả thật, có biết bao Kitô hữu đang cố gắng thực hiện đủ mọi thứ chuyện chẳng đâu vào đâu hầu vào được Nước Trời, mà chuyện cốt yếu nhất để có thể vào đấy th́ lại chẳng làm! Họ có thể là những Kitô hữu được tiếng là đạo đức, v́ họ ngày nào cũng đi dự thánh lễ, sáng tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện, hội đoàn nào cũng tham gia, thậm chí họ bỏ cả bổn phận chính yếu nhất của ḿnh để thực hiện những điều ấy! V́ thế, rất có thể vào ngày phán xét họ sẽ bật ngửa v́ ngạc nhiên khi nghe Chúa phán: «Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7, 23). Để tránh t́nh trạng đáng tiếc này xảy ra cho ḿnh, chúng ta cần phải nắm thật vững những điều kiện cốt yếu không thể thiếu để vào Nước Trời là ǵ. 3. Nước Trời là một nơi hoàn toàn hạnh phúc chỉ dành cho những người biết yêu thương, sống vị tha Nước Trời hay Thiên Đàng được định nghĩa là một t́nh trạng vĩnh cửu, hoàn toàn hạnh phúc, một nơi không c̣n đau khổ, được dành cho những người biết thật sự yêu thương: yêu Chúa thương người. Định nghĩa ấy rất hợp lư. Để hiểu sâu xa điều ấy, ta thử đặt vấn đề: khi về nơi lư tưởng ấy, liệu người ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với những người ích kỷ, không biết yêu thương không? Nếu những người trên thiên đàng vẫn c̣n ích kỷ, c̣n ác ư, c̣n lănh đạm, c̣n hẹp ḥi, c̣n hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, th́ họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời, không hề gây ra một chút đau khổ nào không? Chưa hoàn hảo, chưa đủ khả năng yêu thương mà đă vào Thiên Đàng th́ ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền - không vương chút đau khổ - của Thiên Đàng rồi, và biến Thiên Đàng trở thành một cái ǵ không c̣n là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đ̣i hỏi những người bước vào phải hoàn toàn vị tha, tràn đầy t́nh thương, sẵn sàng hy sinh cho tha nhân. Nếu c̣n chút ǵ là ích kỷ, ghen ghét, hận thù. .. th́ chưa thể vào được, và cần phải được thanh luyện ở luyện ngục cho đến khi nào trở nên hoàn toàn vị tha, tràn đầy t́nh yêu thương với mọi người mới vào được Nước Trời. 4. «Đức tin đắt giá» và «đức tin rẻ tiền» Theo Kinh Thánh, để vào được Nước Trời th́ phải là người công chính. Mà người công chính là người có đức tin, v́ «người ta được trở nên công chính nhờ đức tin» (Rm 3, 22); «Áp-ra-ham đă tin Thiên Chúa, và v́ thế được kể là người công chính» (4, 3). Chúng ta, những Kitô hữu, đều được coi là đă tin vào Thiên Chúa, vậy có phải chúng ta đều là những người công chính không? Thưa không chắc, v́ có hai loại đức tin. Theo thánh Gia-cô-bê th́ đó là «đức tin có việc làm» và «đức tin không việc làm». C̣n theo nhà thần học D. Bonhoeffer, th́ đó là «đức tin đắt giá» và «đức tin rẻ tiền». «Đức tin đắt giá» là đức tin được chứng tỏ bằng hành động, là đức tin có việc làm. Đây mới chính là đức tin đích thực, mới làm cho người ta nên công chính. Gọi là «đắt giá» là v́ để có được đức tin ấy, người ta phải trả một giá rất đắt là sự hy sinh bản thân, chấp nhận mất mát, không chỉ thời giờ, của cải hay những thứ ngoài ḿnh, mà thậm chí cả mạng sống, hay bản thân ḿnh nữa. C̣n «đức tin rẻ tiền» là đức tin không phải trả giá bằng hành động, bằng việc làm, bằng sự hy sinh. Đó là thứ đức tin chỉ được tuyên xưng ngoài miệng, có thể được tuyên xưng hết sức mạnh mẽ, có vẻ như đầy xác tín, nhưng lại không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể. Thánh Gia-cô-bê nói về hai loại đức tin này như sau: «Có đức tin mà không hành động theo đức tin, th́ nào có ích lợi ǵ? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,14.17). «Đức tin không có hành động là đức tin vô dụng» (2,20). Đức tin đích thực phải được thể hiện thành t́nh yêu, thành những hành động yêu thương. Ngay cả t́nh yêu cũng có hai loại: «t́nh yêu đắt giá» và «t́nh yêu rẻ tiền», nói cách khác: t́nh yêu có việc làm và t́nh yêu ngoài môi miệng. Thánh Gia-cô-bê cũng nói về thứ t́nh yêu đăi bôi: «Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hăy đi b́nh an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, th́ nào có ích lợi ǵ?» (Gc 2,15-16). Tóm lại, để vào được Nước Trời, chúng ta cần tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu Kitô, nhưng phải tin bằng thứ đức tin đích thực, được chứng tỏ bằng việc làm, tức thứ «đức tin đắt giá». Mà hễ đă là đức tin đích thực, tất nhiên nó sẽ phải được thể hiện thành t́nh yêu thương thật sự, bằng những hành động yêu thương cụ thể. Chính v́ thế, tới ngày phán xét cuối cùng, Thiên Chúa chỉ phán xét về t́nh yêu đích thực của ta đối với tha nhân mà thôi (x. Mt 25,31-46). V́ t́nh yêu đích thực hay t́nh yêu được trả giá đắt đó chứng tỏ một đức tin đích thực. Không ai có thể thật sự tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu mà lại sống không có t́nh thương. Tại sao? v́ kẻ tin Ngài th́ ắt phải giống như Ngài, mà Ngài, tự bản chất, chính là t́nh yêu (x. 1Ga 4,8.16a). Vậy cái «vé» cần thiết đến mức không có không được để vào Nước Trời chính là t́nh yêu đích thực. Không có t́nh yêu đích thực, chúng ta đừng mong vào được Nước Trời. Đó chính là «đèn có dầu» để chúng ta - những «cô phù dâu» - thắp sáng lên khi đón «chàng rể» - là Đức Kitô - vào «tiệc cưới Nước Trời». Cầu nguyện Lạy Cha, Cha chính là T́nh Yêu. V́ thế, để kết hiệp với Cha, con cũng phải là t́nh yêu, là hiện thân của t́nh yêu, đặc biệt giữa những người sống chung quanh con. Nếu con không thể hiệp nhất với họ bằng t́nh yêu, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Nếu những người cùng bản chất với con mà con không hiệp nhất với họ được, làm sao con có thể hiệp nhất với Cha được? Xin Cha hăy tăng cường t́nh yêu nơi con, để con hiệp nhất được với mọi người. Amen. 9. Cảnh giác và sẵn sàng đón Chúa - Lm Vũ Thái ḤaKhung cảnh lễ cưới trong dụ ngôn rất quen thuộc với thính giả của Chúa Giêsu: tại nhà cha mẹ ḿnh, cô dâu chờ chú rể đến rước để làm lễ chúc lành và ăn tiệc cưới tại nhà trai. Khi chú rể và đoàn phù rể kéo đến đón cô dâu, đoàn phù dâu sẽ ra đón rước với đèn, đuốc sáng. Sở dĩ đám cưới làm vào ban tối v́ ban ngày thời tiết rất oi bức. Trước đó, hai gia đ́nh thương lượng với nhau, về của hồi môn chẳng hạn. V́ thế, nhà gái có thể chờ lâu, có khi đến nửa đêm. Câu chuyện đám cưới tưởng sẽ diễn tiến tốt đẹp, không ngờ kết cuộc thật thảm hại, với những chi tiết rất khó tin: năm cô khôn ích kỷ không chịu chia sẻ dầu, bắt năm cô dại đi mua dầu lúc đêm khuya, về đến cửa pḥng tiệc đóng kín, và thái độ của chú rể đối với các cô đến chậm. Thực ra, đây chỉ là bài dụ ngôn, nên chúng ta phải t́m hiểu ư nghĩa tổng quát của nó. Để hiểu rơ hơn dụ ngôn hôm nay, chúng ta phải đặt dụ ngôn trong thời điểm Chúa Giêsu giảng dạy về ngày quang lâm của Người. Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự cần thiết của sự cảnh giác v́ không ai biết ngày nào, giờ nào Người sẽ trở lại để phát xét chung. Không phải được chọn cầm đèn ra đón chú rể là tự động được vào dự tiệc cưới, cũng như không phải chỉ xưng ḿnh là người Kitô hữu là được cứu rỗi! Giấy chứng chỉ rửa tội không phải là vé vào cửa miễn phí và tự động của Nước Trời đâu! Trong dụ ngôn có năm trinh nữ được khen là khôn, không phải do sự khôn ngoan tự nhiên của ḿnh, nhưng v́ thông hiểu dự định của Thiên Chúa. C̣n năm cô kia bị chê là dại, không phải do sự đăng trí và sơ suất của ḿnh, nhưng do một thái độ tinh thần quên Chúa. Vấn đề quan trọng nhất là việc chú rể đến trễ. Qua dụ ngôn này, Chúa dạy chúng ta ư nghĩa của thời gian. Đó là một thử thách của đức tin. Sự cảnh giác và sẵn sàng là hai chữ quan trọng nhất trong dụ ngôn này. Chúng ta phải cảnh giác v́ Chúa Kitô sẽ đến lúc mà không ai ngờ tới. Mặc dù nói về sự trở lại của Chúa Kitô, dụ ngôn cũng cho chúng ta một bài học về lợi ích trước mắt và cụ thể, đó là giúp mỗi người chúng ta chuẩn bị cho cái chết của ḿnh. Tháng 11, tháng cầu cho các linh hồn, nhắc nhở chúng ta phải luôn chuẩn bị: sự chuẩn bị cần phải tích cực và cá nhân. - Chuẩn bị tích cực: được nhập vào đoàn rước chờ đợi hoặc mang đèn vẫn chưa đủ, mỗi người chúng ta cần phải tích trữ dầu, có nghĩa là phải luôn duy tŕ tinh thần và đức tin sống động, trong t́nh bác ái. Có như thế, sự chuẩn bị mới trọn vẹn. - Chuẩn bị cá nhân: ngày đó, chúng ta tưởng có thể nhờ cậy vào người khác. Không! Người khác có thể giúp chúng ta, nhưng họ không thể thay thế chúng ta được. Sự tương trợ là điều trọng yếu trong đời sống Kitô giáo, nhưng mỗi người có trách nhiệm riêng của ḿnh. Một số người cảm thấy khó chịu về tính ích kỷ của năm trinh nữ khôn ngoan. Họ không thể cho mượn dầu, v́ có nhiều điều chúng ta không thể cho mượn được, t́nh yêu chẳng hạn. Chúng ta không thể thay thế ḷng ước ao bằng đồ vật được! Chúa Giêsu nói: Thầy đă đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đă bùng lên! (Lc 12,49). Lửa t́nh yêu đó đă nung đốt chúng ta khi lănh nhận bí tích thánh tẩy. Nhưng sau đó, chúng ta có ǵn giữ cho ngọn lửa được sáng măi hay không? Câu kết luận của Chúa Giêsu Vậy anh em hăy canh thức, v́ anh em không biết ngày nào, giờ nào nhấn mạnh ư nghĩa của dụ ngôn. Sự mong đợi Chúa trở lại không phải là một thời gian trống rỗng nhưng là thời gian chuẩn bị tích cực. Lịch sử cứu độ vẫn tiếp diễn. Hăy tỉnh thức, hăy sẵn sàng! Đừng để lỡ ngày giờ đón rước Chúa Kitô khi Người trở lại, cũng như trong giờ sau hết của chúng ta. Chúng ta có hẹn với Chúa mọi lúc trong cuộc sống của chúng ta. Khi có chuyện vui, Chúa mời gọi chúng ta san sẻ niềm vui đó. Khi có chuyện buồn (bệnh tật, tang...), Chúa mời gọi chúng ta không sống khép kín, nhưng đến với những ai đang cùng chung hoàn cảnh. Họ cần được người khác hiểu, thông cảm, khuyến khích và song hành với họ. Như thế, trong mọi nơi và mọi lúc, chúng ta luôn cầm đèn sáng và làm chứng rằng Chúa Kitô là ánh sáng thế gian. 10. Để tránh việc “quá trễ”Dụ ngôn mười người trinh nữ mặc dầu rất phổ biến cũng là một trong những dụ ngôn khơi dậy nhiều biện giải thông thái nhất. Ở đây chúng ta giới hạn vào cách giải thích và vào một trong những suy tư rút từ truyền thống sống động của Giáo hội. Có phải Chúa dùng một việc thông thường làm căn bản cho dụ ngôn của Ngài hay không, một lễ cưới người ta có thể thấy luôn? Đúng, nhưng Ngài sắp đặt lại theo cách riêng để làm nổi bật điểm chính xác trong giáo huấn của Ngài: Mọi chi tiết trong dụ ngôn không tương ứng hẳn với cách cử hành các lễ người ta có thể thấy được, nhưng chúng được xếp đặt sao cho nổi bật sự cần thiết phải sẵn sàng để gặp gỡ Thiên Chúa. Bổn phận phải sẵn sàng có ư nghĩa ǵ và hậu quả ra sao? 1) Sẵn sàng có nghĩa là đă chuẩn bị đầy đủ. Nên lưu ư dụ ngôn không trách các cô đă ngủ, nhưng trách các cô đă không dự trù số dầu cho đủ. Các cô đă không chuẩn bị kỹ để ứng phó với t́nh thế. Áp dụng cho cuộc sống Kitô hữu, có thể nói việc chờ đợi Thiên Chúa (trong các ân huệ hàng ngày, hay khi Ngài đến ngày lâm tử) không đi đôi với sự chểnh mảng, nửa vời, đăng trí. Thiên Chúa luôn nhập bất thần vào cuộc đời chúng ta. Ngài đ̣i hỏi chúng ta phải giữ ḷng ngay luôn sẵn sàng tiếp đón Ngài. Người ta sẽ thiệt hại rất nhiều nếu thiếp ngủ quên đi 1 thiếu sót về bác ái, một lầm lỗi của lương tâm, một khiếm khuyết trung thành. Cụ thể điều này kêu gọi chúng ta hăy sống mỗi giây phút cuộc đời với quyết tâm hết sức chu toàn tất cả bổn phận. 2) Sẵn sàng có nghĩa là lănh trách nhiệm lo toan chứ không cậy dựa vào kẻ khác. Các cô khờ dại chắc có lẽ đă nghĩ, nếu thiếu dầu sẽ nhờ bạn các giúp. Trên b́nh diện Giáo hội, chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau, v́ t́nh liên đới nối kết chúng ta. Nhưng có một mức độ cá nhân ở đó chúng ta là những kẻ duy nhất mang trách nhiệm về ḿnh. Không ai có thể sớt cho chúng ta đức tin, đức cậy và đức mến mà chúng ta đă lơ là như các cô khôn ngoan ở vào hoàn cảnh không thể chia số dầu đem theo, không ai ở trong Giáo hội có thể san sẻ tương quan cá nhân riêng với Thiên Chúa. Sự trung thành của chúng ta đối với Thiên Chúa có thể được nâng đỡ nhiều trong việc các thánh thông công, nhưng các thánh không thể bổ khuyết trách nhiệm riêng của chúng ta. 3) Hậu quả những cố gắng trung thành của chúng ta rất lớn lao. Câu kết luận dụ ngôn thật đáng sợ: thật Ta nói cho các ngươi hay, Ta không biết các ngươi. Người ta vui mừng v́ các trinh nữ sẵn sàng được vào pḥng tiệc bao nhiêu, người ta lại sợ v́ các cô đến chậm bị loại bấy nhiêu. Như thế có một cái “quá trễ” đè nặng trên định mệnh nhân loại. Nó nằm ở chỗ nào? Đây là một mầu nhiệm bất khả thấu. Chúng ta biết ḷng nhân lành Chúa khôn cùng và dung thứ tự do nhân loại đến những giai đoạn cuối tận, nhưng có một lúc mọi sự đều chấm dứt. Chuẩn bị cho giờ phút mà chúng ta không biết, chúng ta cần sắp đặt sẵn sàng để đón tiếp Thiên Chúa tức thời, nếu Ngài đến tức thời và để chờ đợi Ngài nếu Ngài để chúng ta chờ đợi. Thiên Chúa đóng cửa không nhận con người sau những thiếu sót có hiểu biết và cố ư nào, chúng ta không cần phải tưởng tượng ra. Nhưng sự thực phải khiến chúng ta suy nghĩ. Điều ấy có thực.
|